TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
--------------------------------
LÊ THỊ HOA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHUẨN MỰC
NGỮ ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. PHẠM THỊ HÒA
Hà Nội – 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội 2, Ban Chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu
học đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt khóa học.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo – T.S. Phạm
Thị Hòa – ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo để giúp em hoàn thành tốt
khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Lê Thị Hoa
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ .................................................................. 10
1.1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ ...................................... 11
1.1.4. Vị trí và vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em ............ 11
1.1.4.1. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp ......................................................... 11
1.1.4.2. Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức....................... 12
1.1.4.3. Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện .......... 13
1.1.5. Nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực ngữ âm ............................................... 14
1.1.5.1. Hoàn thiện cơ quan phát âm ............................................................ 14
1.1.5.2. Rèn luyện khả năng nghe hiểu lời nói .............................................. 14
1.1.5.3. Rèn luyện khả năng phát âm ............................................................ 15
1.1.5.4. Hoàn thiện chuẩn mực chính âm...................................................... 16
1.1.5.5. Rèn luyện ngữ điệu của lời nói......................................................... 17
1.1.5.6. Sửa các lỗi phát âm của trẻ ............................................................. 18
1.1.6. Nội dung rèn chuẩn mực ngữ âm cho trẻ mẫu giáo nhỡ ...................... 18
1.2. Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của trẻ mầm non và nguyên nhân. .......... 20
1.2.1. Thực trạng sử dụng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ ........................... 20
1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng phát âm chƣa chuẩn của trẻ mẫu giáo nhỡ
ở trƣờng Cổ Loa ........................................................................................... 24
1.2.2.1. Nguyên nhân chủ quan .................................................................... 24
1.2.2.2. Nguyên nhân khách quan ................................................................. 25
1.3. Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................. 26
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC RÈN
CHUẨN MỰC NGỮ ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ TRONG TRƢỜNG
MẦM NON .................................................................................................. 27
2.1. Các biện pháp rèn chuẩn mực ngữ âm cho trẻ mẫu giáo nhỡ ................. 27
2.1.1. Biện pháp bắt chƣớc âm thanh ............................................................ 27
2.1.1.1. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp ..................................... 27
2.1.1.2. Giáo án minh họa ............................................................................ 30
với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Quá trình đổi mới bắt đầu từ mục tiêu,
nội dung đến phƣơng pháp và hình thức dạy học.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của Giáo dục Mầm non nói riêng và trong thực hiện nhiệm vụ cụ thể của hệ
thống giáo dục Quốc dân nói chung. Giáo dục Mầm non là nền tảng ban đầu
trong hệ thống Giáo dục Quốc dân có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ, từ đó góp phần giúp cho trẻ trở thành con ngƣời phát triển toàn
diện và đúng hƣớng.
Trong mục tiêu chung của Giáo dục Mầm non đã đặt ra nhiều kế
hoạch nhằm phát triển trẻ một cách toàn diện về mọi mặt: trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ, thể chất, ngôn ngữ… để trẻ sẵn sàng bƣớc vào bậc học phổ thông.
Nếu trẻ không đƣợc chăm sóc- giáo dục, không đƣợc tạo điều kiện để tiếp xúc
với môi trƣờng xã hội thì sẽ không thể hình thành và phát triển nhân cách cho
đứa trẻ đó đƣợc.
Cùng với đó, Giáo dục Mầm non không chỉ có nhiệm vụ phát triển
nhân cách cho trẻ mà còn đào tạo cho xã hội tƣơng lai một thế hệ trẻ có đầy
đủ các phẩm chất, năng lực trí tuệ, năng lực thể chất, phù hợp với xu thế ngày
càng phát triển của xã hội. Với ý nghĩa to lớn ấy, trong khi lựa chọn nội dung
đề tài nghiên cứu, chúng tôi không thể bỏ qua vai trò vô cùng quan trọng của
việc rèn luyện chuẩn mực ngữ âm cho trẻ.
