Luận văn thạc sĩ kết quả đánh giá phần a bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện việt nam tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên cả nước năm 2013 2015 - Pdf 44

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
_Toc492898968

Biểu đồ 3.1: Phân nhóm các bệnh viện theo khu vực địa lý .......................... 27
Biểu đồ 3.2: Phân nhóm các đối tượng nghiên cứu theo hạng bệnh viện ...... 27
Biểu đồ 3.3. Điểm trung bình của các bệnh viện phần A2.3 Người bệnh được
cung cấp vật dụng cá nhân đầy đủ, sạch sẽ, chất lượng tốt........ 39
Biểu đồ 3.4. Điểm trung bình của các bệnh viện phần A3.1 Người bệnh được
điều trị trong môi trường, cảnh quan xanh, sạch, đẹp................... 42


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đời sống của nhân dân ta càng ngày được nâng
cao. Người dân bây giờ không chỉ muốn ăn no mặc ấm, mà phải ăn ngon mặc đẹp.
Cùng với sự nâng cao chất lượng cuộc sống, người dân ngày càng chú trọng chăm
lo sức khỏe của bản thân và những người thân trong gia đình. Chính vì vậy, người
dân ngày càng yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ y tế. Mục đích cuối cùng của
nâng cao chất lượng dịch vụ y tế là đảm bảo đáp ứng được các quyền của người
bệnh đã được quy định trong Luật khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu của người
cung cấp dịch vụ.
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia thực hiện đánh giá và chứng nhận chất
lượng bệnh viện và các tổ chức chăm sóc sức khoẻ sớm nhất trên thế giới. Những
thập niên 90 có sự phát triển nhanh chóng với sự ra đời các tổ chức tiêu chuẩn và
thẩm định chất lượng bệnh viện tại các nước châu Âu, Úc, Mỹ và một số quốc gia
Châu Á, Phi. Trong số các nước Đông Nam Á, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan,
Philippine là những nước sớm đưa chương trình đánh giá và chứng nhận chất
lượng vào thực hiện đánh giá chất lượng bệnh viện theo các bộ tiêu chuẩn do tổ
chức đánh giá và chứng nhận chất lượng xây dựng, trong đó, các bộ tiêu chuẩn
và tổ chức thẩm định chất lượng của Malaysia,Úc và Anh là những quốc gia có

Bệnh viện Việt Nam” tại các Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên cả nước năm 2013 2015”. Với 2 mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả kết quả sau 3 năm thực hiện thí điểm Bộ Tiêu chí đánh giá chất
lượng bệnh viện Việt Nam trong phần A Hướng đến người bệnh tại các
Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên cả nước năm 2013 - 2015.
2. Xác định yếu tố liên quan đến kết quả triển khai đánh giá Phần A trong
Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện Việt Nam tại các Bệnh viện đa
khoa tuyến tỉnh trên cả nước năm 2013 - 2015.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm khám bệnh, chữa bệnh [4].
Theo Điều 2, Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23/11/2009:
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần
thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và
chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận. Chữa bệnh là việc sử
dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép
lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh.
1.1.2. Khái niệm bệnh viện [5]
Bệnh viện là nơi cung cấp các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo chức năng bảo vệ,
chăm sóc và tăng cường sức khỏe nhân dân. Thực hiện công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khỏe người bệnh.
Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội
ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tầng
để phục vụ người bệnh. Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một
phức hợp và một tổ chức động:
Một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm

điểm khác nhau của từng đối tượng.
Nếu dựa trên các quy trình, nhiệm vụ và kỳ vọng về kết quả thực hiện thì:
“Chất lượng không có một cách ngẫu nhiên mà là kết quả của ý định quyết
đoán, nỗ lực nghiêm túc, hướng đi thông minh và sự thực thi khéo léo”.
Chất lượng không xảy ra một cách tình cờ mà đòi hỏi phải được lập kế
hoạch, được nhắm tới và phấn đấu để thực hiện. Lập kế hoạch là việc làm quan
trọng để có được chất lượng. Xác định được đúng mục tiêu, mục đích đúng đắn và
các tiêu chí phù hợp là những điều cần thiết để có được chất lượng. Tất nhiên, nỗ
lực lập kế hoạch cần phải đi kèm với sự toàn tâm, sự cống hiến để thực hiện kế
hoạch và đạt được các mục tiêu đặt ra. Song tất cả những điều này sẽ không trọn
vẹn nếu không xem xét các khả năng và chiến lược khác nhau để lựa chọn và làm
theo. Đặt ra các ưu tiên và xác định được chiến lược quan trọng nhất là một nhiệm


