Đánh giá kết quả ngắn hạn can thiệp nội mạch tầng chậu – đùi ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính do xơ vữa tại viện tim mạch từ năm 2016 đến năm 2017 - Pdf 44

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là tình trạng hẹp hoặc tắc
hoàn toàn lòng động mạch (ĐM) của chi dưới kéo dài, dẫn đến giảm lượng máu tới
cho các mô mà động mạch chi phối [1]. Đây là bệnh lý mạch máu hay gặp ở chi
dưới và nguyên nhân thường là do xơ vữa ĐM. Bệnh gặp tỷ lệ khá cao trong cộng
đồng, theo nghiên cứu của Framingham tỷ lệ hàng năm là 26/10.000 ở nam và
12/10.000 ở nữ. Theo nghiên cứu của Walters và cộng sự, tỷ lệ BĐMCDMT tại Anh
là 23.6% [2]. Tại Mỹ có 8 – 10 triệu người mắc bệnh này với nguy cơ tử vong và
mắc các biến cố tim mạch gấp 3 – 6 lần so với những người không có BĐMCDMT
[3]. Tại Việt Nam tỷ lệ mắc BĐMCDMT khoảng 1.7% năm 2003 và tăng lên gấp
đôi 3.4 % năm 2007 [4].
Bệnh động mạch chi dưới ít gây tử vong nhưng nó ảnh hưởng rất nhiều đến
cuộc sống, sinh hoạt, làm việc và lao động của người bệnh, thậm trí trở thành tàn
phế, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Có nhiều phương pháp điều trị BĐMCDMT: nội khoa, phục hồi chức năng,
ngoại khoa, can thiệp nội mạch. Điều trị bằng can thiệp nội mạch ít xâm lấn, do vậy
mà thời gian nằm viện ngắn, hồi phục cơ năng chi nhanh đặc biệt ở những bệnh
nhân có nguy cơ cao của phẫu thuật. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả
phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị BĐMCDMT [5],[6],[7],[8]. Tuy vậy,
các nghiên cứu này vẫn đánh giá chung toàn bộ hệ động mạch chi dưới.Trong điều
trị can thiệp nội mạch điều trị BĐMCDMT trước hết phải mở thông tầng chậu và
đùi, sau đó mới can thiệp đến tầng dưới gối. Các nghiên cứu cũng ít đề cập đến
những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới kết quả điều trị. Để đánh giá kết quả cũng như
tìm hiểu các yếu tố liên quan đến nhóm bệnh lý này chúng tôi tiến hành nghiên cứu:


2

“Đánh giá kết quả ngắn hạn can thiệp nội mạch tầng chậu – đùi ở bệnh

kinh đùi nằm ngoài và tĩnh mạch đùi nằm trong.
Động mạch đùi nông: Chạy tiếp theo ĐM đùi chung ở dưới dây
chằng bẹn khoảng 4cm, ĐM chạy theo trục của ĐM đùi chung tới lỗ
gân cơ khép thì đổi tên thành ĐM khoeo. Đường định hướng là
đường kẻ nối điểm giữa dây chằng bẹn với bờ sau lồi cầu trong
xương đùi. Chỗ nối đùi khoeo có thể bị ép bởi vòng gân cơ khép
tạo điều kiện thuận lợi cho các mảng xơ vữa hình thành.
Động mạch đùi sâu: Tách từ ĐM đùi chung phía dưới dây chằng
bẹn khoảng 4cm, đi tới bờ trên cơ khép dài rồi chạy sau cơ này,
trước cơ khép ngắn và cơ khép lớn. ĐM cấp máu cho các cơ đùi bởi
hai nhánh lớn là ĐM mũ đùi trong và ĐM mũ đùi ngoài, và các
nhánh xiên.
Ở ngang mức ống cơ khép, các nhánh tận của ĐM đùi sâu nối
với các nhánh của ĐM đùi nông tạo thành tuần hoàn bàng hệ, điều
này rất quan trọng trong tắc ĐM đùi ở trên ống cơ khép.
1.1.3. Các động mạch vùng cẳng chân


4

Động mạch khoeo: Chạy tiếp theo ĐM đùi nông, bắt đầu từ lỗ
gân cơ khép tới bờ dưới cơ khoeo thì chia làm hai nhánh tận là ĐM
chày trước và thân chày mác. Ở khoeo ĐM nằm sâu nhất và trong
nhất rồi tới tĩnh mạch khoeo, thần kinh chày nằm nông nhất và
ngoài nhất.

