Cách thức triển khai ADSL - Pdf 44

Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

150
Chương 5:

TRIỂN KHAI ADSL

5.1 Tương tác của thiết bò đầu cuối trên các hệ thống DSL

5.1.1 Tín hiệu ngoài dải

Trường hợp POTS thông thường kết nối trực tiếp: Đây là trường hợp phổ biến khi
chưa có triển khai công nghệ DSL. Có thể có khả năng các thiết bò đầu cuối POTS phát
ra tín hiệu ở dải tần trên 200 kHz làm ảnh hưởng đến hoạt động của DSL trong tương lai.
Những tín hiệu ngoài dải từ các thiết bò đầu cuối của người sử dụng thứ nhất sẽ đến các
máy điện thoại của người sử dụng thứ hai qua xuyên kênh trên đường cáp nhiều đôi và
không nghe được do có tần số lớn hơn ngưỡng nghe được của tai người. Tương tự, những
tín hiệu ngoài dải từ các thiết bò đầu cuối của người sử dụng thứ nhất đến các thiết bò phi
thoại POTS của người sử dụng thứ hai qua xuyên kênh trên đường cáp nhiều đôi chắc
chắn không gây ra vấn đề gì.
Trường hợp POTS chấp nhận DSL kết nối trực tiếp:Trong trường hợp này các thiết
bò đầu cuối POTS của người sử dụng thứ hai có thêm các mạch lọc lọc các tần số trên
200 kHz để bảo đảm cho việc thực hiện các vòng truy nhập nội hạt cung cấp cả POTS
và DSL như người sử dụng thứ nhất.
Trường hợp POTS thông thường kết nối gián tiếp:Trong trường hợp này ứng dụng
của DSLlite và sử dụng các thiết bò đầu cuối bình thường cùng với các bộ lọc được thiết
kế đặc biệt với các yêu cầu tín hiệu ngoài dải để cùng tồn tại với các hệ thống DSL.
Những mạch lọc thông thấp ở đây có kích thước nhỏ gọn và được cung cấp cùng với các
đầu nối thích hợp để người sử dụng có thể nối dễ dàng đến các đường dây của các thiết
bò đầu cuối POTS sẵn có. Phương pháp này có ưu điểm là cho phép sử dụng các thiết bò
đầu cuối POTS trên cùng đường dây với DSL và chi phí phát sinh đều do người sử dụng

Trừ khi được kiểm soát bằng phương pháp nào đó, hiệu ứng tải này có thể tạo ra ảnh
hưởng làm giảm độ dài và khả năng cung cấp DSL hơn nhiều so với xuyên nhiễu của tín
hiệu ngoài dải từ các thiết bò đầu cuối POTS.

5.1.2 Đo thử đường dây từ xa

Trong thực tế, các cơ quan điều hành mạng thường xuyên thực hiện việc đo thử
các đường dây thuê bao như là một phần trong trách nhiệm của họ về chất lượng dòch vụ.
Có những thiết bò đặc biệt được đưa vào NTP (Network Termination Point) hay vào bộ
tách dòch vụ để hỗ trợ đo thử đường dây. Các thiết bò phục vụ đo thử trong các NTP hiện
tại khác nhau rất nhiều tùy theo mạng và đều có thể có những tác động bất lợi cho việc
thực hiện DSL. Tuỳ thuộc vào cách kiểm tra, đo thử đường dây được thực hiện mà có sự
ảnh hưởng tương ứng với việc thực hiện DSL. Ví dụ như ngắt mạch trong một thời gian
ngắn hay thay đổi trở kháng đường dây cũng có thể gây nên sự thay đổi mức tín hiệu.
Những bất lợi như vậy, nếu có sẽ khác nhau rất nhiều tuỳ theo mạng và phải được kiểm
tra dưới sự lưu ý của cơ quan điều hành mạng.