5

vụ cần phải được hoàn thành để đáp ứng yêu cầu về chất lượng.
Hành động này phải được thực hiện với sự chính xác và với các kỹ năng cần
thiết để triển khai công việc một cách đúng đắn và có hiệu quả.
Dựa trên các nguyên tắc cơ bản của công tác lãnh đạo và quản lý thì:
“Chất lượng là làm việc đúng đắn ngay từ lần đầu tiên và làm điều đó tốt hơn trong
những lần tiếp theo”.
Chất lượng là sự cải thiện gia tăng
Đây là một định nghĩa khá đơn giản về chất lượng, thế nhưng lại khá rắc rối. Gia
tăng có nghĩa là hệ thống có thể trả lời khẳng định 2 câu hỏi sau đây:
Hôm nay bạn có tốt hơn hôm qua không? Và… Liệu ngày mai bạn có tốt
hơn hôm nay không?
Để trả lời các câu hỏi trên không đơn giản, muốn trả lời chính xác thì phải đo
lường một cách chính xác mức độ thực hiện nhiệm vụ của một ai đó trước đây, hiện
nay và tương lai. Vì vậy, đo lường mức độ thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng trong

lý. Chính điều này khiến định nghĩa của Ovretveit được WHO đưa áp dụng trong
bản hướng dẫn xây dựng chiến lược an toàn và chất lược trong sự tiếp cận hệ thống
y tế và định nghĩa này cũng được coi là phù hợp với cách tiếp cận trong việc đánh
giá chất lượng dịch vụ KCB của JAHR 2012 [10], [11], [12].
Có một định nghĩa do Viện Y học của Mỹ đúc kết, và được WHO cho là một
định nghĩa thiết thực trong đó chỉ rõ sáu lĩnh vực hoặc khía cạnh của chất lượng
dịch vụ y tế cần tác động đến để cải thiện chất lượng [1],[2]. Việc đánh giá dịch vụ
từ các khía cạnh này rất có ích nhằm xác định các biện pháp can thiệp để cải thiện
chất lượng dịch vụ một cách cơ bản. Các khía cạnh bao gồm:
Một là - An toàn, cung cấp dịch vụ y tế với sự giảm thiểu rủi ro và nguy hại
cho người sử dụng dịch vụ;
Hai là - Hiệu quả, cung cấp dịch vụ y tế dựa vào cơ sở bằng chứng và đem lại
các kết quả cải thiện sức khỏe cho các cá nhân và cộng đồng, dựa trên nhu cầu;
Ba là - Người bệnh là trung tâm, cung cấp dịch vụ y tế có tính đến sở thích và
nguyện vọng của người sử dụng dịch vụ cá nhân và các nền văn hóa của các cộng
đồng;
Bốn là - Kịp thời, dịch vụ y tế được cung cấp kịp thời, hợp lý về mặt địa lý, và
trong các cơ sởcó kỹ năng và nguồn lực phù hợp với yêu cầu y học;


7

Năm là - Hiệu suất, cung cấp dịch vụ y tếvới việc sử dụng nguồn lực có hiệu
quả tối đa và tránh lãng phí;
Sáu là - Công bằng, cung cấp dịch vụ y tế không có khác biệt về chất lượng
theo các đặc điểm cá nhân người bệnh như giới tính, chủng tộc, dân tộc, vị trí địa lý,
hoặc tình trạng kinh tế xã hội.
1.1.5. Khái niệm về quản lý và cải thiện chất lượng khám chữa bệnh
Trong các nghiên cứu và hoạt động thực tế về quản lý và cải thiện chất lượng
các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ ở hầu hết các lĩnh vực trong đó có y tế, người ta