1
V.I.Lê-nin đã nói: “Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất
của loài ngƣời”. Bằng cách nhìn nhận từ thực tế đời sống hằng ngày, chúng ta
thấy nếu không có ngôn ngữ thì đứa trẻ sẽ không thể phát triển thành ngƣời
một cách thực thụ, ngôn ngữ là phƣơng tiện để tƣ duy, là nền tảng cho sự phát
triển trí tuệ và các quá trình tâm lý ở ngƣời.
Trẻ Mầm non đang trong giai đoạn học nói, lứa tuổi Mẫu giáo Nhỡ là
Đây là cuốn giáo trình đầu tiên đề cập một cách toàn diện và có hệ thống các
vấn đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang đƣợc thực hiện trong các
lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nƣớc ta. Tác giả đƣa ra nhiệm vụ, nội dung của việc
dạy nghe và phát âm của trẻ thƣờng mắc phải. Các lỗi đó đƣợc trình bày lần
lƣợt theo cấu trúc của âm tiết: lỗi thanh điệu, âm chính, âm đầu, âm đệm, âm
cuối. Trong mỗi lỗi này, tác giả đều có đề cập đến nguyên nhân mắc lỗi ở trẻ,
qua đó, tác giả cũng đƣa ra một số trò chơi nhằm rèn luyện cách phát âm cho
trẻ.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn giáo trình “Phƣơng pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ Mầm non” (2006), Nxb Đại học Sƣ phạm cũng chú trọng tới
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non: Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng
Việt, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, dạy trẻ các mẫu câu
tiếng Việt, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, phát triển ngôn
ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo qua thơ và truyện để tạo tiền đề tốt cho trẻ
bƣớc vào lớp 1.
Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 2/2013 có bài “Mục tiêu phát triển
ngôn ngữ trong chƣơng trình giáo dục mầm non New Zeland”, Nguyễn Thị
Minh Thảo vụ Giáo dục Mầm non, dịch từ chƣơng trình Giáo dục mầm non
New Zeland. Bài viết đã đƣa ra 4 mục tiêu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ và
sự tiếp nối giữa trƣờng mầm non và trƣờng tiểu học.
3
“Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dƣới 6 tuổi” của tác giả
Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2005), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ ở các lứa tuổi.
“Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” của tác giả Nguyến Ánh Tuyết
đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi.
Ngoài ra còn rất nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập về vấn đề
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là: hoạt động rèn chuẩn mực ngữ âm
cho trẻ ở lứa tuổi Mẫu giáo Nhỡ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động rèn chuẩn mực ngữ âm cho trẻ ở lứa tuổi Mẫu giáo Nhỡ ở
trƣờng Mầm non Cổ Loa, xã Cổ Loa - huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có sử dụng một số phƣơng pháp:
- Phƣơng pháp quan sát
Đối với giáo viên: chúng tôi đã quan sát giáo viên trong việc tổ chức
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, các tiết đọc thơ, kể chuyện cho trẻ và kết
hợp với sự trao đổi về vốn kinh nghiệm để rèn chuẩn mực phát âm cho trẻ.
Đối với trẻ: chúng tôi đã quan sát quá trình hoạt động của trẻ trong khi thực
hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày, trong các tiết đọc thơ, kể chuyện, kết hợp trò
chuyện với trẻ để nắm đƣợc khả năng sử dụng ngôn ngữ và phát âm của trẻ.
- Phƣơng pháp điều tra
Mục đích điều tra: nhằm tìm hiểu về những lỗi phát âm của trẻ mẫu
giáo nhỡ và nguyên nhân dẫn đến những lỗi phát âm đó. Từ đó tìm ra biện
pháp khắc phục lỗi phát âm của trẻ một cách phù hợp.
Nội dung điều tra: điều tra thực trạng phát âm của trẻ mẫu giáo nhỡ,
đặc điểm phát âm của trẻ, của gia đình trẻ, địa phƣơng nơi trẻ sinh sống.