Hình 1.1. Giải phẫu động mạch chi dưới
(Nguồn:Interventions for Clients with Vascular Problems).
1.2. KHÁI NIỆM BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI MẠN TÍNH
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính là tình trạng giảm tưới máu chi dưới

6

Hình 1.2. Tỉ lệ mắc bệnh động mạch ngoại vi theo tuổi và giới [19]
(PAD: bệnh động mạch ngoại biên)

Tại Việt Nam, cùng với các bệnh ĐM do xơ vữa khác như bệnh ĐM vành,
đột quị não... thì tỉ lệ bệnh nhân nhập viện vì BĐMCDMT ngày càng nhiều. Theo
thống kê của Viện tim mạch Quốc gia Việt Nam thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân bị
BĐMCDMT điều trị nội trú tại bệnh viện tăng từ 1.7% năm 2003 lên tới 2.5% vào năm
2006 và 3.4% năm 2007. Theo nghiên cứu của Đoàn Quốc Hưng (2006) bệnh ĐM chi
dưới mạn tính chiếm 31.3% các bệnh xơ vữa ĐM nói chung [20].
1.4. CƠ CHẾ BỆNH SINH
Nguyên nhân phổ biến nhất của BĐMCDMT là do mảng xơ vữa phát triển
gây hẹp dần lòng mạch hoặc tắc nghẽn hoàn toàn, nguyên nhân này chiếm tới 90%.
Ngoài ra còn nguyên nhân khác như là: viêm tắc ĐM (thromboangitis obliterans hay
bệnh Buerger) [21], bệnh Takayasu, do phình mạch, chấn thương hoặc do nang của
lớp áo ngoài ĐM [22].
1.4.1. Cấu tạo thành động mạch [23]
Thành ĐM gồm 3 lớp áo:


7

- Áo trong (lớp nội mạc) là lớp áo trong cùng được giới hạn về phía lòng mạch bởi
một lớp đơn các tế bào nội mô và phía ngoài bởi một bản xơ chun (còn gọi là màng
ngăn chun trong). Giữa 2 lớp này là phức hợp khoảng gian bào.

- Áo giữa tạo bởi các tế bào cơ trơn, bao quanh là các sợi collagen, elastin, lớp này
ngăn cách với áo ngoài bởi màng ngăn chun ngoài.


chức Y tế thế giới đưa ra vào năm 1958 vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay:
VXĐM là sự phối hợp của nhiều thay đổi lớp nội mạc của các ĐM. Những thay đổi
này đặc trưng bởi sự xuất hiện của các mảng xơ vữa (atheromas) với thành phần chủ
yếu là cholesterol, tiểu thể lipid, các thực bào mỡ, tổ chức xơ và lắng đọng canxi.Các
mảng vữa xơ này nằm giữa lớp nội mạc và lớp trong của áo giữa.Tuy nhiên, định
nghĩa này chỉ đề cập đến các đặc điểm có tính chất mô tả tổn thương chứ không đề cập
đến các giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của VXĐM. Cần phân biệt VXĐM
(atherosclerosis) với xơ cứng tiều ĐM (arteriosclerosis): là quá trình dày và thoái hóa
hyaline ở các sợi cơ của lớp giữa, chủ yếu ở các tiểu ĐM; và với xơ cứng lớp áo giữa
Monckeberg đặc trưng bởi lắng đọng canxi ở lớp thành các ĐM kích thước vừa, xảy ra
ở người trên 50 tuổi. Thương tổn canxi thường có dạng vòng, dễ dàng sờ được bằng tay
và rất cản quang [27], [28].

