Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam (tt) - Pdf 24

Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân NGUYễN THị MAI ANH
HON THIệN Kế TOáN QUảN TRị CHI PHí
TRONG CáC CÔNG TY Cổ PHầN NHựA NIÊM YếT
TRÊN THị TRƯờNG CHứNG KHOáN VIệT NAM

Chuyên ngnh: kế toán (Kế toán, Kiểm toán v Phân tích)

GS.ts. ĐặNG THị LOAN

Phản biện 1: PGS.TS. Nghiêm Văn Lợi
Đại học Lao động Xã hội

Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Phú Giang
Đại học Thơng mại

Phản biện 3: PGS.TS. Đặng Văn Thanh
Hội Kế toán - Kiểm toán Việt Nam Lun ỏn s c bo v trc Hi ng chm Lun ỏn
cp Trng hp ti:

TRNG I HC KINH T QUC DN
Vo hi h ngy thỏng nm. Cú th tỡm hiu lun ỏn ti
- Th vin Quc gia Vit Nam.
- Th vin Trng i hc Kinh t Quc Dõn. 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CỦA LUẬN ÁN

thuật xây dựng định mức chi phí, phân tích thời gian hoàn vốn, lợi nhuận mục
tiêu cũng được nhiều doanh nghiệp áp dụng.
Tại Mỹ, khảo sát của công ty kiểm toán Ernst & Young năm 2003 đối với
2.000 giám đốc tài chính, phó chủ tịch phụ trách tài chính, giám đốc kiểm soát 2
chi phí cho thấy đa số các nhà quản lý tại Mỹ vẫn ưa chuộng việc áp dụng các
công cụ truyền thống. Việc áp dụng các phương pháp hiện đại vẫn chưa phổ
biến và đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Tại Úc và Nhật Bản, năm 1999, Wijeywardena và Zoysa [102] đã tiến
hành nghiên cứu đối với 217 công ty Nhật Bản và 231 công ty Úc. Nghiên cứu
cho thấy các công ty sản xuất tại Úc chú trọng đến các công cụ kiểm soát chi
phí như lập dự toán, xây dựng định mức chi phí và phân tích sự biến đổi trong
khâu sản xuất trong khi các công ty tại Nhật Bản lại tập trung vào các công cụ
lập kế hoạch và cắt giảm chi phí như xây dựng chi phí mục tiêu trong khâu lập
kế hoạch và thiết kế sản phẩm. Phương pháp ABC được áp dụng tại Úc nhiều
hơn tại Nhật Bản.
Tại New Zealand, Adler, Everett và Waldron năm 2000 [57] đã khảo sát và
phỏng vấn các nhà kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản. Kết quả cho thấy
các phương pháp truyền thống được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn so với các
kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại. Ngoài ra, các công ty có trụ sở tại Úc thường
hay áp dụng ABC và các kỹ thuật về chi phí chất lượng hơn các công ty bản địa.
1.2.2. Tại các quốc gia đang phát triển
Tại các nước Ảrập, nghiên cứu của McLellan và Moustafa năm 2010 [93]
tại các doanh nghiệp sản xuất ở các nước Ảrập cho thấy các kỹ thuật kế toán
quản trị chi phí được áp dụng nhiều nhất là các công cụ lập kế hoạch và kiểm
soát truyền thống như lập dự toán, các phương pháp xác định chi phí truyền
thống như xác định chi phí theo công việc và xác định chi phí định mức kết hợp
với phân tích sự biến đổ

Tại Philipin, nghiên cứu của Manolo năm 2001 [92, tr429-465] tại 500 công
ty trong ngành bưu chính cho thấy chỉ có 16% trong số này sử dụng phương pháp
xác định chi phí theo hoạt động, 55% vẫn đang áp dụng các phương pháp truyền
thống và 142 công ty không phản hồi về các phương pháp đang áp dụng.
1.2.3. Tại Việt Nam
Có thể tóm tắt các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị tại Việt Nam
qua sơ đồ sau:
Hình 1.2: Các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán
quản trị chi phí nói riêng tại Việt Nam
Kế toán quản trị mới du
nhập vào Việt Nam,
nghiên cứu sơ lược về kế
toán quản trị

