LVTS 2005 những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước qua thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----o0o-----

HÀN MẠNH THẮNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC
(QUA THỰC TIỄN CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
TRONG QUÂN ĐỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2005


2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----o0o-----

HÀN MẠNH THẮNG

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC
(QUA THỰC TIỄN CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
TRONG QUÂN ĐỘI)
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 6.01.05


Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước


4

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu

1

Chƣơng 1: Những vấn đề chung về cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nƣớc và cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nƣớc trong quân đội
1.1.

Khái
niệm
cổ
hoá.............................................................................

phần

6

1.2

Thực trạng pháp luật của Nhà nước về cổ phần hoá
doanh
nghiệp
nhà
nước

37

..........................................................................................

2.2
2.3
2.4

Thực trạng những quy định của Bộ Quốc phòng về cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội....................

50

Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam.....................................................................................................................

64

Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong
quân đội............................................................................................................

70

Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong quân đội......

90

3.4

Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật đối với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và
nâng cao hiệu quả cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước......

95

Kết luận

104

Tài liệu tham khảo

106

3.2.


6

MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nhiệm vụ đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN
được Đảng và Nhà nước thực sự quan tâm và đề ra nhiều chủ trương, chính sách

nhiệm của mình, dẫn đến các văn bản quy định về CPH còn gây ra nhiều khó
khăn, vướng mắc khi thực hiện đối với các DNNN trong quân đội. Việc soạn
thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện CPH còn nhiều bất cập như không phù
hợp hoặc không khả thi khi thực hiện, có văn bản không thể thực hiện được trong
quân đội; một số văn bản của BQP ban hành để thực hiện không phù hợp với quy
định chung của luật nhưng phù hợp với đặc thù của quân đội...
Những vướng mắc đó không chỉ ở cơ chế quản lý, ở tổ chức nhân sự, tài
chính doanh nghiệp, vốn góp khi tham gia cổ phần, chế độ, chính sách đối với
người lao động, trình tự CPH...mà còn ở cả các quy định của pháp luật khi áp
dụng đối với các DNNN trong quân đội.
Do có nhưng đặc thù trong công tác tổ chức, trong cơ chế quản lý, trong
sử dụng nguồn vốn và đất đai do nhà nước giao...nên khi tiến hành CPH, các DN
trong quân đội gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc và tiến độ cổ phần thường rất
chậm so với các DN bên ngoài quân đội.
Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý về CPH nói chung (thực tiễn
áp dụng trong quân đội nói riêng) để làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực
tiễn khi CPH một bộ phận DNNN trong quân đội là yêu cầu cấp thiết. Công trình
nghiên cứu khoa học này được thực hiện với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ trong việc đề xuất những cơ sở lý luận, thực tiễn và kiến nghị những giải
pháp nâng cao hiệu quả việc CPH DNNN trong quân đội trước yêu cầu hiện nay.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề CPH DNNN đang được sự quan tâm đặc biệt trong lý luận và thực
tiễn hiện nay ở nước ta, cho đến nay, vấn đề này đã được đề cập nghiên cứu xem
xét trên những nét chung nhất gắn liền với việc phân tích, luận giải những quan
điểm và nguyên tắc xây dựng. Trong hơn 10 năm qua đã có rất nhiều các văn bản
của Đảng, Nhà nước, cũng như BQP hướng dẫn triển khai thực hiện CPH
DNNN, đã có nhiều đề tài khoa học, luận án tiến sỹ, thạc sỹ, các bài viết đăng


8



9

b/ Nhiệm vụ của luận án :
- Nghiên cứu khái quát thực trạng CPH đối với DNNN nói chung và trong
quân đội góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, đối tượng CPH đối với
DNNN nói chung và trong quân đội nói riêng. Những đặc điểm và những yếu tố
tác động đến CPH đối với DNNN trong quân đội.
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật về CPH đối với DNNN.
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật về CPH đối với DNNN trong
quân đội. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này, qua đó tìm ra
được các nhược điểm, vướng mắc cần khắc phục.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số phương hướng,
giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc CPH đối với DNNN trong quân đội.
4- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a/ Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề pháp luật liên quan đến tiến trình CPH DNNN
trong quân đội (cơ sở lý luận, chủ trương, chính sách, tổ chức thực hiện, giải
quyết các vấn đề có liên quan đến người lao động, quyền sử dụng đất).
b/ Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống các vấn đề về CPH đối với DNNN nói chung và trong quân đội
rất rộng và là vấn đề còn chưa được nghiên cứu nhiều. Luận án tập trung thể hiện
và xác định những vấn đề cơ bản nhất của CPH đối với DNNN nói chung và
trong quân đội nói riêng. Đồng thời nghiên cứu những vấn đề cần sửa đổi, bổ
sung khi cổ phần hoá đối với DNNN trong quân đội thông qua việc tìm hiểu các
quy định của pháp luật, các hình thức hoạt động khác của nhà nước và thực tiễn
CPH các DNNN trong quân đội thời gian qua.
5- Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận của