Hình 1.3. Quá trình hình thành và phát triển mảng xơ vữa [29]
1.5. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
1.5.1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh động mạch chi dưới mạn tính
Bệnh động mạch chi dưới phổ biến ở những người lớn tuổi, nam giới, gia
đình mắc bệnh VXĐM và những người có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Các
yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh động mạch ngoại biên cũng tương tự như các yếu tố
nguy cơ của bệnh tim mạch, bao gồm: hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng


9

lipid máu, homocysteinemia và hội chứng chuyển hóa [16],[30]. Ngoài ra còn có
các nguyên nhân hiếm gặp khác như bệnh tạokeo, viêm động mạch
do nhiễm khuẩn, tăng huyết áp, tăng độ nhớt và tăng đông máu, ...
[15],[30]. Hội Tim mạch học Hoa Kỳ và trường môn Tim mạch Hoa Kỳ định nghĩa
những đối tượng sau thuộc nhóm nguy cơ của bệnh động mạch chi dưới [31]:


1.5.1.1. Tuổi
Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng, BĐMCDMT thường xuất hiện vào khoảng
50 – 60 tuổi. Bệnh nhân càng cao tuổi thì tỷ lệ mắc BĐMCDMT càng cao. Vì vậy, bệnh
này thường phổ biến hơn ở những nước có dân số già. Tuổi trên 70 là một yếu tố nguy cơ
độc lập của bệnh động mạch chi dưới, trong khi các đối tượng trẻ hơn thường do các yếu
tố nguy cơ khác, hay gặp nhất là hút thuốc [32]. Tuy nhiên, chỉ một nửa trong số những
người lớn tuổi bị bệnh động mạch chi dưới biểu hiện triệu chứng vì những bệnh nhân
này thường mắc các bệnh kèm theo làm giảm khả năng đi lại. Nghiên cứu của Criqui sử
dụng các phương pháp không xâm lấn để chẩn đoán BĐMCDMT cho kết quả: tuổi càng


10

cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao. Tỷ lệ mắc BĐMCDMT trong nghiên cứu là 2.5% với độ
tuổi dưới 60; 8.3% ở độ tuổi 60-90 và tăng lên 18.8% ở người trên 70 tuổi [33]. Tại Việt
Nam, độ tuổi trung bình bị BĐMCDMT do xơ vữa động mạch là 60.1 ± 15.9 và có
15.6% bệnh nhân dưới 40 tuổi [34].
1.5.1.2. Giới
Bệnh động mạch chi dưới phổ biến hơn ở nam giới. Các nghiên cứu khác nhau
cho thấy tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở nam và nữ khác nhau, tùy từng độ tuổi. Nghiên cứu
Rotterdam điều tra 7715 người trên 55 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở nam và
nữ là 20.5% và 16.9% [18]. Tuy nhiên một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng không có sự
khác biệt về tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ [19].
1.5.1.3. Hút thuốc lá
Hút thuốc lá (HTL)có mối tương quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, cơ chế
của hút thuốc với VXĐM vẫn chưa được hiểu rõ. Nhưng ảnh hưởng của nó bao
gồm: tổn thương nội mô, tăng sinh cơ trơn mạch máu, huyết khối vi mạch, tăng
trương lực giao cảm, tăng tình trạng viêm và rối loạn các chuyển hóa.
Mối liên hệ này đã được thừa nhận từ những năm 1911,trong
nghiêncứu của Erb chỉ ra rằng bệnh nhân HTL có tỷ lệ xuất hiện