5.1.3 Ảnh hưởng của tín hiệu POTS lên các hệ thống DSL

Bên cạnh những tín hiệu ngoài dải không mong muốn được mô tả trước là nhiều
loại tín hiệu có trong các hệ thống POTS có khả năng gây nhiễu cho hoạt động của các
hệ thống DSL. Dù các tín hiệu này nằm ngoài các dải tần danh đònh của DSL nhưng biên
độ của chúng và các xung điện áp quá độ có thể làm cho các hệ thống DSL hoạt động
không chính xác trừ khi nó được lọc đúng đắn.
Tín hiệu báo LD (Loop Disconnecting) là kỹ thuật để báo hiệu chữ số quay thập
phân từ thiết bò đầu cuối tới tổng đài. Nó hoạt động bằng cách chèn một số ngắt mạch
thời gian ngắn (xung quay số) vào dòng vòng ổn đònh được vòng thuê bao thiết lập. Mặc
dù các xung quay số hoạt động ở tần số điển hình là 10 Hz là quá nhỏ so với dải tần
DSL nhưng các gai điện áp phát ra trong khi quay số lại rất cao do các mạch cảm kháng
được sử dụng trong nhiều loại tổng đài có thể gây ra hoạt động không chính xác cho các

đòi hỏi phải có sự đàm phán giữa các nhà cung cấp DSL và các nhà cung cấp dòch vụ
POTS và dòch vụ cảnh báo.

5.2 Tương tác của các hệ thống DSL lên POTS

5.2.1 Giải điều chế các tín hiệu DSL

Trừ khi được thiết kế kỹ lưỡng hầu hết các thiết bò đầu cuối là mục tiêu của nhiễu
từ các tín hiệu tần số cao trên đường dây như tín hiệu DSL. Đó là do hầu hết các thiết bò
đầu cuối hiện đại sử dụng các dụng cụ bán dẫn ở nhiều nơi trên đường truyền và chúng
có thể giải điều chế các tín hiệu tần số cao tạo ra các tín hiệu không mong muốn xuất
hiện ở dải tần âm thoại. Yêu cầu được cung cấp nguồn một chiều đúng cực bất kể cực
tính của mạch thuê bao vô tình đã bảo đảm hầu như tất cả các thiết bò đầu cuối POTS
đều có cầu diode ở phần giao tiếp đường dây làm tăng khả năng xảy ra giải điều chế. Để
tránh trường hợp hầu hết các thiết bò đầu cuối POTS giải điều chế các tín hiệu tần số cao
người ta thường lắp thêm một vài bộ lọc tương thích điện từ và điều này cung cấp bảo vệ
một phần tránh khỏi các tín hiệu DSL.

5.2.2 Xuyên kênh

Sự có mặt của các tín hiệu DSL trên đường dây thuê bao trở thành bình thường
khi người sử dụng thuê cả POTS và DSL trên cùng một đường dây. Tuy nhiên, có khả
năng một thuê bao chỉ thuê dòch vụ POTS lại nhận được một lượng tín hiệu DSL trên
đường dây của mình do hiện tượng xuyên kênh. Điều này xảy ra chủ yếu trên các đường
cáp nhiều đôi. Xuyên kênh trên cáp nhiều đôi là yếu tố chính đối với nhiễu giới hạn dung
lượng của các hệ thống DSL.

Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

153

có thêm thông tin về kỹ thuật của các hệ thống mạng cục bộ nhỏ để lựa chọn và xem
xét trước khi toàn bộ tương tác được đánh giá và lọc thích đáng.

5.4 Tương tác của các tín hiệu cảm ứng điện từ

Các tín hiệu ngoài dải không mong muốn phát ra bởi các thiết bò đầu cuối chỉ là
một nguồn nhiễu. Một nguồn nhiễu khác có thể còn quan trọng hơn, đó là các tín hiệu
điện từ cảm ứng trực tiếp vào đường dây điện thoại ở phía khách hàng. Cảm ứng này liên
quan đến hoạt động của các thiết bò trong gia đình như máy lạnh, tủ lạnh, máy rửa chén,
… gần dây điện thoại của người sử dụng. Hầu hết dây điện thoại của người sử dụng là
không có màn che và không cân bằng nên các tín hiệu xuyên nhiễu trên đường đi dây có
mức khá lớn hơn giới hạn tín hiệu ngoài dải cho phép của các thiết bò đầu cuối POTS.

Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

154 Hình 5.1 Căn nhà kinh dò

Hầu hết các nguồn gây ra cảm ứng điện từ về bản chất là ngẫu nhiên và đột xuất.
Đó chính là lý do tại sao trong thực tế không xảy ra các vấn đề cảm ứng điện từ đáng kể
với các dòch vụ điện thoại POTS. Các tín hiệu cảm ứng điện từ tác động nhiều hơn đến
truyền dẫn tín hiệu DSL và gây ra lỗi truyền dẫn nếu nó không được khắc phục thích
đáng.

5.5 Các bộ lọc

5.5.1 Bộ lọc tách dòch vụ POTS


R
và với các trở
kháng khác thì trắc âm sẽ tăng lên.
Hình 5.2 Sử dụng các bộ tách dòch vụ để tách tín hiệu POTS và DSL

Một vấn đề nữa cũng nảy sinh khi sử dụng các bộ lọc thông thấp này là khi có một
vài bộ lọc thông thấp được sử dụng trên cùng một vòng thuê bao. Với một vài sự kết hợp
thì tương tác giữa các bộ lọc có thể gây ra cộng hưởng trên dải tần thoại tạo ra kết quả
không mong muốn trên thoại ảnh hưởng tới trắc âm. Vấn đề này lại không xảy ra với các
thuê bao sử dụng một bộ lọc tách dòch vụ POTS.
Hình 5.3 Bộ tách dòch vụ không có khối chức năng DC-blocking

Mô hình sử dụng các bộ tách dòch vụ POTS/DSL. Ở mô hình này, một bộ tách dòch
vụ được lắp đặt ở tổng đài nội hạt và một bộ tách dòch vụ nữa được đặt ở phía người sử
dụng như minh hoạ ở hình 5.4. Chức năng tách dòch vụ bao gồm một bộ lọc thông cao
(HPF: High Pass Filter), một bộ lọc thông thấp (LPF: Low Pass Filter) và một khối chặn
DC (DC block)
Mô hình chuẩn cho bộ tách dòch vụ POTS/DSL được ETSI khuyến nghò như ở hình
5.4. Các bộ lọc thông cao luôn đi kèm với các modem DSL trong khi các tụ ngăn tần số
cao luôn đi kèm với các bộ lọc thông thấp. Ba khối chức năng này có thể phân bố và
thường được kết hợp với các phần tử mạng khác. Chẳng hạn như DC block có thể là một
khối chức năng độc lập hay cũng có thể là một phần của các mạch lọc HPF cũng như
LPF.
Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai


157
trong cùng chão cáp xác đònh tính tương hợp phổ của hệ thống DSL đó. Trong việc thiết
kế các hệ thống DSL vấn đề tương hợp phổ rất quan trọng do việc triển khai một đường
dây DSL mới phải không được ảnh hưởng xấu đến các đường dây và các dòch vụ có sẵn
trong cùng một chão cáp.

a. ISDN

Mật độ phổ năng lượng của tín hiệu ISDN được minh hoạ ở hình 5.6. Vì ISDN là
một hệ thống triệt tín hiệu dội đối xứng nên ta phải xét đến ảnh hưởng của tự xuyên kênh
(self near end crosstalk: SNEXT). Vì SNEXT bao trùm toàn bộ phổ tín hiệu ISDN nên có
thể xem nguồn xuyên kênh từ các đường dây ISDN sẽ lấn át tất cả các nguồn xuyên
kênh từ các đường dây DSL khác. Mặc dù tín hiệu HDSL cũng có phổ bao trùm phổ của
tín hiệu ISDN nhưng mật độ phổ công suất của nó lại nhỏ hơn nhiều do nó có cùng công
suất phát với tín hiệu ISDN mà dải tần lại rộng hơn.
Hình 5.6 Mật độ phổ năng lượng phát của tín hiệu ISDN 2B1Q

