CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
khi áp dụng tại TTCK Việt Nam không?
Câu hỏi 2: Trên TTCK Việt Nam, việc các công ty có đặc điểm về “Hệ số
nợ” khác nhau thì có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay
không?
“Điều chỉnh lợi nhuận” là chủ đề có sức hút lớn trên phạm vi toàn cầu, từ
các cường quốc như Mỹ, Pháp…cho tới các nước đang phát triển như Malaysia,
Việt Nam. Đầu thế kỷ 21, sự xuất hiện của một loạt các vụ bê bối và gian lận
nghiêm trọng liên quan tới việc điều chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin kế
toán của Enron, WorldCom, Tyco, Xerox, Global Crossing làm hâm nóng chủ
đề kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận vốn từ lâu đã là sự quan tâm lớn của
nhiều bên, từ các nhà đầu tư, các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu cho tới bản
thân các công ty.
Ngay tại Việt Nam, một số lượng lớn các công ty cổ phần với tình trạng chênh
lệch báo cáo tài chính hàng trăm tỷ đồng trước và sau kiểm toán cũng đem đến
lo ngại về việc không minh bạch trong công bố thông tin và tồn tại sự can thiệp
mang chủ ý của các nhà quản lý tới thông tin kế toán được công bố trên thị
trường chứng khoán. Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của hành vi
điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) tới chất lượng báo cáo tài chính, luận án muốn đi
sâu phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới “điều chỉnh lợi nhuận” tại các công
ty phi tài chính có cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt
Nam dựa trên cơ sở của trường phái Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive
Accounting Theory - PAT), Lý thuyết đại diện (Agency Theory - AT) và Lý
thuyết thông tin bất đối xứng (Information Asymmetry - IA).
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: các mô hình ĐCLN phức tạp và có tính học thuật cao có phù hợp
1
2
- Về mặt thời gian: nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là các báo cáo tài
nào cũng là xấu và rất khó để chúng ta có thể phân biệt giữa việc bóp méo lợi
chính của các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam giai
đoạn từ 2010 – 2014.
nhuận để thực hiện hành vi gian lận với việc các nhà quản trị luôn cố gắng điều
tiết chi phí trong phạm vi dự toán để có thể đạt được mục tiêu về mặt doanh số.
- Về mặt nội dung: luận án nghiên cứu các nhân tố tác động tới điều chỉnh
lợi nhuận bao gồm nhóm nhân tố thuộc đặc điểm công ty và nhóm nhân tố thuộc
quản lý - kiểm soát.
Trên quan điểm của tác giả, “điều chỉnh lợi nhuận” là hành vi có thể được
thực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực, chế
độ kế toán nhằm giúp nhà quản trị đạt được các mục tiêu về lợi nhuận thông qua
các công cụ, phương pháp kế toán.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học kế
toán thực chứng. Dữ liệu thu thập được trên TTCK Việt Nam giai đoạn 20102014 sẽ được kiểm chứng với mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS), mô
các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế
toán. Cùng quan điểm trên, Schipper (1989) mô tả điều chỉnh lợi nhuận là một
“sự can thiệp” có chủ ý vào quy trình công bố thông tin ra bên ngoài nhằm đạt
được mục đích cá nhân trong một chừng mực nào đó. Ronen và Yaari (2007)
thì lại bày tỏ quan điểm trung lập rằng “điều chỉnh lợi nhuận” không phải lúc
3
+ Điều chỉnh lợi nhuận khi có các ưu đãi từ chính phủ (giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp, nới lỏng các quy định…)
+ Điều chỉnh lợi nhuận trong một số tình huống khác (mua lại cổ phiếu,
trì hoãn việc công bố một thông tin xấu, nới lỏng giới hạn tỷ lệ nợ…)
- Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Cơ sở dồn tích trong kế toán, việc lựa
chọn và vận dụng chính sách kế toán)
2.2. Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi ĐCLN của doanh nghiệp
- Lý thuyết Kế toán thực chứng trong nghiên cứu về ĐCLN
- Lý thuyết đại diện trong nghiên cứu về ĐCLN
- Lý thuyết thông tin bất đối xứng trong nghiên cứu về ĐCLN
4
2.3. Mô hình đo lường điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Từ đó, phần giá trị dồn tích NDA và DA được tính như sau:
Chênh lệch phát sinh giữa kết quả hoạt động kinh doanh trên báo cáo
KQKD và dòng tiền trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là phần lợi nhuận kế
NDAit
Tổng giá trị dồn tích gồm:
Tổng dồn tích
(TA)
=
Phần dồn tích không
thể điều chỉnh (NDA)
Phần dồn tích có thể
điều chỉnh (DA)
+
Trong luận án này, tác giả phân tích một số mô hình phổ biến nhất từ đơn
giản đến phức tạp nhằm đánh giá phần dồn tích DA. Tuy nhiên, luận án chỉ sử
dụng mô hình gốc Jones (1991) để phục vụ cho việc kiểm chứng sự tồn tại của
điều chỉnh lợi nhuận. Các mô hình thực chất là nhằm tính toán phần NDA.