- Phƣơng pháp phân tích
5
Phân tích định tính: Là tìm ra những nội dung mà các tài liệu nghiên
cứu trƣớc đây đã đề cập đến, tìm ra những vấn đề có liên quan đến rèn chuẩn
mực phát âm cho trẻ và xác định vấn đề gì đƣợc giải quyết và những vấn đề gì
chƣa đƣợc giải quyết.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vài nét về chuẩn mực ngữ âm
Lời nói có hai mặt: âm thanh và ý nghĩa. Hai mặt này thống nhất, gắn
bó chặt chẽ với nhau. Ý nghĩa của lời nói đƣợc ngƣời khác hiểu đúng chỉ khi
âm thanh phát ra chính xác. Vì thế, rèn luyện chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ
là rất cần thiết. Chất lƣợng của âm thanh ngôn ngữ tốt sẽ là tiền đề của chất
lƣợng giao tiếp ngôn ngữ.
Chuẩn mực âm thanh lời nói: xuất phát từ thuật ngữ tiếng Nga:
Zvukovaia kultura rechi (một số giáo trình gọi là: Giáo dục văn hóa nói, luyện
phát âm cho trẻ… là không chính xác). Thuật ngữ này thể hiện cái văn hóa,
chuẩn mực về phƣơng diện ngữ âm của lời nói (kultura vừa có nghĩa là văn
hóa, vừa có nghĩa là chuẩn mực).
Xalaviova - một nhà sƣ phạm ngƣời Nga đã viết: «Trƣớc mắt nhà sƣ
phạm đặt ra nhiệm vụ giáo dục trẻ phát âm rõ ràng, đúng các âm trong các từ,
phát âm đúng các từ tƣơng ứng với các chuẩn mực ngữ âm tiếng Nga, giáo
dục phát âm rõ nét và giáo dục tính biểu cảm trong lời nói cho trẻ». Nhƣ vậy,
theo Xalaviova thì cần phải tập cho trẻ phát âm chính xác và biểu cảm. Có thể
hiểu đơn giản là giáo dục chuẩn mực ngữ âm bao gồm toàn bộ những công
việc cần làm để tạo ra chất lƣợng âm thanh ngôn ngữ. Bắt đầu từ việc phát
triển thính giác, hoàn thiện cơ quan phát âm đến việc luyện tai nghe, luyện
thở ngôn ngữ và phát âm theo chính âm, luyện ngữ điệu để có âm thanh lời
nói biểu cảm.
7
Giáo dục chuẩn mực âm thanh lời nói không tách rời các mặt nhiệm vụ
khác của phát triển lời nói: cung cấp vốn từ, luyện nói đúng các kiểu câu, phát
triển lời nói mạch lạc.
1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo nhỡ
khả năng nói của trẻ thì ngƣời lớn cần yêu cầu trẻ bày tỏ nguyện vọng của
mình bằng lời nói và giao tiếp thƣờng xuyên với trẻ.
Trẻ đến độ tuổi mẫu giáo đã nắm đƣợc một số từ vựng mà ngƣời lớn
cung cấp. Giai đoạn này, tâm lý của trẻ đặc biệt ở chỗ trẻ rất tò mò, ham tìm
hiểu, khám phá thế giới xung quanh, trẻ luôn hỏi ngƣời lớn những câu hỏi «Vì
sao?», «Tại sao?» trƣớc mọi sự vật, hiện tƣợng mới gặp lần đầu và yêu cầu
ngƣời lớn phải giải đáp thắc mắc. Cùng với đó, nhớ có sự trợ giúp đắc lực của
ngôn ngữ mà tƣ duy của trẻ mẫu giáo đã phát triển vƣợt bậc hơn so với trẻ ở
lứa tuổi nhà trẻ.
Tƣ duy của trẻ mẫu giáo phát triển nhờ cảm tính ngày càng nhạy bén,
trong quá trình giao tiếp với ngƣời lớn bằng phƣơng tiện ngôn ngữ, các hình
thức tƣ duy cũng đƣợc hoàn thiện dần, vốn hiểu biết của trẻ ngày càng mở
rộng. Sự phát triển tƣ duy của trẻ gắn chặt với sự phát triển của ngôn ngữ .