Thế kỷ XX, cùng với thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và xã hội hoá
cao của lực lượng sản xuất, đã xuất hiện DNNN như một công cụ để Nhà nước
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong các nước tư bản phát triển, tỷ trọng sở hữu nhà
nước có khác nhau, có nước ít như Mỹ 2%, Anh 8%, Nhật 11%, có nước cao như
Italy 39-42% [ 13, tr.73 ]. Có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau song tất cả
các DNNN đều có điểm chung là hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, từ đầu thập
niêm 80, nhiều nước có nền kinh tế thị trường thường chọn tư nhân hoá như một
trong những giải pháp để khắc phục tình trạng này.
Hiểu một cách chung nhất, tư nhân hoá là quá trình chuyển sở hữu nhà
nước, chuyển lĩnh vực hoạt động của Nhà nước nắm giữ sang sở hữu tư nhân. Để
thực hiện quá trình này có thể sử dụng nhiều phương pháp như bán cho tư nhân,
cho không công nhân viên chức, sáp nhập, bán đấu giá... hoặc CPH.
Vậy CPH là gì? CPH (theo nghĩa chuyển thành CTCP) là việc chuyển bất
cứ loại hình DN nào thành CTCP, từ DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
đến DNNN hay hợp tác xã, là một hình thức chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.
Về bản chất của CPH, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho
rằng CPH là nhằm xác định chủ sở hữu cụ thể đối với DN. Có ý kiến khác cho
rằng, thực chất CPH là quá trình xã hội hoá sản xuất cả về lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, xét ở bản chất pháp lý, CPH là việc biến DN một
chủ thành DN của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang
sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của DN cho những người
khác. Những người này trở thành chủ sở hữu của DN theo tỷ lệ tài sản mà họ sở
hữu trong DN CPH. Xét dưới góc độ này thì CPH dẫn tới sự xuất hiện không chỉ
của công ty cổ phần trên nền tảng của DN được CPH. Bản chất của CPH không


12

phải lúc nào cũng được hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp
luật về CPH.


hiểu là việc chuyển DN thuộc sở hữu nhà nước thành sở hữu của các cổ đông
thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Quá trình này được tiến hành bằng
nhiều cách như: (1)giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước có tại DN; (2)phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển DN; (3)bán một phần giá tri hiện
có tại DN; (4) bán toàn bộ hoặc một phần giá trị hiện có của DN. Kết quả của
quá trình này luôn tạo ra một CTCP.
Có thể thấy, CPH chỉ là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng
cao hiệu quả DN (cải cách DNNN), tuy nhiên qua thực tế có thể thấy đây là giải
pháp phù hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đọan hiện nay.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, CPH là quá trình chuyển đổi mô hình
DNNN sang CTCP, là việc biến DN một chủ thành DN của nhiều chủ, tức là
chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển
một phần tài sản của DN cho những người khác. Những người này trở hành sở
hữu chủ của DN theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong DNCPH. Một DNNN sau
khi CPH sẽ không còn hoạt động theo luật DNNN mà chuyển sang loại hình
CTCP, chịu sự điều chỉnh của Luật DN.
Địa vị pháp lý của DN lúc này được xác lập theo các quy định của Luật
DN kéo theo toàn bộ các vấn đề có liên quan đến hoạt động của DN từ bản chất
pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý về thành lập, giải
thể, phá sản đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật này.
Dưới góc độ sở hữu, CPH là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước
sang hình thức sở hữu nhiều thành phần. Khi tiến hành CPH một DNNN, nghĩa
là nhà nước sẽ định giá lại toàn bộ vốn và tài sản của mình tại DN, rồi chia
chúng ra thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Những cổ phần đó sẽ được
bán cho người lao động của DN và các tổ chức cá nhân khác thuộc mọi thành
phần kinh tế. Nhà nước có thể bán toàn bộ hoặc giữ lại một số cổ phần nhất định
tại DN. Kết quả là DN không còn thuộc một chủ sở hữu duy nhất nữa mà thuộc
quyền sở hữu của rất nhiều thành phần kinh tế và hoạt động dưới hình thức
CTCP.