Mô hình Jones (1991)
Khắc phục nhược điểm của các mô hình trước đó của Healy (1985),
DeAngelo (1986), Jones (1991) xây dựng mô hình mới trong đó tính đến sự ảnh
hưởng của mức độ hoạt động kinh doanh của đơn vị tới NDA. Mô hình Jones
NDAit: Phần dồn tích không điều chỉnh được tại công ty i năm t
a1, a2, a3: các tham số ước tính (Căn cứ vào α 1, α 2, α 3 ).
Các tham số a1, a2, a3 được ước tính bằng phương pháp OLS
Luận án trình bày một số mô hình cơ bản liên quan tới việc đo lường hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp (thông qua giá trị dồn tích có thể điều
chỉnh DA). Trong phạm vi của luận án, mô hình gốc Jones (1991) được lựa chọn
1
Ait-1
+
α2 x
∆REVit
Ait-1
+
α3 x
PPEit
∆REVit: Doanh thu năm t trừ Doanh thu năm t-1 tại công ty i
PPEit: Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t tại công ty i
Ait-1: Tổng tài sản cuối năm t -1 tại công ty i
Ait-1
+ ɛit
- Hệ số nợ
- Hiệu quả tài chính
- Quy mô công ty
2.4.2. Các nhân tố thuộc cơ chế quản lý – kiểm soát
bối cảnh đặc thù của một TTCK mới nổi và các nghiên cứu về ĐCLN chưa
nhiều. Thứ hai, luận án thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế của các
nghiên cứu trước đây (đặc biệt là tại Việt Nam) khi lựa chọn mô hình đo
(
H5
H1
-
+
H6
H2
ĐIỀU CHỈNH
+
-
LỢI NHUẬN
H7a
+
Cấu trúc SH (Tỷ lệ
SH nước ngoài OWN2)
Kiểm toán độc lập
(AUDIT)
quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định
FEM (robust SE) cũng được thực hiện.
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sơ đồ 3.1. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đề xuất
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Xây dựng phương trình hồi quy bội
3.1. Xây dựng giả thuyết khoa học
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu, luận án đề xuất mô hình
nghiên cứu và các giả thuyết khoa học như sau:
Dữ liệu thu thập được là dữ liệu bảng. Do đó, nghiên cứu tiến hành xây
dựng hai phương trình 1 và 2 cho mô hình hồi quy theo OLS và hồi quy theo
FEM, REM
Hồi quy (1):
DA = α0 + α1 DEBT it + α2 PERF it + α3 SIZE it + α4 BOARD it + α5 IDV it
+ α6 DUAL it + α7 OWN1 it + α8 OWN2 it + α9 AUDIT it + εit
Hồi quy (2):
DA = α0 + α1 DEBT it + α2 PERF it + α3 SIZE it + α4 BOARD it + α5 IDV it
+ α6 DUAL it + α7 OWN1 it + α8 OWN2 it + α9 AUDIT it + ωit
DEBT
Hệ số nợ
Tỷ lệ Nợ/ Vốn CSH
PERF
Hiệu quả tài chính
ROE = LN/Vốn CSH bình
quân
SIZE
Quy mô công ty
Log của Tổng tài sản
BOARD
Quy mô hội đồng quản trị
Số lượng thành viên
IDV
Số lượng thành viên HĐQT độc lập Số lượng thành viên
DUAL
3.2.2. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu
hợp khi sử dụng tại TTCK Việt Nam (Nguyễn Hữu Ánh và Nguyễn Hà Linh,
2016) vì vậy kết quả ước tính DA sẽ được sử dụng cho việc chạy hồi quy tại
bước 2. Giá trị DA có thể được chia nhóm DA dương và DA âm. DA dương
đồng nghĩa với việc đang có hiện tượng điều chỉnh lợi nhuận tăng (incomeincreasing) và DA âm nghĩa là có hiện tượng điều chỉnh lợi nhuận giảm
(income-decreasing) (Abbott và cộng sự, 2006).