1.2. Kinh nghiệm quản lý chất lượng khám chữa bệnh trên thế giới
1.2.1. Cơ sở pháp lý hoạt động quản lý chất lượng bệnh viện
Nhìn chung, trên thế giới hiện nay các nước áp dụng chiến lược quốc gia
về chất lượng dựa trên sự pha trộn giữa bắt buộc và tự nguyện về quản lý chất
lượng. Các chính sách, chiến lược, quy định về quản lý chất lượng được ban hành
dưới dạng Luật, Nghị định hay Thông tư hướng dẫn. Ví dụ một số quốc gia có
truyền thống và quan tâm đến quản lý chất lượng đã đưa vấn đề chất lượng cơ sở
y tế vào trong luật:
Ở Úc, năm 1993 trong Luật Bệnh viện và phòng khám xác định rõ quyền người
bệnh, vấn đề đánh giá chất lượng từ bên ngoài, hệ thống chất lượng nội bộ và uỷ ban
bảo đảm chất lượng [26].
Ở Pháp, năm 1984 đã đưa vào Luật yêu cầu Uỷ ban y khoa của bệnh viện phải
có báo cáo đánh giá chất lượng hàng năm. Năm 1991, Luật yêu cầu bệnh viện phải
có hệ thống chất lượng nội bộ. Năm 1996, Pháp lệnh yêu cầu cải tiến chất lượng bắt
buộc, đánh giá và chứng nhận chất lượng bệnh viện và khảo sát người bệnh ở tất cả
các bệnh viện công lập và ngoài công lập.
Ở Bỉ năm 1987, Ý năm 1986, Hà Lan năm 1981 Luật yêu cầu phải có Uỷ ban
chất lượng bệnh viện.
Ở Mỹ, năm 1986 Luật quy định cơ quan tài trợ liên bang, quy định bắt buộc
vấn đề bảo đảm chất lượng và hiệu quả chăm sóc bởi Medicare và Medicaid.
Thuỵ Điển, năm 1997 Luật Sức khoẻ và Dịch vụ khám, chữa bệnh yêu cầu tất
cả nhân viên phải cải tiến chất lượng có hệ thống, tự đánh giá, thực hành dựa
trên bằng chứng, quản lý rủi ro, đánh giá kết quả và cải thiện chất lượng liên tục.


9

Philippine, năm 1995, Luật yêu cầu tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT
phải tham gia chương trình bảo đảm chất lượng.
Một số quốc gia, Chính phủ ban hành chính sách riêng về chất lượng khám

Chương trình đảm bảo chất lượng ở Malaysia [13].
Chương trình đảm bảo chất lượng được Bộ Y tế Malaysia áp dụng lần đầu tiên
vào năm 1985. Được thử nghiệm ở 14 bệnh viện đa khoa Tỉnh và 12 bệnh viện
Huyện cỡ lớn để tiến hành đánh giá chất lượng với 12 chỉ số đánh giá vào năm
1986. Những năm sau đó, chương trình này đã được mở rộng ra tất cả các bệnh viện
trong cả nước và có thêm 9 chỉ số nữa được dùng để đánh giá chất lượng cho các
bệnh viện của Tỉnh và bệnh viện cỡ lớn ở Huyện. Như vậy đã cỏ sự quan tâm đến
việc đảm bảo chất lượng ở các bệnh viện khác nhau với các mức độ khác nhau.
Chương trình đảm bảo chất lượng lúc đầu được áp dụng ở tất cả các bộ phận của
Ban dịch vụ y tế, nhưng tới năm 1990 các Ban khác như: Ban sức khỏe, Ban dược lý.
Sau đó chương trình này được mở rộng ra ban Nha khoa và ban kỹ thuật y học.
Mục tiêu của chương trình đảm bảo chất lượng là đảm bảo cho người bệnh,
người nhà người bệnh và cộng đồng có thể được hưởng lợi ích cao nhất ở các dịch
vụ của Bộ Y tế với nguồn lực cho phép. Để đạt được mục tiêu của chương trình này
phải thiết kế một hệ thống theo dõi chất lượng của các dịch vụ CSSK để phát hiện
ra những thiếu sót về chất lượng trong bản kế hoạch đề ra, tìm ra nguyên nhân của
sự thiếu hụt đó, và đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện chất lượng.
Chương trình đảm bảo chất lượng trong CSSK, có 2 phương pháp đánh giá cơ
bản đã được thừa nhận:
- Những chỉ số y tế quốc gia (NIA: The National Indicator Approach)
- Những chỉ số riêng cho bệnh viện (HSA: The National Specific Approach)