tỷ lệ lớn và đi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Theo định nghĩa về tư nhân hoá
được Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đưa ra, tư nhân


15

hoá là việc chuyển tài sản từ thành phần kinh tế công sang thành phần kinh tế tư
[15, tr.64].
Trong các giải pháp cải cách DNNN thì tư nhân hoá và CPH được áp dụng
phổ biến ở nhiều nước nhất. Giữa tư nhân hoá và CPH có những điểm chung rất
cơ bản. Chính vì vậy, nhiều quan điểm đến nay vẫn cho rằng CPH là một dạng tư
nhân hoá hay CPH là tư nhân hoá từng phần.
Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm của PGS.TS Lê Hồng Hạnh
cho rằng "tư nhân hoá là việc chuyển một phần các lực lượng sản xuất từ thành
phần kinh tế công vào tay tư nhân. Tư nhân hoá là đối cực của quốc hữu hoá.
Nếu tư nhân hoá chuyển tư liệu sản xuất từ thành phần kinh tế công vào tay tư
nhân thì quốc hữu hoá chuyển tư liệu sản xuất từ tư nhân vào tay Nhà nước" [
15, tr.46].
Điểm đặc trưng quan trọng của tư nhân hoá chính là việc chuyển hình
thức sở hữu, là chuyển tư liệu sản xuất vốn thuộc sở hữu công vào tay các tư
nhân, kết quả của nó là làm hình thành các DN tư nhân hoặc các CTCP. Các DN
này năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thị trường, nên
thuận lợi hơn trong quá trình hiện đại hoá nền kinh tế. Tuy nhiên, các DN này
chỉ quan tâm đến việc tối đa hoá lợi nhuận và vì lý do này, các DN tư nhân sẵn
sàng hy sinh các lợi ích kinh tế chung hoặc các nhu cầu công cộng khác. Dẫn đến
tình trạng phát triển không đồng đều giữa các ngành, các địa phương là hệ quả
tất yếu của việc chạy theo lợi nhuận.
Các DN tư nhân thường có quy mô nhỏ, nên không có những lợi thế trong
việc tiết kiệm được chi phí, có khả năng thực hiện những dự án lớn và những dự
án ở những lĩnh vực cần cho đời sống kinh tế-xã hội song có nhiều rủi ro, ít lợi


Được coi là một chính sách và Được coi là một giải pháp thực
mục tiêu của nó là hạn chế đến hiện.
mức tối đa thành phần kinh tế
công.
Được thực hiện với nhiều phương Chỉ được thực hiện thông qua việc
thức khác nhau, trong đó có cả DNNN tiến hành phát hành cổ
phương thức phi quốc hữu hoá, phần ra công chúng lần đầu.
tức lại trả lại cho chủ cũ những tài
sản đã bị quốc hữu hoá, kể cả toàn
bộ DN đang hoạt động.
Tư nhân hoá dẫn đến sự thay đổi CPH có tác dụng làm giảm sở hữu
hình thức sở hữu của các DNNN.

của nhà nước trong DNNN.


18

Với tư cách là một chính sách, tư Với tư cách là một giải pháp thực
nhân hoá tác động đến toàn bộ nền hiện chính sách này, CPH tác động
kinh tế.

chủ yếu đến các DNNN bị CPH.