Bước 2
Sau khi xác định được giá trị DA, biến phụ thuộc trong mô hình được mô
tả tại mục 2.3 (chương 2), tác giả tiến hành rà soát giá trị của các biến trong mô
hình để loại bỏ những quan sát không đủ điều kiện và có DA = 0, số quan sát
còn lại là dữ liệu bảng không cân bằng với 2.132 quan sát giai đoạn 2010 -2014.
Việc ước tính DA với mẫu 1 nhưng sang Hồi quy 2 thì lại có mẫu số 2 với 2.132
quan sát không ảnh hưởng tới việc chạy hồi quy bước 2 (Yoon và cộng sự,
2006).
Tiếp theo, tác giả tiến hành chạy hồi quy, vì đây là dữ liệu bảng nên sau
khi thực hiện theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS), mô hình ước
lượng theo hiệu ứng cố định (FEM), mô hình ước lượng theo hiệu ứng ngẫu
nhiên (REM), mô hình ảnh hưởng cố định FEM (robust SE) sẽ được thực hiện.
CHƯƠNG 4
THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TẠI CÁC CÔNG TY PHI
Mẫu nghiên cứu ban đầu gồm 3.195 quan sát (Các công ty phi tài chính
niêm yết trên TTCK Việt Nam 2010 - 2014). Tại bước 1, một số quan sát bị loại
do thiếu thông tin, còn lại 3.004 quan sát (Hồi quy bước 1). Sau đó, loại tiếp tại
bước 2, còn 2.132 quan sát (Hồi quy bước 2).
3.2.3. Phương pháp sử dụng trong các mô hình hồi quy
Phần mềm Stata ver.12 được sử dụng trong quá trình phân tích dữ liệu.
4.2. Kết quả thực hiện phân tích nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh
lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Biến
Hệ số
(Coef)
Ý nghĩa thống kê
(p-value)
4.2.1. Kết quả hồi quy theo mô hình bình phương bé nhất OLS
Mô hình OLS (Hồi quy 1) cho kết quả hồi quy các biến theo các bảng biểu dưới đây:
Hằng số
- 5,8964
0,000
Bảng 4.1. Kết quả hồi quy theo OLS
BOARD
- 0,0258
0,165
IDV
0,069
0,000
PERF
0,976
0,000
SIZE
0,5008
0,000
Biến
Hệ số
(Coef)
Ý nghĩa thống kê
(p-value)
- 10,5411
Hằng số
- 0,0258
BOARD
- 0,0208
Prob >F = 0,0000
R2 = 0,4608
R2 điều chỉnh = 0,4586
Đa cộng tuyến
(Collinearity Statistics)
VIF
Tolerance
1,82
1,91
1,20
1,09
1,19
1,37
1,20
1,04
1,60
0,548400
0,523102
0,832508
0,916470
0,837907
0,731069
0,830384
0,959190
0,624259
Biến phụ thuộc: DA
F-test khi v_i=0: F(536, 1586)= 8,73
Hệ số
(Coef)
Bảng 4.5. Kiểm định Hausman
Wald chi2(9)= 812,25
Prob > chi2 = 0,0000
Chi square
Prob. Chi square
R2 (overall) = 0,4568
33,11
0,0001
Ý nghĩa thống kê
(p-value)
Ghi chú
(Nguồn: Tác giả xử lý)
Nhìn vào Bảng 4.5, giá trị Chi2 (9) = 33,11 với p-value = 0,0001 < 0,01,
ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1, như vậy mô hình FEM là phù hợp hơn mô hình
Hằng số
0,0008
0,189
Bảng 4.6.
OWN2
- 0,0032
0,010
AUDIT
- 0,1487
0,000
DEBT
0,0351
0,000
PERF
0,9355
0,000
Ghi chú
(Nguồn: Tác giả xử lý)
Bảng 4.4. Kiểm định Lagrangian Multiplier
Chibar 2
Prob. Chibar 2
1013,29
0,0000
Ghi chú
(Nguồn: Tác giả xử lý)
Nhìn vào Bảng 4.6, ta thấy có hiện tượng hiệp phương sai không đồng
nhất và tồn tại sự tự tương quan của sai số trong mô hình. Khi các giả thiết về
hiện tượng tự tương quan và phương sai đồng nhất bị vi phạm, mô hình ảnh
hưởng cố định FEM cũng chưa phải là mô hình tốt nhất.