Tƣ duy trực quan hình tƣợng của trẻ mẫu giáo phát triển mạnh mẽ và
vƣợt trội hơn hẳn. Tuy nhiên, kiểu tƣ duy đó không đáp ứng đƣợc nhu cầu
nhận thức đang phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn. Vì vậy, xuất hiện
kiểu tƣ duy trực quan - hình tƣợng mới, đó là tƣ duy trực quan - sơ đồ. Kiểu
tƣ duy này vẫn giữ mãi tính chất hình tƣợng song bản thân hình tƣợng cũng
trở nên khác hơn trƣớc: hình tƣợng đã khác đi những chi tiết không quan
trọng, rƣờm rà nhƣng vẫn giữ lại những yếu tố đặc trƣng giúp cho trẻ phản
ánh sự vật một cách khái quát chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ.
Nhƣ vậy, đặc điểm tâm lý chung của trẻ mầm non đang đƣợc hình
thành và phát triển mạnh mẽ song lại chịu sự ảnh hƣởng sâu sắc của sự phát
triển ngôn ngữ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ của độ tuổi này góp phần thúc đẩy sự
9
phát triển ngôn ngữ và bƣơc đầu hình thành những yếu tố làm tiền đề xây
dựng nên nhân cách cho trẻ.
thì hệ thần kinh mang tính biến đổi, không ổn định nên các quá trình tâm lý
diễn ra không đầy đủ. Trẻ từ 4 - 6 tuổi, qua trình ức chế tích cực dần phát
triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận
động và phân biệt đƣợc các hiện tƣợng xung quanh. Hệ thần kinh có một tác
dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể để cải thiện tính không cân
bằng của quá trình thần kinh. Cần chú ý cân bằng và luân phiên giữa động và
tĩnh trong tổ chức các hoạt động vận động cho trẻ.
1.1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
Ở giai đoạn này, vốn từ của trẻ tăng nhanh, trẻ hiểu đƣợc nghĩa của từ
và dùng từ chính xác hơn. Trẻ cũng đã sử dụng nhiều mẫu câu đơn giản, dùng
câu ngữ pháp, có thể kể một số truyện ngắn theo tuần tự, logic, trẻ cũng có thể
kể chuyện theo tranh… Qua đó, điều kiện giao tiếp của trẻ đƣợc mở rộng hơn,
khả năng giao tiếp ngày càng đƣợc nâng cao.
Mặt âm thanh của lời nói cũng phát triển một cách nhanh chóng. Trẻ
lĩnh hội và phát âm đúng hầu hết các âm vị, phát âm rõ nét từng từ, từng câu
văn, hơn nữa, trẻ còn biết điều chỉnh tốc độ, cƣờng độ của giọng nói sao cho
phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
1.1.4. Vị trí và vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
1.1.4.1. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
Marx đã từng nói «Bản chất của con ngƣời là tổng hòa của các mối
quan hệ xã hội». Lênin viết «Con ngƣời muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng
đồng. Giao tiếp là một đặc trƣng quan trọng của con ngƣời. Ngôn ngữ là
phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất». Qua thực tế, ta nhận thấy,nhờ có ngôn
ngữ mà con ngƣời vƣợt xa hơn các loài động vật, có thể hiểu đƣợc nhau và
cùng nhau hành động vì mục đích chung, đó là sự phát triển của xã hội loài
ngƣời.
11
cho trẻ ở trƣờng mầm non thực hiện mục tiêu «trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ
đồng thời sử dụng nó nhƣ một công cụ để vui chơi, học tập và giao tiếp hàng
ngày.Ngôn ngữ đƣợc tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động ở mọi lúc,
mọi nơi». Nhƣ vậy, ngôn ngữ là vô cùng cần thiết cho tất cả các hoạt động và
ngƣợc lại, các hoạt động tạo điều kiện cho ngôn ngữ của trẻ phát triển.