Tư nhân hoá thường được tiến CPH được thực hiện trên cơ sở của
hành trên cơ sở của luật về tư nhân luật công ty hiện hành.
hoá do Chính phủ đề ra.
CPH, như đã phân tích, là một phương thức có điểm gần giống như của tư
nhân hoá. Tuy nhiên, khác với tư nhân hoá, CPH được coi là quá trình tư nhân

phát triển sản xuất, kinh doanh; vừa tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý
năng động, có hiệu quả cho DNNN vừa phát huy vai trò làm chủ thật sự của
người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với DN,
bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động.
1.3 Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam
và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc trong quân đội
1.3.1 Thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Ta đều biết, DNNN có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế, với
tiềm lực to lớn của nó, DNNN có thể tác động tới sự phát triển của nền kinh tế
theo những chiều hướng hoặc theo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc
gia trong từng giai đoạn cụ thể. Thúc đẩy và bảo đảm việc làm cũng là một trong
những vai trò quan trọng của DNNN, do nó có quy mô lớn nên số lượng lao
động làm việc trong đó thường đông hơn so với các DN khác; nó thường đảm
nhiệm những dự án lớn, có sự tham gia của lực lương lao động đông đảo vì
DNNN thường được thành lập để kinh doanh trong các lĩnh vực như xử lý dùng
hạ tầng, khai thác khoáng sản, vận chuyển hàng hoá và hành khách nên khả năng
thu hút lao động của chúng là rất lớn. DNNN được giao sứ mệnh trở thành hình
mẫu về hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mô hình giải quyết các vấn đề về an sinh
xã hội cho người lao động. Vai trò này của DNNN ở các nước xã hội chủ nghĩa
bắt nguồn từ quan niệm về tính chủ đạo của kinh tế nhà nước, theo đó DNNN
phải là hình mẫu của các DN khác xét ở nhiều tiêu chí: đóng góp cho ngân sách,
đóng góp cho GDP, công nghệ tiến tiến, quản lý hiện đại hiệu quả sản xuất kinh
doanh và lợi nhuận cao.


20

Trong thực tế, ở những thời điểm nhất định, DNNN ở các nước xã hội chủ
nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng đã thực hiện tốt được vai trò này. Tuy
nhiên, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nền kinh tế nước ta trong

Những hạn chế yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan, nhưng
chủ yếu là do những nguyên nhân chủ quan: chưa có sự thống nhất cao trong
nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế Nhà nước và DNNN, về yêu cầu và giải
pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều vấn đề
chưa rõ, còn ý kiến khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận.
Quản lý nhà nước đối với DNNN còn nhiều yếu kém, vướng mắc; cải cách hành
chính chậm. Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, còn nhiều điểm
chưa phù hợp với kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa tạo
động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và người lao động trong DN nâng cao năng
xuất lao động và hiệu quả kinh doanh; một bộ phận cán bộ DNNN chưa đáp ứng
yêu cầu về năng lực và phẩm chất. Sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo của Chính
phủ đối với việc đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN chưa tương xứng với
nhiệm vụ quan trọng và phức tạp này. Tổ chức và phương thức hoạt động của
Đảng tại DNNN chậm được đổi mới.
Theo số liệu của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, trong cả
nước, DNNN nắm giữ 85% tổng số vốn các DN trong nền kinh tế. Nhưng nhìn
chung hiệu quả kinh doanh vẫn còn thấp, trong số đó chỉ chưa đầy 50% DNNN
làm ăn có lãi, số DN làm ăn có lãi lâu chỉ chiếm gần 30%. Hàng năm, DNNN
nộp ngân sách chiếm 80%-85% tổng số thu, nhưng nếu trừ đi khấu hao cơ bản và
thuế gián thu thì DNNN chỉ đóng góp được trên 30% ngân sách Nhà nước. Đặc
biệt nếu tính đủ chi phí và tài sản cố định, quyền sử dụng đất theo giá thị trường
thì các DNNN hầu như không tạo ra được tài sản tích luỹ [ 8, tr.4 ].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên của DNNN mà chủ yếu là
do những hạn chế của nó trong nền kinh tế thị trường. Có thể nêu ra một vài hạn
chế sau:
Thứ nhất: Do ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
cao độ trong điều kiện chiến tranh kéo dài, của tư duy không đúng về mô hình xã
hội chủ nghĩa trước đây. Tư tưởng muốn xoá bỏ nền kinh tế tư nhân và kinh tế cá
thể, đồng nhất mục tiêu với phương tiện của công cuộc xây dựng CNXH, coi


mất một thời gian dài.