Xét trường hợp có 50 đôi cáp cỡ dây 26 AWG. Nếu chão cáp này có 1 đôi dây
dùng cho ISDN và 49 đôi dây còn trống thì cự ly đạt được của ISDN ở mức 6 dB, BER <
10
-7
là 20,5 kft trên dây cỡ AWG 26. Khi có thêm một đôi dây sử dụng ISDN thì cự ly này
giảm xuống còn 20 kft. Với 10 đôi dây thêm vào thì cự ly giảm còn 19,1 kft, 25 đôi dây thì
giảm còn 18,6 kft và khi cả 50 đôi dây đều được dùng cho ISDN thì cự ly của mỗi đôi dây
giảm còn 18 kft như minh hoạ ở hình 5.7.
Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

159
17 17.5 18 18.5 19 19.5 20 20.5
49 SNEXT
49 HDSL
49 SDSL
49 RADSL
Interferer
Distance (kft)

Hình 5.9 Cự ly của đường dây ISDN 160 kbps 2B1Q 26 AWG theo các xuyên kênh từ
các đường dây DSL khác nhau

Vì SNEXT bao trùm toàn bộ phổ của tín hiệu DSL với mật độ phổ năng lượng lớn
nhất nên trường hợp 49 đường dây khác đều là ISDN vẫn là trường cho cự ly đường dây
thuê bao ISDN ngắn nhất. Mật độ phổ công suất của HDSL nhỏ hơn ISDN nên xuyên
kênh của nó gây ra cho ISDN nhỏ hơn SNEXT của ISDN. Như vậy các đường dây DSL
khác sẽ không ảnh hưởng bằng chính các đường dây ISDN lên chúng với nhau.

b. HDSL

Cũng giống như ISDN, HDSL sử dụng hệ thống triệt tín hiệu dội đối xứng. Nếu
không có xuyên nhiễu trên đường dây thì việc thực hiện thu phát tín hiệu HDSL bò giới
hạn bởi việc thực hiện của bộ triệt tín hiệu dội. Hình 5.10 Phổ của tín hiệu HDSL cùng với 49 SNEXT

Giả sử dùng loại cáp 50 đôi 26 AWG có 49 đôi chưa sử dụng và một đôi truyền tín
hiệu HDSL ở mức 6 dB, BER < 10
-7

Distance (kft)

Hình 5.12 Cự ly của đường dây HDSL 2B1Q 26 AWG theo các xuyên kênh từ các
đường dây DSL khác nhau

Xét trường hợp có nhiều đường dây thuê bao số khác nhau trong cùng một chão
cáp: ISDN, SDSL và RADSL CAP chiều upstream và chiều xuống. Trong mỗi trường hợp
ta đều xét đến điều kiện xấu nhất là cả 49 đường dây còn lại đều có các tín hiệu DSL
khác. Hình 5.12 là so sánh tầm cự ly của đường dây thuê bao HDSL với 49 đường dây
còn lại truyền từng loại tín hiệu DSL khác nhau. Vì SNEXT bao trùm toàn bộ phổ của tín
hiệu DSL với mật độ phổ năng lượng lớn nhất nên trường hợp 49 đường dây khác đều là
HDSL vẫn là trường hợp cho cự ly đường dây thuê bao HDSL ngắn nhất. Như vậy các
đường dây DSL khác sẽ không ảnh hưởng bằng chính các đường dây HDSL lên chúng
với nhau do phổ của các tín hiệu DSL khác không chồng chập toàn bộ phổ của tín hiệu
HDSL.

Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

161
c. SDSL

SDSL cũng là hệ thống triệt tín hiệu dội nên bò gây nhiễu nhiều nhất bởi xuyên
kênh SNEXT và trên thực tế SNEXT lấn át tất cả các nguồn gây nhiễu xuyên kênh khác
đối với SDSL. Dải thông tín hiệu càng lớn thì mức SNEXT càng lớn. Tốc độ bit tỷ lệ thuận
với độ rộng dải thông nên tầm cự ly đường dây thuê bao SDSL sẽ giảm khi tăng dải
thông (và vì vậy cũng tăng tốc độ bit). Hình 5.13 minh hoạ phổ của tín hiệu SDSL CAP
và SDSL 2B1Q. Hình 5.14 minh hoạ tầm cự ly của các hệ thống SDSL giảm khi tốc độ bit

thay đổi nên dải thông của các kênh chiều upstream và downstream có thể thay đổi.
Trên hình 5.13 là dải thông cực đại cho mỗi chiều.
Hình 5.16 Phổ tín hiệu RADSL CAP của các kênh theo
chiều upstream và chiều xuống

Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

163
Vì RADSL CAP là hệ thống song công phân tần (FDD: frequency division
duplexing) nên trong chão cáp không xảy ra SNEXT. Tuy nhiên trong các hệ thống FDD
lại tồn tại SFEXT ở cả hai chiều upstream và downstream nhưng biên độ của SFEXT nhỏ
hơn nhiều so với NEXT. Khi RADSL CAP truyền trong chão cáp có pha trộn nhiều phiên
bản DSL khác nhau thì sẽ bò ảnh hưởng nhiều bởi NEXT từ các đường dây DSL khác
ngược chiều lại có phổ tín hiệu chồng lên theo cả chiều upstream và chiều xuống.
Hình 5.16 minh hoạ việc thực hiện tín hiệu chiều upstream của hệ thống RADSL
CAP với sự hiện diện của SFEXT và NEXT từ các đường dây DSL khác gồm ISDN,
HDSL, SDSL 784 kbps và T1 AMI. Vì sự chồng lấn phổ tần hoàn toàn mà NEXT từ HDSL
và SDSL giới hạn tầm cự ly của chiều upstream của RADSL CAP. Tầm cự ly của RADSL
CAP sẽ cực đại trong trường hợp SFEXT vì khi đó ảnh hưởng xuyên kênh là nhỏ nhất.
NEXT từ T1 AMI ảnh hưởng rất ít tới chiều upstream của RADSL CAP vì hầu hết năng
lượng của tín hiệu T1AMI đều tập trung quanh tần số 772 kHz và năng lượng tín hiệu
xuyên kênh từ đường truyền T1 AMI vào dải tần chiều upstream của RADSL CAP là
tương đối thấp. Sự hiện diện NEXT từ HDSL và SDSL làm giảm tầm cự ly của kênh chiều
upstream RADSL CAP tới gần 12 kft so với chiều upstream trong trường hợp SFEXT.

0 5 10 15 20 25 30
49 SDSL (784 kbps)

Interferer
Distance (kft)

Hình 5.18 Tầm cự ly của chiều downstream RADSL CAP 680 kbps khi có tác động
của NEXT từ các hệ thống DSL khác

Tóm lại, trường hợp thực hiện tốt nhất cho các hệ thống FDD như RADSL CAP là
toàn bộ chão cáp đều chỉ có các đường dây RADSL CAP. Khi đó không có NEXT và
SFEXT thì có biên độ xuyên kênh rất nhỏ.

e. ADSL DMT

Ở đây ta xét đến tính tương hợp phổ của các đường dây ADSL DMT dựa trên
phương pháp song công phân tần FDD. Tính tương hợp phổ của RADSL CAP và ADSL
DMT giống nhau ở chỗ chúng đều không có SNEXT, chúng đều có SFEXT và NEXT
đáng kể tác động từ các đường dây DSL khác trong cùng một chão cáp.
Cũng như RADSL CAP, ADSL DMT là một hệ thống có tốc độ bit thay đổi và dải
thông thực tế của các kênh theo chiều upstream và downstream phụ thuộc vào tốc độ bit
và mức độ xuyên kênh. Hình 5.14 cho thấy được dải thông sử dụng được lớn nhất theo
từng chiều upstream và downstream.
0 5 10 15 20 25 30
49 SDSL 784 kbps
49 HDSL NEXT
49 ISDN NEXT
49 T1 AMI
49 SFEXT
Interferer
Distance (kft)