Theo một nghiên cứu ở Phần Lan trên những người bị ĐTĐ
độ tuổi từ 30 - 59 tuổi thấy tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ của bệnh động
mạch cao gấp 3,4 lần ở nam và 5,7 lần ở nữ so với nhóm chứng.
Nguy cơ cắt cụt chi ở bệnh nhân bị ĐTĐ cao hơn từ 15 - 46 lần so
với những bệnh nhân không bị ĐTĐ, tổn thương thường xuất hiện
sớm hơn, hay gặp hơn và nặng hơn. Cơ chế tổn thương là tắc mạch
do VXĐM ở các ĐM vừa và nhỏ lẫn rối loạn nuôi dưỡng ở các mao
mạch nuôi dưỡng mạch máu rồi gây nên tắc mạch [15],[35],[39],[40].
Kiểm soát đường máu kém cũng làm tăng nguy cơ VXĐM. Một phân tích
gộp gồm 13 nghiên cứu cho thấy tăng mỗi 1% HbA1c làm tăng 26% nguy cơ tim
mạch. ĐTĐ cũng làm tăng nguy cơ cắt cụt chi, và tử vong theo dõi sau tái tưới máu.
1.5.1.5. Rối loạn lipid máu


12

Rối loạn Lipid máu làm tổn thương các tế bào nội mô của thành ĐM dẫn
đến hình thành tổn thương xơ vữa. Trong đó LDL-C là một nguyên nhân chính dẫn
đến rối loạn chức năng và tổn thương tế bào cơ trơn thành mạch. Theo nghiên cứu
Framingham, tăng cholesterol máu >270mg/dL làm tăng gấp hai lần nguy cơ đau
cách hồi so với người bình thường. Thông báo của nghiên cứu NHANES [15] cho thấy
trên 60% người mắc bệnh ĐM chi dưới có tăng cholesterol máu và tỷ lệ này là 77%
trong nghiên cứu PARTNERS [16]. Các yếu tố cholesterol toàn phần tăng, LDL-C và
triglyceride tăng đều là yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh động mạch chi dưới.
Nhưng trong nghiên cứu Edinbourg ghi nhận có mối tương quan nghịch giữa nồng độ
HDL-Cholesterol với cơn đau cách hồi.Cơ chế xơ vữa mạch chưa được hiểu biết đầy
đủ nhưng người ta thấy rằng tỉ lệ HDL-C thấp thường kết hợp với tăng tỉ lệ LDL-C
nhỏ, đậm đặc và liên quan đến sự xuất hiện các yếu tố gây xơ vữa mạch khác. Ngoài
ra kích thước của LDL-C cũng ảnh hưởng đến VXĐM, càng nhiều lipoprotein có tỉ
trọng nhỏ thì càng có nguy cơ cao đối với bệnh động mạch chi dưới.

là một yếu tố nguy cơ độc lập của phát triển mảng VXĐM. Graham IM và cộng sự
[45] cho thấy tăng homocystein máu làm tăng 2 – 3 lần nguy cơ VXĐM. Khoảng 30
- 40% người mắc bệnh có tăng homocysteine, không giới hạn độ tuổi. Homocystein
dường như làm tăng nguy cơ tiến triển của bệnh động mạch chi dưới. Đây là một
yếu tố nguy cơ mới đang tiếp tục được nghiên cứu.
1.5.1.9. Tiền sử gia đình và các yếu tố di truyền
Những người có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch có khả năng mắc bệnh
động mạch chi dưới cao hơn. Nguy cơ mắc bệnh liên quan đến yếu tố gia đình khi
bệnh nhân xuất hiện tình trạng xơ vữa ở tuổi còn rất trẻ. Tuy nhiên, bệnh động mạch
chi dưới không do gen riêng rẽ quyết định mà do rất nhiều gen tương tác với nhau
và tuơng tác với yếu tố môi trường [46].
1.5.2. Các yếu tố nguy cơ gây tái hẹp sau đặt stent
Yếu tố nguy cơ cho quá trình hình thành sự tái hẹp hiện nay đã được chứng
minh rõ ràng. Không kể các vấn đề chủ quản của người bệnh (bỏ thuốc, dùng thuốc