1.1.4.3. Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm có sự phát triển về đạo đức,
chuẩn mực hành vi văn hóa, các quy tắc trong xã hội…Ngôn ngữ phát triển sẽ
giúp trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ có điều kiện học hỏi những gì
tốt đẹp ở cuộc sống thực tế gần gũi. Bằng cách sử dụng lời nói, cô giáo cũng
sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích, nêu gƣơng, thuyết phục trẻ, giáo dục
hành vi đạo đức cho trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong
các tác phẩm văn học: thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
đầu tiên mà ngƣời lớn đã cho trẻ tiếp xúc từ những ngày ấu thơ. Sự tác động
của lời nói nghệ thuật nhƣ một phƣơng tiện hữ hiệu để giáo dục thẩm mỹ cho
trẻ.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích,
có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn
cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho
trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp. Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận
thức đƣợc cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng
thêm bay bổng, trí tƣởng tƣợng càng phong phú, đồng thời trẻ càng yêu quý
cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp. Thông qua ngôn
ngữ văn học, trẻ cảm nhận đƣợc cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ,
cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống. Có thể khẳng định rằng ngôn
13
hay quát mắng của ngƣời lớn; phân biệt đƣợc âm sắc giọng nói của mẹ và
những ngƣời thân…
Luyện cho trẻ khả năng nghe đƣợc các âm vị và sớm phân biệt chúng.
Ví dụ: Tiếng bà khác với tiếng bé nhờ các âm vị a, e; tiếng bà khác với tiếng
gà nhờ âm vị b, g.
Luyện cho trẻ tri giác đƣợc tính biểu cảm của ngôn ngữ: sự âu yếm của
bà, của mẹ; sự giân dữ của ngƣời lớn; sự du dƣơng của một bản nhạc, một bài
hát ru… điều này chỉ đƣợc chứng minh bằng phản ứng phù hợp của trẻ (qua
nét mặt,ánh mắt, cử chỉ, vận động….).
Luyện khả năng nghe: Chú ý nghe, nghe cao độ, nghe từng âm vị, tri
giác tốc độ, nhịp độ lời nói… Cần đặt trẻ vào trong môi trƣờng âm thanh, trẻ
phải đƣợc nghe âm và âm thanh ngôn ngữ. Trẻ càng thu nhận đƣợc nhiều tín
hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì sự phát triển lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu.
Khả năng nghe tốt sẽ tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển.
1.1.5.3. Rèn luyện khả năng phát âm
Yêu cầu trẻ phải phát âm đúng tất cả các âm vị trong tiếng Việt dù nó
nằm ở vị trí nào (đầu, giữa hoặc cuối âm tiết).
Rèn luyện bộ máy phát âm: phát triển sự linh hoạt của lƣỡi, lƣỡi có thể
chuyển động, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác nhƣ: răng, môi,
ngạc… phát triển sự linh hoạt của môi (kéo môi về phía trƣớc, làm tròn môi,
giãn môi, mím môi, tạo khe hở giữa môi và răng,..) phát triển kỹ năng làm
cho hàm dƣới trong tƣ thế xác định phù hợp.
Chú ý rèn luyện thở ngôn ngữ: Luồng hơi từ phổi ra giúp cho sự cấu âm gọi là
thở ngôn ngữ. Thở ngôn ngữ khác thở bình thƣờng ở chỗ nó là thở có lí trí,
thở bình thƣờng là thở sinh lý. Thở lí trí giúp chúng ta điều khiển sự thở để
ngừng nghỉ khi nói, khi phát âm… Trẻ chƣa có khả năng điều chỉnh sự thở,
do vậy, điều chỉnh sự thở là hết sức cần thiết trong quá trình luyện phát âm.
15
Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ xác định phát âm của phƣơng ngữ
Hà Nội cần bổ sung thêm 3 âm: tr, s, r thì mới đầy đủ 22 phụ âm chuẩn. Mặc
dù vậy, cho đến nay vẫn chƣa có văn bản nào quy định nhân dân cả nƣớc phải
nói tiếng Hà Nội, vì thế nên vẫn xảy ra tình trạng khó hiểu nhau khi giao tiếp
giữa ngƣời dân giữa các vùng miền.
Giáo viên mầm non trƣớc hết phải nói đúng chính âm, sau đó luyện cho
trẻ nghe và nói theo chính âm, căn cứ vào đó làm mẫu cho trẻ phát âm theo
chính âm, khắc phục các lỗi do tiếng địa phƣơng gây ra.