Hình 5.19 Tương hợp phổ DMT chiều upstream với các hệ thống DSL khác

SDSL 784 kbps và SFEXT.
Cũng như với chiều upstream, SFEXT vẫn là trường hợp thuận tiện nhất. Tuy
nhiên, độ dài vòng thuê bao đạt được không bằng trường hợp upstream do dải tần tín
hiệu chiều downstream cao hơn nên suy hao lớn hơn so với tín hiệu chiều upstream.
Ngược lại với trường hợp của chiều upstream, T1 AMI trở thành nhân tố có mức nhiễu
xuyên kênh lớn nhất do năng lượng tính hiệu AMI tập trung lớn nhất trong dải tần
downstream của DMT. Tín hiệu HDSL có dải tần chồng chập với dải tần downstream của
DMT nhiều nhất nên là nhân tố có mức nhiễu xuyên kênh thứ hai. Xuyên kênh đầu gần
của ISDN và SDSL lên kênh downstream của DMT là nhỏ nhất. Tầm cự ly đường dây
thuê bao chênh lệch giữa trường hợp xấu nhất với tác nhân gây xuyên kênh T1 AMI so
với trường hợp tốt nhất với tác nhân xuyên kênh SFEXT là xấp xỉ 6 kft trong khi tầm cự ly
đường dây thuê bao chênh lệch giữa trường hợp tác nhân gây xuyên kênh HDSL so với
trường hợp tốt nhất với tác nhân xuyên kênh SFEXT là xấp xỉ 5 kft.
Tóm lại SDSL và HDSL là các tác nhân gây xuyên kênh lớn nhất cho chiều
upstream của ADSL DMT còn T1 AMI lại là các tác nhân gây xuyên kênh lớn nhất cho
chiều downstream của ADSL DMT. Trường hợp triển khai ADSL DMT tốt nhất là sử dụng
toàn bộ các đôi dây trong chão cáp cho ADSL DMT và khử bỏ toàn bộ xuyên kênh đầu
gần.
Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

166
f. Tương hợp phổ giữa RADSL CAP và ADSL DMT

Khi so sánh phổ tần tín hiệu của các kênh chiều upstream và downstream của
RADSL CAP với ADSL DMT thì thấy có một phần chồng chập không mong muốn giữa
kênh upstream RADSL CAP và kênh chiều downstream của ADSL DMT. Kết quả là khi
các hệ thống này được triển khai trên cùng một chão cáp thì chúng sẽ tạo xuyên kênh

chí không thực hiện được DSL. Chẳng hạn, công nghệ DSL sẽ không thực hiện được với
đường dây thuê bao có cuộn tải hay bò ảnh hưởng bởi các nhánh rẽ và độ dài đường dây.
Trước khi cố gắng cung cấp dòch vụ DSL cần phải đo thử để xác đònh đường dây có thể
dung nạp công nghệ DSL được không. Khả năng đánh giá đường dây thuê bao mà
không cần phái các kỹ thuật viên đến tổng đài nội hạt cũng như tận nơi thuê bao sẽ tiết
kiệm chi phí đáng kể cho nhà cung cấp dòch vụ.