14

không đúng phác đồ, không theo dõi định kỳ,...), của thầy thuốc (chiến lược can
thiệp không đúng, theo dõi và quản lý sau can thiệp không chặt chẽ...) thì yếu tố
nguy cơ sự tái hẹp được chia làm 2 nhóm chính là nhóm nguy cơ từ toàn trạng
người bệnh và nhóm nguy cơ từ tại chỗ tổn thương [47].
Nhóm yếu tố nguy cơ toàn trạng người bệnh bao gồm mắc bệnh ĐTĐ, HTL,
nữ giới, tăng protein phản ứng C, lipoprotein (viêm nhiễm trùng cấp hoặc mạn
tính), tăng yếu tố von Willebrand, tăng PAIA (plasminogen activator inhibitor -1
antigen)... trong đó 2 yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng rõ rệt nhất là ĐTĐ và HTL, gây
ra rối loạn nặng chức năng nội mạc mạch, tăng kết tập tiểu cầu [48].
Nhóm yếu tố nguy cơ tại chỗ tổn thương bao gồm đường kính mạch máu,
chiều dài tổn thương, tính chất mảng xơ vữa, tình trạng lưu thông của phần mạch máu
phía hạ lưu (run-off) và tình trạng lòng mạch được phục hồi lưu thông sau khi can

Rối loạn lipid (RLLP) máu dần làm tổn thương các tế bào nội mô của thành
ĐM dẫn đến hình thành tổn thương xơ vữa. Theo Trần Đức Hùng, RLLP máu làm tăng
nguy cơ tái hẹp lên 8 lần so với người không rối loạn lipid máu (OR=8, p
1.6.2. Bệnh Buerger [62]

- Do sự hiện diện của khối máu đông phối hợp với viêm làm hẹp các ĐM nhỏ và vừa
cũng như các tĩnh mạch của chi làm hạn chế lượng máu cung cấp dẫn đến hoại tử.

- Rối loạn đã được xác định là phản ứng tự miễn dịch được kích hoạt khi có nicotine.
- Bệnh có liên quan chặt chẽ với việc sử dụng thuốc lá.
- Thường gặp ở nam giới độ tuổi từ 20 – 40.
Chẩn đoán dựa vào 5 tiêu chí:

o Tiền sử HTL.
o Xuất hiện trước 50 tuổi.
o Tắc các ĐM vùng dưới gối.
o Hoặc liên quan đến chi trên hoặc là viêm tĩnh mạch di chuyển.
o Không có các yếu tố nguy cơ VXĐM khác ngoài việc HTL.
1.6.3. Hội chứng Raynaud [63]

- Là hiện tượng xảy ra do co thắt ĐM ngoại vi, nguyên nhân dẫn đến tái nhợt biểu
hiện bởi sự xanh tím, đau và có thể mất cảm giác, hiếm khi gây loét ở các đầu ngón
tay, chân.

- Chỉ có thể được chẩn đoán khi có tiền sử trước đó, thường là có biểu hiện các vết
chấm lốm đốm hoặc xanh tím ở đầu ngón chân tay khi gặp lạnh.
Chẩn đoán khi có các tiêu chí sau:

o Có tiền sử biểu hiện của hội chứng Raynaud.
o Có tiền sử xác định tần suất và mức độ nghiêm trọng trong đợt tấn công của bệnh.
o Tiền sử HTL.
o Tiền sử bệnh hiện tại và xem xét bệnh hệ thống để loại trừ các nguyên nhân thứ
phát như bệnh mô liên kết.

loét, hoại tử chân, thường lan từ phần ngọn là các đầu ngón chân

-

vào bàn chân.
Tùy thuộc vào vị trí đau có thể gợi ý đến chẩn đoán định khu vị trí tổn thương ĐM

