ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ PHƢƠNG THẢO
NH÷NG VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ §¶M B¶O AN TOµN LAO §éNG
CHO NG¦êI LAO §éNG Vµ THùC TIÔN THI HµNH
TRONG NGµNH X¢Y DùNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ PHƢƠNG THẢO
NH÷NG VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ §¶M B¶O AN TOµN LAO §éNG
CHO NG¦êI LAO §éNG Vµ THùC TIÔN THI HµNH
TRONG NGµNH X¢Y DùNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN XUÂN THU
HÀ NỘI - 2017
7. Bố cục luận văn ............................................................................................. 6
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO
AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG .................................. 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và đảm bảo an toàn lao
động cho ngƣời lao động ............................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm an toàn lao động ............................................................. 7
1.1.2. Sự cần thiết của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động .. 10
1.1.3. Những yêu cầu cơ bản của việc đảm bảo an toàn lao động cho
người lao động ......................................................................................... 14
1.1.4. Những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động cho người lao
động ........................................................................................................... 17
1.2. Khái niệm, nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho
ngƣời lao động ............................................................................................ 20
1.2.1. Khái niệm pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao
động .......................................................................................................... 20
1.2.2. Nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động.. 22
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 28
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
BẢO ĐẢM AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TRONG NGÀNH XÂY DỰNG ...................... 29
2.1. Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn lao
động cho ngƣời lao động ........................................................................... 29
2.1.1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan ............ 29
2.1.2. Quy định về các biện pháp phòng ngừa các yếu tố nguy hiểm, có
hại cho người lao động ............................................................................ 30
2.1.3. Quy định về biện pháp xử lý sự cố gây mất an toàn tại nơi làm việc
và tai nạn lao động ................................................................................... 33
2.1.4. Quy định về đảm bảo an toàn lao động đối với các nhóm lao động
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ATLĐ:
An toàn lao động
BHLĐ:
Bảo hộ lao động
BLLĐ:
Bộ luật lao động
ILO:
Tổ chức Lao động quốc tế
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
Tổng số người chết do tan nạn lao động năm 2015
49
Hình 2.2:
Cơ cấu số vụ tai nạn lao động chết người chia theo
nguyên nhân (năm 2015)
59
Số hiệu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
ATLĐ luôn là một vấn đề được quan tâm ở mọi giai đoạn phát triển của
xã hội. Đảm bảo được ATLĐ chính là bảo toàn an toàn cho NLĐ. Quan điểm
“An toàn là trên hết” (safety first) không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động
của các doanh nghiệp mà còn là định hướng chiến lược cho Nhà nước khi xây
dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động. Tinh thần
coi con người là tài sản quý giá nhất cần được bảo vệ như Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì
công nhân là vốn quý nhất của xã hội. Chúng ta cần hết sức bảo vệ không để
xảy ra tai nạn lao động” xuất phát từ chính vị trí và vai trò của con người
trong xã hội, con người tạo nên xã hội và xã hội vận động, phát triển để phục
vụ cho nhu cầu của con người.
Để thể chế hóa những quan điểm này, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi nhận cho công dân nói
chung và NLĐ nói riêng quyền được làm việc, quyền được nghỉ ngơi, quyền
2. Tình hình nghiên cứu
Ở bất kỳ một giai đoạn phát triển nào của xã hội thì vấn đề ATLĐ luôn
là vấn đề được quan tâm hàng đầu, do vậy đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu chuyên sâu đã được thực hiện.
Ở cấp độ Luận án tiến sĩ luật học:
- Nghiên cứu sinh Trần Trọng Đào với đề tài “Pháp luật an toàn lao
động ở Việt Nam” đã nghiên cứu những quy định của pháp luật về ATLĐ nói
chung và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật.
Ở cấp độ Luận văn thạc sĩ luật học có thể kể đến một vài Luận văn tiêu
biểu như:
- Tác giả Đỗ Ngân Bình với để tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật an toàn vệ sinh lao động” năm 2001 có nội dung chính là khái
quát chung về pháp luật ATLĐ và giải pháp hoàn thiện mang tính tổ chức.
2
- Tác giả Lê Phương Thúy với đề tài “An toàn, vệ sinh lao động đối với
lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” có phạm vi nghiên cứu chủ
yếu là về những quy định ATLĐ đối với riêng lao động nữ.
- Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến với đề tài “Quản lý nhà nước trong lĩnh
vực an toàn vệ sinh lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” đã nghiên
cứu vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATVSLĐ theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
- Tác giả Bùi Thị Chuyên với đề tài “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước
ngoài và pháp luật Việt nam về an toàn vệ sinh lao động” đã nghiên cứu
những quy định của pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ trong mối tương quan
với pháp luật quốc tế và đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam trong lĩnh vực này.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu cấp quốc gia, khóa luận
ATLĐ trong phạm vi ngành xây dựng để tìm ra những kết quả đã đạt được
cũng như những vấn đề còn hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của tình
trạng đó. Trên cơ sở đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
- Khái quát những vấn đề lý luận về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ;
- Phân tích và đưa ra đánh giá về thực trạng quy định của pháp luật và
thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về đảm bảo ATLĐ trong ngành xây dựng;
- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đảm
bảo ATLĐ cho NLĐ, nâng cao hiệu quả thi hành trong ngành xây dựng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là:
- Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ.
- Thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về đảm bảo ATLĐ
cho NLĐ trong phạm vi ngành xây dựng.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp
luật lao động Việt Nam hiện hành trong đảm bảo ATLĐ cho NLĐ và thực
tiễn thi hành trong ngành xây dựng.
- Về phạm vi thời gian: nghiên cứu các quy định của pháp luật liên
quan đến việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ sau khi ban hành Bộ luật lao động
năm 2012 của Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp luận của
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an
toàn lao động cho người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng;
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp
luật về đảm bảo an toàn cho người lao động trong ngành xây dựng.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và đảm bảo an toàn
lao động cho ngƣời lao động
1.1.1. Khái niệm an toàn lao động
Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu vụ TNLĐ gây thiệt hại lên đến
hàng tỷ đô la và dẫn đến cái chết cho hàng nghìn người đồng thời khiến cho
rất nhiều người khác phải chịu cảnh thương tật vĩnh viễn, đó là hậu quả của
việc duy trì môi trường làm việc với điều kiện lao động thiếu an toàn. Tất
nhiên, tất cả những hậu quả đã nêu đều có thể được phòng ngừa thông qua
những chương trình hành động với mục tiêu xây dựng một môi trường làm
việc an toàn, lấy con người làm trung tâm, chú trọng đến phát triển bền vững.
Mang trên mình sứ mệnh bảo vệ NLĐ khỏi ốm đau, bệnh tật và những tổn
thương liên quan đến công việc, năm 1919 Tổ chức lao động quốc tế ILO
(International Labour Organization) được thành lập cùng nhiệm vụ làm tăng
cơ hội có việc làm tốt và có thu nhập cho NLĐ trong điều kiện tự do, công
bằng, an toàn và đảm bảo nhân phẩm. Xuất phát từ nhiệm vụ và sứ mệnh đã
đề ra, năm 1981 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 155 về
ATVSLĐ và môi trường lao động; năm 1993 ILO tiếp tục thông qua Công
ước số 174 về phòng ngừa những TNLĐ nghiêm trọng và đến năm 2001 ILO
đã ban hành: “Hướng dẫn về hệ thống quản lý ATLĐ”, đây là một công cụ hỗ
rủi ro từ việc làm của họ từ những yếu tốt bất lợi cho sức khỏe.
Xét tại một số quốc gia dẫn đầu trong việc nghiên cứu và áp dụng
những chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn tính mạng
cho NLĐ như: Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, cụ thề:
Luật ATVSLĐ của Mỹ (Occupational safety and Health Act of 1970)
không đưa ra định nghĩa ATVSLĐ mà định nghĩa về tiêu chuẩn ATVSLĐ.
8
Theo đó, tiêu chuẩn về ATVSLĐ là một tiêu chuẩn yêu cầu phải có điều kiện,
được thừa nhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương
pháp, các quy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công
việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh [29].
Tại Hàn Quốc, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa cụ thể
về ATLĐ hay VSLĐ mà trực tiếp đưa ra những quy định về BNN và
TNLĐ với mục đích duy trì và thúc đẩy môi trường làm việc an toàn cho
NLĐ thông qua việc xây dựng và đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn về
an toàn và sức khỏe nghề nghiệp [27]. Tại Nhật Bản, Luật An toàn và sức
khỏe công nghiệp và Luật Tiêu chuẩn Lao động là hai quy định chung lớn
nhất trong việc đảm bảo an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ, theo
đó quy định về TNLĐ được đưa ra cùng với hệ thống những tiêu chuẩn về
phòng ngừa những yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc, trách nhiệm của các
thành viên trong quan hệ lao động [28].
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật an toàn vệ sinh lao động năm
2015 của Việt Nam, “An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động
của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối
với con người trong quá trình lao động”. Với tư cách là luật chuyên ngành,
Luật an toàn vệ sinh lao động đã tiếp cận khái niệm “An toàn lao động” dưới
góc độ là một chế định pháp luật, là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy
lao động. Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động. Vì vậy lao động là sức chính
của sự tiến bộ của xã hội loài người” [18]. Hiểu một cách đơn giản thì lao
động hình thành nên xã hội loài người và xã hội loài người tồn tại, phát triển
là nhờ có lao động.
Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với sự ra đời của
hàng loạt máy móc, trang thiết bị lao động hiện đại, bên cạnh việc góp phần
làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của xã hội
thì kéo theo đó là sự phát sinh liên tục những hiểm họa, rủi ro đối với NLĐ
10
khiến cho NLĐ có thể dễ dàng bị TNLĐ. Theo Giám đốc Văn phòng ILO
Việt Nam, Tiến sĩ Chang – Hee Lee có phát biểu tại Lễ phát động Tháng an
toàn, vệ sinh lao động ngày 18 tháng 5 năm 2017: “Hàng năm trên thế giới có
khoảng 2,3 triệu người chết do TNLĐ và bệnh nghề nghiệp. Số vụ TNLĐ chết
người ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng chiếm tới 70% tổng số trên
toàn cầu. Không phải ở đâu xa xôi, những mối nguy hiểm này ở ngay xung
quanh chúng ta. Mỗi ngày, trên đường đi làm tôi đều đi qua một công trường
xây dựng lớn. Ở đó, nhiều công nhân đang mạo hiểm tính mạng khi làm việc
mà không sử dụng các phương tiện bảo hộ cá nhân đầy đủ. Tôi tin rằng các
quý vị ở đây cũng đều đã từng nhiều lần chứng kiến điều đó khi ngành xây
dựng là ngành có nhiều TNLĐ chết người nhất tại Việt Nam” [33]. Cụ thể với
những con số về số vụ TNLĐ tại Việt Nam theo báo cáo của các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương thì trong 06 tháng đầu năm 2017 trên cả nước đã
xảy là 4.388 vụ TNLĐ (TNLĐ) làm 4.461 người bị tai nạn, trong đó số người
chết là 418 người, số người bị thương nặng lên đến 843 người. So sánh với 06
tháng cuối năm 2016, trên cả nước có 4.307 vụ TNLĐ làm 4.474 người bị tai
nạn, 539 người chết và làm 1.098 người bị thương nặng ta có thể thấy sự biến
động của những con số như sau:
4.461
Giảm 0,29%
3
Số người chết
539
418
Giảm 22%
4
Số người bị thương nặng
1.098
843
Giảm 23%
(Nguồn: />
11
Có thể thấy năm 2017 đã ghi nhận những diễn biến tích cực trong công
và mục tiêu của sự phát triển do đó đảm bảo an toàn cho NLĐ là điều hiển
nhiên cần phải thực hiện.
Thứ hai, nếu như trước đây khi mà khoa học công nghệ chưa thực sự
phát triển, số vụ TNLĐ cũng không nhiều thì ngày nay TNLĐ lại là một vấn
đề nhức nhối, luôn có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính phức tạp. Do
vậy việc đảm bảo ATLĐ phải liên tục được duy trì nhằm kịp thời thích ứng và
hạn chế mọi rủi ro mới có thể phát sinh.
Thứ ba, trong phạm vi từng quốc gia thì việc đảm bảo ATLĐ còn
mang ý nghĩa chính trị khi mà công tác đảm bảo ATLĐ được thực hiện tốt
cũng thể hiện được sự quan tâm của mỗi Nhà nước đối với vấn đề đảm bảo
sức khỏe cho NLĐ, biểu hiện tinh thần vì cộng đồng, quan điểm quý trọng
con người của Bộ máy cầm quyền. Bên cạnh lợi ích chính trị đối với một
quốc gia thì ATLĐ cũng là một trong những yếu tố làm nên tên tuổi của một
doanh nghiệp. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế khi mà
thuật ngữ CSR - Corporate social responsibility đã trở nên phổ biến thì việc
thực hiện các chính sách xã hội của doanh nghiệp không chỉ còn là nghĩa vụ
của doanh nghiệp mà còn là tiêu chí để doanh nghiệp cạnh tranh tồn tại hay
không tồn tại trên thương trường quốc tế. Nếu một doanh nghiệp có số lượng
NLĐ bị TNLĐ quá lớn thì hình ảnh, uy tín của bản thân doanh nghiệp cũng sẽ
bị ảnh hưởng đáng kể và việc mất mát những đơn hàng hay khách hàng tiềm
năng là điều dễ dàng có thể xảy ra.