Sự phát triển nhanh chóng các phiên bản dòch vụ DSL đòi hỏi mạnh mẽ khả năng
đo kiểm tự động để xử lý số lớn các đường dây cần đo thử khi sự gia tăng gấp đôi, gấp 4
số đường dây cần đo thử làm cho việc đo thử nhân công không theo kòp. Để tối ưu hoá
dòch vụ và lợi ích của nhà cung cấp dòch vụ, việc đánh giá chất lượng đường dây thuê bao
phải được tiến hành ở nhiều giai đoạn của việc cung cấp dòch vụ DSL. Việc đánh giá chất
lượng đường dây thuê bao cho việc cung cấp dòch vụ DSL phải qua nhiều giai đoạn gồm
giai đoạn trước khi hợp đồng cung cấp dòch vụ, giai đoạn trước khi lắp đặt, giai đoạn lắp
đặt và giai đoạn xác nhận lắp đặt cần thiết phải bổ sung thêm việc đo thử nhân công
ngoài việc đo thử tự động.

5.7.1 Đo thử trước hợp đồng

Đo thử trước hợp đồng (pre-sales testing) có thể được các tổng đài nhà nước thực
hiện trước khi đưa dòch vụ DSL đến khách hàng. Để tăng tối đa thu nhập của mình, đội
ngũ tiếp thò dòch vụ có thể đònh hướng khách hàng qua chất lượng đường dây thuê bao
được đo kiểm trước. Việc đo thử trước hợp đồng thường bao gồm: nghiên cứu vò trí đòa lý,
nghiên cứu hồ sơ cáp và kiểm tra cáp kim loại.

a. Nghiên cứu vò trí đòa lý

Nghiên cứu vò trí đòa lý bao gồm một bản đồ và một cây thước. Công việc này bao
gồm việc tìm kiếm các khách hàng nằm trong tầm 18 000 bộ kể từ tổng đài. Chỉ riêng
việc nghiên cứu vò trí đòa lý không đem lại hiệu quả nhiều, vì thường 70 đến 80 phần trăm

bao tới khách hàng cho tới khi được các ILEC cung cấp. Việc đo thử trước lắp đặt có thể
được thực hiện sau khi ILEC chuyển đường dây thuê bao cho CLEC. Nếu vòng thuê bao
không đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho tín hiệu DSL thì CLEC phải loại bỏ đường dây bằng
cách xin thêm một đường dây khác hay thông báo cho khách hàng là không thể thực
hiện cung cấp dòch vụ được. Việc đo thử trước lắp đặt có thể thực hiện ở một đầu hay hai
đầu. Đo thử một đầu cho phép đo thử từ các thiết bò đặt ở tổng đài. Đo thử hai đầu cần
phải thực hiện thêm ở phía vò trí thuê bao.

5.7.3 Đo thử khi lắp đặt

Một vài kiểu dòch vụ DSL cho phép khách hàng tự lắp đặt modem và các bộ lọc tín
hiệu trên đường dây. Khi khách hàng muốn tự lắp các thiết bò như vậy thì có thể thành
công hay thất bại. Khi không tự lắp đặt được thì khách hàng gọi để được khắc phục và
như vậy đường dây thuê bao phải được đo thử khi lắp đặt (installation testing).

5.7.4 Đo thử xác nhận sau khi lắp đặt (post-installation support testing)

Sau khi khách hàng đã có được dòch vụ DSL như mong muốn thì có nhiều yếu tố
ảnh hưởng tới dòch vụ và sự chấp nhận của khách hàng, ví dụ như:
- thời tiết mưa làm giảm tốc độ số liệu hay thậm chí ngăn cản dòch vụ,
- sự cố trên đường dây cáp kim loại ảnh hưởng tới dòch vụ,
- trong môi trường tồn tại cả ILEC và CLEC thì có khả năng ILEC đổi đường
dây thuê bao mà không thông báo trước,
- nhiễu cảm ứng làm cho tốc độ truyền số liệu trên đường dây thuê bao giảm
xuống,
- người hàng xóm của thuê bao có được dòch vụ với tốc độ tín hiệu nhanh
hơn làm khách hàng có ý nghó đường dây của mình đang ngày càng chậm
đi.
Hồ sơ của đường dây thuê bao đang đo thử rất cần thiết để cung cấp các phép đo
đúng đắn cho đường dây thuê bao. Việc ghi lại hồ sơ lúc tiến hành lắp đặt là cần thiết để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status