Những chỉ số y tế quốc gia (NIA)
Với các chỉ số y tế quốc gia, những chỉ số phổ biến nhất được sử dụng để đánh
giá chấp lượng CSSK. Các chỉ số được quan tâm nhiều ở các khu vực khác nhau
được chọn làm chỉ số đánh giá chung cho hầu hết các bệnh viện. Với mỗi nhóm chỉ
số này, có một tiêu chuẩn chung được đặt ra để so sánh việc thực hiện của các bệnh
viện. Những bệnh viện mà không đạt tiêu chuẩn chung này thì sẽ phải tiến hành
điều tra để xác định những nhân tố hoặc lý do làm cản trở việc đảm bảo chất lượng.
Sau đó có các biện pháp khắc phục để những bệnh viện đó có thể sử dụng các chỉ số

viên y tế, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước.
Mục tiêu cụ thể của Bộ tiêu chí [3].
1. Cung cấp công cụ đánh giá thực trạng chất lượng bệnh viện Việt Nam.


12

2. Hỗ trợ cho các bệnh viện xác định được đang ở mức chất lượng nào để tiến
hành các hoạt động can thiệp nâng cao chất lượng bệnh viện.
3. Định hướng cho bệnh viện xác định vấn đề ưu tiên để cải tiến chất lượng.
4. Cung cấp tư liệu, căn cứ khoa học cho việc xếp loại chất lượng bệnh viện,
khen thưởng và thi đua.
5. Cung cấp tư liệu, căn cứ khoa học cho đầu tư, phát triển, quy hoạch bệnh viện.
1.3.1. Kết cấu các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện
Bộ tiêu chí bao gồm 83 tiêu chí, được chia làm 5 phần A, B, C, D, E:
- Phần A: Hướng đến người bệnh (19 tiêu chí)
- Phần B: Phát triển nguồn nhân lực (14 tiêu chí)
- Phần C: Hoạt động chuyên môn (38 tiêu chí)
- Phần D: Cải tiến chất lượng (8 tiêu chí)
- Phần E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa (4 tiêu chí)
Trong mỗi một phần được chia thành các mục, mỗi mục có một số tiêu chí nhất
định (mỗi mục có thể được xem xét như là một tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện).
Phần A: hướng tới người bệnh được chia làm 4 phần:
Phần A1: chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn, cấp cứu người bệnh
Tiêu chí A1.1: Người bệnh được chỉ dẫn rõ ràng, đón tiếp và hướng dẫn cụ
thể
Tiêu chí A1.2: Người bệnh được chờ đợi trong phòng đầy đủ tiện nghi và
được vận chuyển phù hợp với tình trạng bệnh tật.
Tiêu chí A1.3: Bệnh viện tiến hành cải tiến quy trình khám bệnh, đáp ứng sự
hài lòng người bệnh

bạch, chính xác
Tiêu chí A4.4: Người bệnh được hưởng lợi từ chủ trương xã hội hóa y tế.
Tiêu chí A4.5: Người bệnh có ý kiến phàn nàn, thắc mắc hoặc khen ngợi
được bệnh viện tiếp nhận, phản hồi, giải quyết kịp thời.
Tiêu chí A4.6: Bệnh viện thực hiện khảo sát, đánh giá sự hài lòng người
bệnh và tiến hành các biện pháp can thiệp
Kết cấu một tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện
Mỗi tiêu chí đề cập một vấn đề xác định, được xây dựng dựa trên năm bậc
thang chất lượng (năm mức độ đánh giá). Một tiêu chí xem xét các khía cạnh
toàn diện của một vấn đề và bao hàm các nội dung về yếu tố cấu trúc, yếu tố quy
trình thực hiện và kết quả đầu ra. Năm mức độ chất lượng như sau:


14

- Mức 1: Chất lượng kém
- Mức 2: Chất lượng trung bình
- Mức 3: Chất lượng khá
- Mức 4: Chất lượng tốt
- Mức 5: Chất lượng rất tốt
Phương pháp đánh giá tiêu chí.
Nguyên tắc chung đánh giá tiêu chí
1. Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 5 mức từ mức 1 đến mức 5.
2. Tiêu chí được xếp ở mức 1 nếu có bất kỳ một tiểu mục nào trong mức 1.
3. Tiêu chí được xếp ở mức 2, 3, 4, 5 nếu:
a. Không có tiểu mục nào trong mức 1.
b. Đạt được ĐẦY ĐỦ TOÀN BỘ các tiểu mục trong một mức.
Nguyên tắc chung đánh giá các tiểu mục của tiêu chí
1. Mỗi một tiểu mục của tiêu chí được đánh giá là “đạt” hoặc “không đạt”.
2. Một tiểu mục được đánh giá là “đạt” cần tuân thủ triệt để theo nguyên tắc:

đạt 3.02 điểm thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng. Tỉnh có kết quả thấp nhất cả
nước là Hậu Giang 2.02 điểm thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long [16]. * Lưu
ý: Kết quả trên có thể không phản ánh đúng kết quả trung bình các bệnh viện trong
tỉnh vì có nhiều tỉnh chỉ tiến hành đánh giá lại tại rất ít bệnh viện trực thuộc.
Từ kết quả tại báo cáo tổng kết giao ban KCB năm 2013 điểm trung bình phần
A chia theo hạng bệnh viện cho thấy kết quả của đoàn đánh giá luôn khắt khe hơn
và thấp hơn kết quả của bệnh viện tự đánh giá. Sau khi các đoàn đánh giá lại thì kết
quả điểm trung bình phần A của các bệnh viện hạng I là 3.05 điểm,giảm 0.1 điểm so
với các bệnh viện tự chấm. Tại các bệnh viện hạng II là 2.73 điểm giảm 0.19 điểm
so với bệnh viện tự chấm điểm, bệnh viện hạng III là 2.51 giảm 0.17 điểm. Bệnh
viện hạng IV là kết quả bệnh viện tự chấm bằng với kết quả của đoàn kiểm tra là
2.18 [18].
Kết quả kiểm tra phần A được chia theo tuyến bệnh viện kết quả của bệnh viện
tự đánh giá thì Bệnh viện Ngoài công lập điểm cao nhất cả nước và bệnh viện các
Bộ ngành điểm cao bằng các bệnh viện tuyến TW. Tuy nhiên sau khi đoàn kiểm tra
đánh giá lại thì kết quả có sự thay đổi. Bệnh viện tuyến TW có điểm chất lượng cao
nhất cả nước là 3.11 giảm 0.08 điểm so với kết quả của bệnh viện tự đánh giá; Bệnh


16

viện tuyến tỉnh điểm trung bình là 2.67 giảm 0.2 điểm so với kết quả của bệnh viện
tự đánh giá [18].
Các bệnh viện trên toàn quốc đã tiến hành kiểm tra, đánh giá bệnh viện năm
2014. Đến ngày 15/1/2015 đã có 1199 bệnh viện các tuyến hoàn thành việc tự đánh
giá chất lượng và nhập báo cáo trực tuyến, chiếm 87,6%; có 981 bệnh viện đã được
cơ quan quản lý đánh giá, chiếm 71,7%. Theo kết quả từ phần mềm thống kê trực
tuyến, tổng số có 29/63 Sở Y tế đã tổ chức đoàn đánh giá cho 100% bệnh viện trực
thuộc, có 19/63 Sở Y tế đánh giá được từ 50% đến 99% bệnh viện trực thuộc. Các
tỉnh đánh giá cho các bệnh viện trực thuộc dưới 50% là Cao Bằng, Phú Thọ, Bình