1.1.5.5. Rèn luyện ngữ điệu của lời nói
Ngữ điệu là tổng hợp các phƣơng tiện biểu cảm của ngữ âm lời nói, bao
gồm: giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm (logic và ngữ pháp), âm sắc.
Rèn luyện ngữ điệu của lời nói cho trẻ giúp trẻ biết cách điều chỉnh hơi
thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của âm thanh ngôn ngữ về cƣờng độ, nhịp
điệu, tốc độ của lời nói. Rèn luyện cho trẻ sử dụng ngữ điệu để tạo nên sự
biểu cảm về phƣơng diện âm thanh lời nói.
Giai điệu: Nâng hoặc hạ giọng nói làm cho lời nói mang sắc thái khác
nhau (du dƣơng, mềm mại, êm ái, dứt khoát…) tránh lời nói đơn điệu (thay
đổi cả cao độ và trƣờng độ).
Tốc độ: nhanh hay chậm, phụ thuộc vào nội dung diễn đạt.
Nhịp điệu: Lời nói nhịp nhàng, tách bạch giữa các từ, âm tiết tạo nên sự
vận động khúc triết của dòng ngữ lƣu.
Trọng âm logic và ngữ pháp: làm cho lời nói đƣợc thể hiện nội dung
một cách chính xác bằng sự nhấn mạnh về phát âm trong lời nói.
Âm sắc của lời nói thể hiện tình cảm vui, buồn,…
17
bày một văn bản lên giọng, xuống giọng (hạ giọng), nhấn mạnh từ, kéo dài từ
khi phát âm để thể hiện hiểu biết tình cảm cũng nhƣ thái độ của ngƣời nói.
Giai đoạn này cần chú trọng phát triển khả năng nghe các âm tiết, phát
âm đúng tất cả các âm vị tiếng Việt trong các từ ngữ, các câu văn một cách
rành mạch, rõ ràng, tiếp tục rèn luyện kỹ năng điều chỉnh giọng nói với cƣờng
độ, tốc độ phù hợp với từng tình huống giao tiếp. Ý nghĩa của lời nói chỉ đƣợc
hiểu khi âm thanh phát ra chính xác. Trong việc học lời nói của trẻ thì cơ quan
thính giác đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó là cửa ngõ của âm thanh ngôn
ngữ. Việc luyện cho trẻ phát âm đúng các âm vị trong các kết hợp âm tiết – từ
- câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng Việt.
Dạy trẻ cách điều chỉnh hơi thở để tạo nên sự hợp lý của âm thanh. Ở
giai đoạn mẫu giáo bé sử dụng biện pháp bắt chƣớc, còn ở giai đoạn này
ngƣời ta thƣờng sử dụng biện pháp cho trẻ tập phát âm thông qua việc sử
dụng các bài tập - trò chơi. Tuần tự cho trẻ phát âm các âm vị trong tiếng
Việt. Các âm vị khó nhƣ tr, s, r, x, ch, l…phải chú ý tập cho trẻ ngay từ khi
trẻ 3 tuổi.
Với trẻ 4 - 5 tuổi, luyện phát âm các âm vị tiếng mẹ đẻ bao gồm các
công việc tuần tự thay đổi nhau:
+ Luyện các bộ phận của cơ quan phát âm: môi, lƣỡi, hàm…
Làm chính xác vận động của các cơ quan này bằng cách cho trẻ quan
sát ngƣời lớn phát âm để xác định đƣợc vị trí cũng nhƣ sự chuyển động của
các bộ phận khi phát âm từng từ riêng lẻ hay các vần, từ ghép rồi cho trẻ bắt
chƣớc theo. Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào cấu tạo bộ máy phát âm của
chúng, nếu trẻ phát âm sai nhiều thì cần thƣờng xuyên luyện tập để trẻ biết
điều khiển nhịp nhàng và chính xác cử động của bộ máy phát âm. Các từ phụ
thuộc vào sự chuyển động chính xác hay không và lực cử động của các cơ
quan phát âm. Có nhiều trẻ nói không rõ ràng, các từ ngữ phát âm đều bị mất
19