4.2.5. Kết quả hồi quy FEM theo sai số chuẩn vững (robust SE)
Với sự vi phạm giả định về phương sai không đổi và hiện tượng tự
tương quan, tác giả tiến hành rà soát mối quan hệ giữa các biến. Dựa vào việc
13
14
kiểm tra về tương quan giữa các biến, nhận thấy biến BOARD và IDV có
OWN1
OWN2
AUDIT
DEBT
PERF
SIZE
Biến phụ thuộc: DA
- 5,8619
- 0,0312
0,001
- 0,0025
- 0,1323
0,0693
0,978
0,4986
0,001
0,045
0,089
0,077
0,015
0,000
0,000
0,001
(Nguồn: Tác giả xử lý dữ liệu)
Trên cơ sở lựa chọn mô hình FEM (robust SE), mô hình hồi quy được
thiết lập như sau:
DA = - 5,8619 + 0,0693 * DEBT it + 0,978 * PERF it + 0,4986 *
nghiệp sẽ có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để có thể giữ hình ảnh và thể hiện
sự bền vững trong giá trị doanh nghiệp. Như vậy, đây là mối quan hệ có ý nghĩa
thống kê nhưng giả thuyết H2 lại ngược chiều với kết quả đạt được. Mối quan hệ
16
giữa PERF và DA là mối quan thuận chiều, trái với nhiều nghiên cứu trước đây
của Fathi (2013), Charfeddine, Riahi và Omri (2013), Fathi (2013), Chen và
cộng sự (2006); Chen, Cheng và Wang (2010).
Với kết quả này, khi vận dụng Lý thuyết PAT (Watts và Zimmerman,
1986) liên quan đến giả thuyết về kế hoạch thưởng thì có thể giải thích lý do các
công ty càng hoạt động có hiệu quả thì càng ĐCLN nhiều. Với giả thuyết về kế
hoạch thưởng, nhà quản trị có thể vì lợi ích cá nhân, vì kế hoạch thưởng của
công ty mà thực hiện ĐCLN để luôn duy trì kết quả khả quan, vừa thu hút được
đầu tư lại vừa được hưởng những quyền lợi liên quan tới kế hoạch thưởng của
công ty dành cho mình.
5.2.3. “Quy mô công ty” (SIZE) và điều chỉnh lợi nhuận (DA)
Biến “Quy mô công ty” (SIZE) có quan hệ thuận chiều với giá trị dồn tích
có thể điều chỉnh được (DA), hệ số = 0,4986 với p-value = 0,001 < 0,01. Với kết
quả này, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng điều chỉnh lợi
nhuận càng nhiều. Như vậy, kết quả của luận án chấp thuận giả thuyết H3 cho
rằng “Quy mô công ty có quan hệ thuận chiều với điều chỉnh lợi nhuận”. Kết
5.2.5. “Cấu trúc sở hữu” (OWN) và điều chỉnh lợi nhuận (DA)
“Tỷ lệ SH nhà nước” (OWN1) và điều chỉnh lợi nhuận (DA)
Biến “Cấu trúc sở hữu” OWN1 (Tỷ lệ SH nhà nước) và giá trị dồn tích có
thể điều chỉnh được (DA), hệ số = 0,001 với p-value = 0,089 < 0,1. Điều này có
nghĩa là giả thuyết đưa ra về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu (tỷ lệ SH nhà
nước) và ĐCLN là mối quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa thống kê, ta chấp
nhận giả thuyết H7a. Kết quả của nghiên cứu này đồng nhất với kết quả của các
của luận án chấp nhận giả thuyết H4 cho rằng “Quy mô HĐQT có quan hệ
ngược chiều với điều chỉnh lợi nhuận”. Kết quả này đồng nhất với kết quả các
nghiên cứu của nhiều tác giả khi kết luận rằng số thành viên HĐQT càng nhiều
thì ĐCLN càng thấp (Fathi, 2013; Xie và cộng sự, 2003; Bradbury và cộng sự,
2006).