o
o
o

như:
Đau ở vùng mông hoặc đùi: tổn thương ĐM vùng chủ chậu.
Đau ở bắp chân: tổn thương ĐM vùng đùi khoeo.
Đau ở bàn chân: tổn thương ĐM vùng cẳng chân.
Đau cách hồi ở bệnh nhân thiếu máu chi dưới mạn tính Đau cách hồi ở bệnh
nhân thiếu máu chi dưới mạn tính do bệnh động mạch chi dưới cần phải được phân
biệt với những bệnh lý khác cũng có đau chi dưới khi gắng sức, còn gọi là “giả đau
cách hồi”. Ở những bệnh nhân đau cách hồi do thiếu máu chi dưới mạn tính trong bệnh
cảnh bệnh động mạch chi dưới có đặc điểm giảm hoặc hết đau khi nghỉ ngơi hay đứng
lại và quãng đường bệnh nhân đi được là hằng định.
1.7.2. Triệu chứng thực thể [35],[64]
- Nhìn: Da chân bị nhợt nhạt ở một vùng hoặc ở bàn chân, rõ
hơn khi bệnh nhân đưa chân lên cao, giảm đi khi bệnh nhân hạ
thõng xuống thấp. Móng chân có thể bị khô, lông nơi đó bị rụng, có


19

thể teo cơ. Đôi khi có thể có những vết loét do rối loạn dinh dưỡng

tổn thương ĐM
- Ưu điểm: Đo ABI là một phương pháp được lựa chọn trong nhiều khuyến
cáo để chẩn đoán và phân loại mức độ nặng của bệnh, giúp tiên lượng và đánh giá
khả năng hồi phục chức năng chi dưới sau điều trị. Ngoài ra, ABI còn dùng trong


20

sàng lọc bệnh động mạch chi dưới vì đây là một phương pháp thăm dò không xâm
nhập, đơn giản dễ thực hiện và giá thành rẻ, có thể ứng dụng rộng rãi.
- Nhược điểm: kết quả đo có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như: phụ
thuộc vào người đo, tình trạng xơ cứng thành mạch, tình trạng tuần hoàn bàng hệ
vùng chi dưới, tác dụng của trọng lực đối với huyết áp chi dưới...
1.8.2. ABI gắng sức
Nghiệm pháp gắng sức bao gồm đo chỉ số ABI trước và sau khi cho BN gắng
sức (đi bộ thảm lăn, đi bộ trên mặt phẳng cứng 6 phút, đứng lên ngồi xuống) được
chỉ định nhằm chẩn đoán phân biệt đau cách hồi do BĐMCDMT hay là do những
nguyên nhân khác gây ra (giả đau cách hồi). Bên cạnh đó, phương pháp này còn
được dùng để lượng giá khả năng hoạt động thể lực và tiến triển của BNsau điều trị
(nội khoa, phẫu thuật, can thiệp). Đây cũng là một thăm dò không xâm lấn giúp
chẩn đoán BĐMCDMT khi đo chỉ số ABI lúc nghỉ có giá trị bình thường nhưng
bệnh nhân lại có nhiều yếu tố lâm sàng nghi ngờ mắc BĐMCDMT. Nhược điểm
của phương pháp này là không thể thực hiện được ở đối tượng già yếu, tổn thương
chi giai đoạn thiếu máu trầm trọng, hoặc đã cắt cụt chi nhưng có thể dùng test đi bộ
6 phút để chẩn đoán [1].
1.8.3. Đo phân áp oxy qua da
Lượng oxy cung cấp cho da phụ thuộc vào lượng oxy cấp bởi dòng máu chảy
vào và phần sử dụng bởi mô cho yêu cầu chuyển hoá tại chỗ. Sử dụng các cực thăm
dò nhỏ có thể đặt tại bất cứ vùng nào của cơ thể. Các cực này được gắn vào da ở cả
vùng tưới máu bình thường (như ngực) và tại bắp chân hay chân để đo trực tiếp phân

Hạn chế: kết quả siêu âm còn phụ thuộc kinh nghiệm của người làm. Khó
đánh giá được mức độ tổn thương khi hẹp ĐM kèm theo vôi hoá nặng. Khó xác định
được mức độ hẹp với những tổn thương lan toả và nhiều tầng.
1.8.6. Chụp động mạch cắt lớp vi tính chi dưới có dựng hình mạch máu
Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) là một phương pháp thăm dò các ĐM ngoại vi
không xâm nhập cho kết quả khá nhanh và chính xác. Kỹ thuật này đã đượcphát
triển và cải tiến từ nhiều năm trước cho kết quả hình ảnh nhanh và chínhxác hơn. Đặc
biệt là từ khi có chụp CLVT đa dãy đầu dò ra đời, với các lát cắt mỏng, khả năng tái tạo lại