thăm dò chức năng trung bình
Khám lâm sàng có làm thêm 02 kỹ
thuật phối hợp cả xét nghiệm và chẩn
đoán hình ảnh hoặc xét nghiệm và thăm
dò chức năng
Khám lâm sàng có làm thêm 03 kỹ
thuật phối hợp cả xét nghiệm, chẩn
đoán hình ảnh và thăm dò chức năng
Trung bình giảm thời gian khám bệnh/
1 lượt khám so với trước cải tiến

2

3

4

5

Thời gian
khám
49,6 phút

Giảm so với
trước cải tiến
47 phút

Thời gian
quy định
< 2 giờ


Tỷ lệ BV đã thực hiện
5,3%

2
3
4
5
6
7
8

Kê thêm giường ghế
Xây dựng sửa chữa cơ sở vật chất
Mua sắm trang thiết Bệnh viện: đèn; quạt; chiếu,…
Mua máy xét nghiệm, KCB hiện đại
Ứng dung CNTT
Trang bị các thiết bị y tế cần thiết
Xây dựng khu nhà chờ có ghế ngồi
Xây dựng buồng khám, quầy khám phát thuốc, thu
tiền hợp lý
Cung cấp đủ thuốc và vật tư tiêu hao
Sử dụng bảng phát số tự động
Sử dụng phần mền kê đơn thuốc
Công khai bảng giá

25,3%
28%
22,6%
32%

chiếm 30,5% diện tích cả nước. Dân số >12 triệu (2006), chiếm 14,2% dân số cả
nước. Giáp Trung Quốc, Lào, liền kề khu vực ĐBSH, BTB và giáp vịnh Bắc Bộ.
Khu vực có vị trí địa lý đặc biệt và Giao thông vận tải phát triển đang được đầu tư
tạo điều kiện thuận lợi giao lưu với các khu vực khác trong nước và xây dựng nền
kinh tế mở. Có nhiều đặc điểm xã hội đặc biệt (thưa dân, nhiều dân tộc ít người, vẫn
còn nạn du canh du cư…).
- Bắc trung bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị,Thừa Thiên Huế. Diện tích: 51.500 km2, chiếm15,6 % diện tích cả nước.
Dân số: 10,6 triệu người, chiếm 12,7% dân số cả nước. BTB là khu vực lãnh thổ
kéo dài và hẹp ngang nhất nước, Tiếp giáp: ĐBSH, Trung du và miền núi BB, Lào
và Biển Đông, dãy núi Bạch Mã là ranh giới giữa BTB và NTB.
- Khu vực Đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh
Phúc, Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định,
Ninh Bình. Diện tích: 15.000 km2, chiếm 4,5% diện tích của cả nước. Dân số 18,2
triệu người (2006), chiếm 21,6% dân số cả nước. Là khu vực kinh tế trọng điểm
phía Bắc tạo động lực phát triển khu vực và các khu vực khác, dễ dàng giao lưu
kinh tế với các khu vực khác và với nước ngoài, gần các khu vực giàu tài nguyên.
- Khu vực Duyên hải nam trung bộ gồm 8 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Diện tích 4,4 nghìn km2 (13,4% diện tích cả nước). Dân số: 8,9 triệu người (10,5%
dân số cả nước), có 2 quần đảo xa bờ: Hoàng Sa, Trường Sa, tiếp giáp: BTB, Tây
Nguyên, ĐNB, biển Đông.
- Khu vực Tây Nguyên gồm có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk
Nông và Lâm Đồng. Diện tích: 54,7 nghìn km2 (16,5% diện tích cả nước). Dân số: 4,9


19

triệu người (5,8% dân số cả nước). Tiếp giáp: Duyên hải NTB, ĐNB, Campuchia và
Lào. Đây là khu vực duy nhất ở nước ta không giáp biển, thuận lợi giao lưu với các