Kết quả nghiên cứu thể hiện vai trò tích cực của tỷ lệ SH nước ngoài trong
việc giảm khả năng ĐCLN tại các DN niêm yết, điều này được giải thích bởi vai
trò ngày càng lớn của dòng vốn này đối với các doanh nghiệp nói chung và
TTCK Việt Nam nói riêng. Việc thu hút được vốn từ các nhà đầu tư ngoại vừa
giúp tăng cường nguồn lực tài chính vừa thể hiện uy tín của doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sở hữu nước ngoài được coi là một cơ chế hiệu quả
nhằm cải thiện quản trị công ty, nâng cao chất lượng quản lý và chất lượng
thông tin cung cấp bởi các nhà đầu tư nước ngoài thường có những chuẩn mực
cao khi đánh giá các thông tin tài chính, kế toán (Dahlquist và Robertson, 2001;
Aggarwal, Klapper & Wysocki, 2003). Đây cũng là lý do vì sao các quy định tại
17
18
Việt Nam hiện nay về tỷ lệ SH nước ngoài đang được nới lỏng tối đa nhằm phát
Yêu cầu đặt ra là cần có sự hoàn chỉnh quy định về thành viên độc lập,
huy lợi thế tích cực trong việc hoàn thiện TTCK nói chung và trong vấn đề
ĐCLN tại các DN nói riêng.
đặc biệt là từ khía cạnh pháp luật bằng sự sửa đổi, bổ sung, cập nhật quy định về
tịch hoặc chủ tịch kiêm tổng giám đốc, đặc biệt với các DNNN khi chuyển đổi
sang công ty cổ phần, ở các công ty này nhà nước thường chiếm tỷ lệ sở hữu cổ
phần chi phối do vậy thực chất việc Đại hội cổ đông bầu HĐQT cũng chỉ là
chính thức hóa danh sách đã được cơ quan chủ quản Nhà nước phê duyệt và việc
có IDV thì cũng là về mặt hình thức (Lê Hoàng Tùng, 2009; Bùi Thị Thủy,
Biến “Sự kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT” (DUAL) không thấy có sự
ảnh hưởng có ý nghĩa với DA, luận án bác bỏ giả thuyết H6 cho rằng “Sự kiêm
nhiệm có quan hệ thuận chiều với điều chỉnh lợi nhuận”. Kết quả này đồng nhất
với kết quả các nghiên cứu của nhiều tác giả (Fathi, 2013; Rahman & Ali, 2006).
Tại Việt Nam, “sự kiêm nhiệm” hay “sự tách biệt” ở đây nhiều khi không
thực sự rõ ràng và vì vậy, thông tin về biến DUAL tại một thị trường non trẻ như
Việt Nam chưa phải là một thông tin tốt.
Tóm lại, kết quả cho chúng ta thấy các biến thuộc đặc điểm doanh nghiệp
có khả năng lớn trong việc ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận trong khi đó các
biến thuộc cơ chế quản lý kiểm soát thì có 2 biến thuộc quản trị công ty là IDV
và DUAL là không có ý nghĩa, lý do có thể là do vấn đề quản trị công ty tại Việt
Nam chưa thực sự được quan tâm chặt chẽ, thông tin về HĐQT hay số thành
viên độc lập chưa chắc đã thực sự tin cậy và có thể chỉ là những con số “trên
giấy tờ” và vì thế khó đảm nhiệm được vai trò theo đúng bản chất cần phải có
của nó.
Dựa trên bộ chỉ số đánh giá quản trị công ty của các nước ASEAN (do
Diễn đàn thị trường vốn các nước ASEAN, ACMF, thực hiện cùng Ngân hàng
phát triển Asean), thẻ điểm của Việt Nam so với các nước trong khu vực là rất
thấp, năm 2014 thẻ điểm của Việt Nam đạt (35,14/100) (thấp nhất trong khu
vực) trong khi nước cao nhất là Thái Lan (84,5/100), Philippins (67,02/100),
Indonesia (57,27/100).
Như vậy, Việt Nam cần củng cố chất lượng quản trị công ty nhằm đạt được
một bộ máy quản trị tốt, từ đó đóng góp cho sự phát triển của TTCK Việt Nam,
tăng khả năng bảo vệ nhà đầu tư và phát huy được tốt hơn vai trò của quản trị
lại lợi ích chung.