Thứ tư, việc đảm bảo ATLĐ cũng mang ý nghĩa xã hội khi mỗi NLĐ
đồng thời cũng chính là một thành viên của xã hội. Lúc này, đảm bảo ATLĐ,
chăm lo cho đời sống của NLĐ cũng chính là chăm lo cho sự phát triển của xã
hội. Mỗi cá nhân mạnh khỏe với kỹ năng nghề tương xứng sẽ góp phần tạo
nên sự phát triển bền vững của toàn xã hội.
13
NLĐ trong công tác đảm bảo ATLĐ là không thể thiếu. Nghĩa vụ của NLĐ
đối với công tác ATLĐ là chấp hành các quy định về ATLĐ liên quan đến
công việc; sử dụng và bảo quản phương tiện bảo hộ cá nhân; nghĩa vụ báo cáo
kịp thời khi phát hiện nguy cơ mất an toàn và tham gia cấp cứu, khắc phục
hậu quả TNLĐ.
NSDLĐ với tư cách là người thuê mướn, quản lý NLĐ phải tuân thủ
các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến ATLĐ như đảm bảo nơi làm việc đạt
yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc,…; thực hiện các biện
pháp loại trừ, giảm thiểu rủi ro, nguy hiểm thông qua việc kiểm tra đinh kỳ
và đánh giá rủi ro thường xuyên; đảm bảo an toàn máy móc, thiết bị, nhà
xưởng phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc những quy chuẩn
kỹ thuật khác đã được công bố; định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy móc,
thiết bị và nhà xưởng…
Nhà nước tham gia vào việc đảm bảo ATLĐ, thống nhất quản lý đối
với hoạt động này thông qua chức năng quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước
trong lĩnh vực ATLĐ là một bộ phận của quản lý nhà nước về lao động. Nhà
nước thực hiện quyền quản lý và vai trò của mình thông qua việc ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý về an toàn – vệ sinh lao động, đưa ra
những quy định về tiêu chuẩn trong lĩnh vực ATLĐ, đưa ra các quy định về
phương tiện BHLĐ cho NLĐ, quy định về khám sức khỏe định kỳ, chế độ bồi
dưỡng hiện vật, thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi và quy định về biện pháp
khắc phục, xử lý hậu quả TNLĐ; đưa ra quy định an toàn riêng đối với NLĐ
là nữ, lao động chưa thành niên, người khuyết tật và người cao tuổi…; tuyên
truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về an toàn, tiến hành thu thập, thống kê
các thông tin về những vụ việc TNLĐ nhằm nâng cao ý thức của NLĐ và giới
sử dụng lao động đối với công tác ATLĐ.
Tổ chức, đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về ATLĐ;
hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thiết lập các giải pháp ATLĐ cũng như là
đi vào hiện thực hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động huấn luyện,
trang bị kiến thức về ATLĐ cho NLĐ.
16
1.1.4. Những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động cho người
lao động
Thứ nhất, công tác đảm bảo ATLĐ phải được thực hiện một các đồng
bộ, thống nhất trên cả nước do vậy biện pháp đầu tiên cần được nhắc tới chính
là xây dựng chính sách, chương trình quốc gia và thiết lập hệ thống quy định
nhằm đảm bảo ATLĐ, đây có thể nói là biện pháp mang tính hệ thống, làm
kim chỉ nam cho hoạt động đảm bảo ATLĐ.
Tại mỗi quốc gia và đặc biệt đối với những quốc gia là thành viên
của Tổ chức lao động quốc tế ILO thì xây dựng chính sách, chương trình
hành động quốc gia và thiết lập hệ thống các quy định là nhiệm vụ đầu tiên
cần phải thực hiện.
Chính sách quốc gia về ATLĐ theo quy định tại Điều 3 Công ước ILO số
187 về cơ chế tăng cường công tác an toàn, vệ sinh lao động được xây dựng với
mục tiêu tăng cường môi trường làm việc an toàn và lành mạnh trên cơ sở tham
khảo ý kiến của các tổ chức đại diện của NSDLĐ và NLĐ góp phần tăng cường
và thúc đẩy quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ, tăng cường
các nguyên tắc cơ bản như đánh giá, phòng ngừa rủi ro, xây dựng văn hóa quốc
gia về ẢTLĐ thông qua các hoạt động thông tin, tư vấn và huấn luyện. Là một
thành viên của ILO đồng thời vào ngày 23/01/2014 cũng đã phê chuẩn và tham
gia Công ước số 187, khi xây dựng nên những quy định pháp luật về ATLĐ Việt
Nam đã ghi nhận nội dung về Chính sách của Nhà nước về ATLĐ ngay tại Điều
4 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Việc thực hiện chính sách quốc gia
sẽ được đưa vào thực thi trên thực tế đồng thời những chính sách này sẽ được
kiểm soát, đánh giá và xem xét thông qua việc xây dựng và thực hiện các