Khu vực Đồng
bằng sông Hồng

Khu vực
Duyên hải
nam trung
bộ

Khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long

Khu vực
Đông nam bộ


21

Bản đồ 2.1: Bản đồ các khu vực nghiên cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn ĐTNC:
- Báo cáo của Các Bệnh viện đa khoa tỉnh trên cả nước.
- Báo cáo của Bệnh viện công lập.
- Báo cáo của các Bệnh viện triển khai thí điểm Bộ tiêu chí đầy đủ 3 năm
- Báo cáo có đủ kết quả đánh giá của đoàn kiểm tra cả 3 năm tiến hành nghiên

cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ ĐTNC:
- Báo cáo của Bệnh viện tư nhân.
- Báo cáo không gửi đầy đủ báo cáo của 3 năm triển khai thí điểm Bộ tiêu chí.
- Báo cáo không đủ kết quả của đoàn đánh giá trong 3 năm.


Gồm các Tiêu
chí: A2.1; A2.2;
A2.3; A2.4; A2.5.

Gồm các Tiêu
chí:A3.1;
A3.2.

Phần A1. Chỉ dẫn,

Phần

A2:

Môi trường
chăm sóc NB

Phần A4 A4. Quyền

và lợi ích của NB
Gồm các Tiêu chí:
A4.1. A4.2. A4.3.
A4.4.; A4.5; A4.6.


22

Kết cấu một tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.


nguyên tắc: “hoặc không, hoặc tất cả”.
- Phạm vi thời gian đánh giá của mỗi tiêu chí được tính mốc trong 1
năm nếu tiểu mục không có các yêu cầu cụ thể về mặt thời gian (từ 1/10 năm
trước đến 30/9 năm sau); hoặc tính từ ngày 1/10 của năm trước đến thời điểm
đánh giá. Ví dụ tiêu chí mỗi người một giường, nếu có bất kỳ 1 giường bệnh
có hiện tượng nằm ghép 3 người trong khoảng thời gian từ 1/10 năm trước
đến 30/9 năm sau thì xếp tiêu chí này ở mức 1.


23

- Các tiểu mục cần phỏng vấn ý kiến của nhân viên y tế/người bệnh
được đánh giá là đạt nếu khảo sát/phỏng vấn 7 người và có từ 5/7 người trở
lên trả lời đồng ý hoặc phỏng vấn 9 người và có trên 7/9 người đồng ý.
Phương thức đanh giá các tiểu mục của tiêu chí:
- Quan sát thực trạng, theo dõi hoạt động.
- Tra cứu sổ sách, máy tính, văn bản, nhật ký, tài liệu, số liệu…
- Kiểm tra, phỏng vấn nhanh nhân viên y tế/người bệnh/người nhà
người bệnh.
Phương thức tính điểm cho một tiêu chí:
1. Tiêu chí được đánh giá đạt mức nào được tính điểm tương ứng với
mức đó (dao động từ 1 đến 5 điểm).
2. Điểm đánh giá tiêu chí của các nhóm vấn đề quan trọng, ưu tiên cải
tiến hiện nay được nhân với các hệ số 1,5 hoặc hệ số 2. Cục trưởng Cục Quản
lý Khám, chữa bệnh sẽ quyết định cụ thể hệ số áp dụng cho các nhóm tiêu
chí.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng số liệu sẵn có (số liệu thứ cấp).
2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu

Tây Nguyên

6

Đông Nam Bộ

15

ĐBSCL

23
Tổng

96

2.4.3. Biến số nghiên cứu
Bảng 2.2. Biến số nghiên cứu
Tên biến

STT

Chỉ số

Công cụ
thu thập

I .Thông tin chung
1

Khu vực kinh tế


Kết quả
trực
tuyến tại
phần mền
quản lý
bệnh viện

bình trong 3 năm và trung bình cả
3 năm

II. Đánh giá kết quả 3 năm triển khai bộ tiêu chí.
A.Phần hướng đến người bệnh
1

Chỉ dẫn, đón tiếp, hướng Điểm TB 3 năm và điểm trung Kết
dẫn, cấp cứu người bệnh bình từng năm phân theo hạng trực

quả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status