23

Ngoài ra, do không có quyền sở hữu tài sản mà Nhà nước giao cho DN
quản lý nên trong nhiều trường hợp các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt tài sản DNNN bị hạn chế. Cụ thể như trong vấn đề bán, thanh lý tài sản của
DN. Trong cơ chế thị trường, yêu cầu đổi mới trang thiết bị là thường xuyên, cho
nên đòi hỏi DN phải được chủ động trong việc thanh lý trang thiết bị được coi là
không phù hợp để đầu tư mua sắm trang thiết bị mới nhằm sản xuất ra sản phẩm
hoặc dịch vụ với chất lượng cao hơn, chi phí cho sản phẩm giảm và năng suất
cao.
Thứ tư: Thực trạng làm ăn kém hiệu quả của DNNN xuất phát từ yếu tố
sở hữu và quản lý. Từ lâu nay DNNN có chủ nhưng rất khó nói là đã có chủ đích
thực. Định nghĩa về DNNN trước đây theo Sắc lệnh số 104/SL ngày 1/1/1948,
DN quốc gia (nay là DNNN) là “một DN thuộc sở hữu Quốc gia và do Quốc gia
thành lập”. Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành
lập và giải thể DNNN tại Điều 1 cũng định nghĩa “DNNN là một tổ chức kinh
doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn với tư cách chủ sở hữu”. Hiện nay theo
quy định tại Điều 1 Luật DNNN (văn bản có hiệu lực cao nhất) thì “DNNN là tổ
chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động
kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội do
Nhà nước giao”. Như vậy, kể từ khi ra đời cho đến nay DNNN luôn được khẳng
định là DN của Nhà nước. Nhà nước đại diện cho toàn dân là chủ sở hữu đích
thực và duy nhất của DNNN. Nhưng trên thực tế, tính chất toàn dân của sở hữu
trong DNNN không thể hiện được nhiều. Do các hình thức cụ thể của sở hữu
toàn dân về mặt kinh tế không được xác định, nên hầu hết những người lao động
trong DNNN thờ ơ và xa cách đối với sở hữu toàn dân.
Điều này dẫn đến tình trạng người lao động thì lãnh đạm, thiếu trách

phòng.
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị 46/CT
ngày 28/4/1989 về bảo hộ và phát triển hàng sản xuất trong nước, trong đó cho
phép quân đội được sử dụng các trang thiết bị, nhà cửa, đất đai do quân đội đang
quản lý, không sử dụng cho quốc phòng để tăng gia sản xuất và làm kinh tế
nhằm giữ gìn tiềm lực công nghiệp quốc phòng, đóng góp cho ngân sách và cải
thiện đời sống cho bộ đội.


25

Trên cơ sở đó, Đảng uỷ Quân sự trung ương đã ra Nghị quyết số 33/NQĐUQSTW ngày 22/6/1989 về việc quân đội tăng gia sản xuất và làm kinh tế
nhằm giữ gìn tiềm lực công nghiệp quốc phòng. Để triển khai thực hiện nhiệm
vụ đó, BQP đã trình HĐBT ban hành Nghị định số 22/HĐ-BT ngày 03 tháng 3
năm 1989 thành lập Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và kinh tế.
Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Công nghiệp quốc
phòng và kinh tế được quy định bằng Quyết định số 131/QĐ-QP ngày 24/4/l989
của Bộ trưởng BQP. Sự ra đời của cơ quan này đánh dấu việc chuyển hoạt động
của các xí nghiệp quốc phòng từ cơ chế bao cấp sang sản xuất kinh doanh hạch
toán kinh tế.
Ngày 21 tháng 11 năm 1989, BQP đã có Chỉ thị số 298/CT-QP chỉ đạo
việc kiện toàn tổ chức và quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh của quân đội.
Trên cơ sở đó, các cấp đã triển khai việc sắp xếp lại các đơn vị kinh tế thành các
tổng công ty, công ty, xí nghiệp... cho phù hợp với tổ chức và cơ chế hoạt động
kinh tế dang được đổi mới. Đến cuối năm 1990, toàn quân có 10 Tổng công ty và
nhiều đơn vị kinh tế được tổ chức lại, lực lượng xây dựng kinh tế có khoảng
55.050 người [ 2, tr.3 ].
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thực hiện quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, BQP thực hiện chủ trương giao vốn cho các đơn vị kinh tế.
Việc giao vốn cho các đơn vị làm ăn kinh tế là bước ngoặt quan trọng để tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status