5.3.4. Khuyến nghị đối với nhóm đối tượng khác
5.3.2. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp
(Các đơn vị đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn)
Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam từ xưa đến nay vẫn phụ thuộc chủ
yếu vào kênh ngân hàng trong khi đó trên thế giới thì kênh tạo vốn chính thức
thường là huy động qua TTCK, thị trường tài chính. Vì vậy, trước tiên, các
doanh nghiệp cần xác định chiến lược huy động vốn lâu dài và bền vững phải là
qua TTCK Việt Nam, chú ý đầu tư về đào tạo, ứng dụng các công cụ phát hiện
Cùng với những khuyến nghị đưa ra cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp
và các cơ quan nhà nước thì những nhóm đối tượng khác như các đơn vị đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cũng cần phải có những hành động
tương ứng để hỗ trợ các bên tham gia vào thị trường, nhằm hướng tới sự chuyên
nghiệp và bền vững hơn của TTCK Việt Nam.
ĐCLN, nâng cao chất lượng thông tin cung cấp và chú ý tới các tác động của
các nhân tố ảnh hưởng tới ĐCLN.
5.4. Những đóng góp của luận án
5.3.3. Khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng
Luận án sẽ đóng góp một phần và làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu trong
lĩnh vực kế toán, đặc biệt là nội dung “điều chỉnh lợi nhuận” tại các nền kinh tế
- Bộ Tài chính
công ty phi tài chính có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK)
5.6. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Việt Nam.
Trên cơ sở kết quả đạt được và những hạn chế của luận án, các hướng
nghiên cứu tiếp theo được đề xuất liên quan tới phương pháp nghiên cứu (sử
dụng các mô hình đa dạng hơn, công cụ phân tích tốt hơn…) hoặc liên quan tới
hướng nghiên cứu (đa dạng hóa chủ đề nghiên cứu, khai thác sâu từng nhân tố,
hoặc kết hợp chủ đề về ĐCLN và các nội dung khác như ĐCLN và phí kiểm
5.4.2. Về mặt thực tiễn
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận cần được biết đến và đánh giá bằng những
nghiên cứu thực chứng thay vì những bài viết trên góc độ lý thuyết. Vì thế, một
nghiên cứu thực chứng chi tiết liên quan tới TTCK Việt Nam và vấn đề điều
chỉnh lợi nhuận là hết sức cần thiết để các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các
nhà làm luật, các cá nhân tham gia vào thị trường hiểu được rằng hiện nay chất
lượng thông tin kế toán của các công ty niêm yết tại Việt Nam đang ở cấp độ tin
cậy nào. Từ đó có những giải pháp cụ thể cho việc nâng cao chất lượng thông tin
và giúp TTCK phát triển lành mạnh và tăng trưởng tốt. Và trên hết, đây sẽ là cơ
sở để nhà đầu tư bảo vệ được mình trong quá trình ra quyết định đầu tư.
Dựa trên kết quả thực nghiệm với số liệu từ TTCK Việt Nam giai đoạn
2010 – 2014, luận án đã:
(1) góp phần chứng minh rằng tại TTCK Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng
được các mô hình phát hiện ĐCLN (mô hình phức tạp và có tính học thuật cao).
(2) đưa ra bằng chứng về tác động mạnh của nhóm biến “đặc điểm doanh
nghiệp” (DEBT, PERF, SIZE) tới ĐCLN, kết quả này phù hợp với các giả
trong cơ chế quản trị công ty tại các nước đang phát triển cũng như những nhân
tố ảnh hưởng tới ĐCLN.
Luận án kỳ vọng sẽ là tài liệu hữu ích cho các nhà đầu tư, các công ty, các
5.5. Những hạn chế của luận án
hình đo lường giá trị dồn tích có thể điều chỉnh DA khác nhau để so sánh. Một
hạn chế khác là về việc cập nhật dữ liệu theo thời gian và nghiên cứu chi tiết
theo ngành, nhóm ngành cụ thể.
nhà làm luật, chính sách, các công ty kiểm toán và các học giả trong việc nghiên
cứu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận trên thị trường
chứng khoán Việt Nam nhằm xây dựng một thị trường mạnh, một kênh dẫn vốn
tốt cho nền kinh tế theo đúng xu thế của thế giới cả hiện tại và tương lai.
23
24
Luận án còn một số hạn chế như việc chưa chú ý đến việc áp dụng các mô