22

hình ảnh mỏng hơn, xây dựng lại trên hình khônggian ba chiều và xác định chính xác
khẩu kính cũng như chiều dài vị trí tổnthương đã tạo được một bước nhảy vọt về
chất lượng hình ảnh và khả năngchẩn đoán thương tổn cũng như cung cấp thông tin
chi tiết về giải phẫu, bấtthường giải phẫu động mạch và đánh giá một cách tổng
quát ĐM. Chụp CLVTcó thể xác định chính xác vị trí tổn thương ĐM chi dưới kể cả
khi có mảng xơ vữa lớn, điều mà siêu âm Doppler bị hạn chế rất nhiều. Chụp
CLVT64 dãy đầu dò trong chẩn đoán hẹp tắc mạch chi dưới có thể đạt được độ nhạy
tới 95% và độ đặc hiệu tới 96% so với chụp ĐM [67], [68].
Ngoài ra chụp CLVT cũng cung cấp nhiều thông tin chi tiết về mô mềm như
huyết khối trong lòng mạch, các phình tách ĐM, giả phình, cũng như dày thành
trong viêm các ĐM lớn, VXĐM hay các bệnh lý ngoài ĐM như hội chứng bẫy
mạch khoeo. Hình ảnh tổn thương trên chụp CLVT của hẹp tắc ĐM chi dưới là hình
giảm khẩu kính đột ngột của động mạch hay mất liên tục của ĐM trên một đoạn
nhất định [68],[69].

Hình 1.4. Hình ảnh tắc động mạch đùi nông trên MSCT 64 dãy
BN Nguyễn Quang L.
1.8.7. Chụp cộng hưởng tử mạch máu (MRA)


(Nguồn: tác giả)
1.9. ĐIỀU TRỊ
1.9.1. Mục tiêu điều trị

- Giảm các triệu chứng thiếu máu chi dưới, cải thiện triệu chứng cơ năng, tăng khả năng
đi bộ của bệnh nhân, giúp lành vết loét, hoặc hoại tử, tránh phải cắt cụt chi.

- Hạn chế sự tiến triển của bệnh.
- Dự phòng các biến cố tim mạch: bệnh ĐM vành, bệnh mạch máu não, bệnh ĐM
chủ [72].
1.9.2. Điều trị nội khoa [73]
1.9.2.1. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch
Bao gồm nhiều biện pháp, trong đó có thay đổi lối sống và dùng các thuốc để
làm giảm sự phát triển và bất ổn của mảng xơ vữa, giảm các biến cố tim mạch. Cụ
thể gồm các biện pháp:

- Statin.
- Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel)
- Điều trị RLLP máu, tránh béo phì.
- Điều trị tăng huyết áp.
- Điều trị ĐTĐ, kiểm soát tốt đường máu.
- Bỏ hút thuốc.
1.9.2.2. Điều trị nội khoa và phục hồi chức năng đau cách hồi.
Theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ và trường môn Tim mạch Hoa
Kỳ (ACC/AHA-2011), khuyến cáo tập luyện là biện pháp điều trị hàng đầu cho các
bệnh nhân bị BĐMCDMT, tập luyện bằng chạy thảm lăn hoặc đi bộ từ 30-60 phút 1
lần và ít nhất 3 lần trong tuần trong thời gian 3 tháng là biện pháp điều trị cần thiết
cho bệnh nhân đau cách hồi (mức độ khuyến cáo I, mức độ bằng chứng A)[74]. Tập
luyện không có sự giám sát chưa chứng minh được hiệu quả thực sự trong điều trị

Tái tưới máu điều trị BĐMCDMT được chỉ định cho các bệnh nhân cơn đau
cách hồi mặc dù đã điều trị bằng các bài tập vận động, phục hồi chức năng và các
thuốc điều trị nội khoa tích cực nhưng các triệu chứng thiếu máu chi dưới không
giảm [77].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status