- Nguyễn Việt (1995)
- Phạm văn Dược (1997)

Nghiên cứu những vấn đề
cụ thể trong
kế toán quản trị


truyền thống mà chưa nghiên cứu các phương pháp hiện đại. Bên cạnh đó, hầu
hết các công trình nghiên cứu (trừ công trình của tác giả Phạm Ngọc Toàn) còn
rất ít số liệu khảo sát các doanh nghiệp, do vậy các nhận định nghiên cứu phần
nhiều còn mang tính chủ quan của tác giả. Gần đây, các công trình nghiên cứu
ứng dụng kế toán quản trị trong các ngành cụ thể đã được nhiều tác giả nghiên
cứu. Kết quả nghiên cứu của các công trình trên cho thấy, đối với các ngành
nghề khác nhau, các doanh nghiệp sử dụng các phương pháp kế toán quản trị
khác nhau để phục vụ cho những mục đích quản trị cụ thể của doanh nghiệp.
Trong các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị trong các ngành cụ
thể, chỉ có 8 công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí. Hầu hết các tác
giả đều có nhận định rằng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp Việt
Nam chưa được coi trọng và đầu tư đúng mức. Các doanh nghiệp chủ yếu sử
dụng hệ thống kế toán tài chính sẵn có chứ chưa xây dựng hệ thống kế toán
quản trị riêng để cung cấp thông tin phục vụ cho các quyết định quản trị của
doanh nghiệp. Việc phân bổ các chi phí sản xuất gián tiếp thường được tiến
hành theo các tiêu thức phân bổ chủ quan của doanh nghiệp, các báo cáo kế
toán quản trị được lập chủ yếu để phục vụ cho các quyết định ngắn hạn chứ
chưa phục vụ cho các quyết định chiến lược của doanh nghiệp. Điều này cho
thấy Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá lớn với các nước trong khu vực
Đông Nam Á trong việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí trong các
doanh nghiệp. Có thể liệt kê một số điểm còn hạn chế
của các nghiên cứu:
- Rất ít các công trình nghiên cứu có đề cập tới tổng quan lý thuyết và nếu
có mới chỉ dừng lại ở tổng quan các công trình trong nước, chưa có tổng quan
về các công trình trên thế giới.
- Lý do vì sao các doanh nghiệp chưa đầu tư vào hệ thống kế toán quản trị chi
phí chưa được các tác giả tìm hiểu sâu, do vậy các giải pháp nghiên cứu còn mang
tính tổng quát, chưa cụ thể theo đặc thù của các doanh nghiệp, các ngành.
- Chưa có tác giả nào nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí trong các công
ty nhựa, trong khi các công ty nhựa mang đặc thù của các doanh nghiệp sản xuất,
6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP

2.1. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
2.1.1. Bản chất của kế toán quản trị chi phí
2.1.1.1. Khái niệm về kế toán quản trị chi phí
Theo tác giả, có thể đưa ra định nghĩa kế toán quản trị chi phí là bộ
phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp các
thông tin về chi phí phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp.
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển củ
a kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí luôn phát triển và biến đổi không ngừng theo bối
cảnh của lịch sử. Mặc dù, kế toán quản trị chi phí đã xuất hiện môt cách sơ
khai từ thế kỷ 13,14 tại Anh và Mỹ nhưng phải đến thế kỷ thứ 19 thì kế toán
quản trị chi phí mới phát triển vượt bậc với một loạt các phát minh về kế toán
quản trị
chi phí.Trong thế kỷ 20, những bước tiến mới về lý thuyết kế toán
quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng diễn ra khá chậm chạp
mặc dù môi trường kinh doanh và sản xuất trong thời kỳ này có nhiều biến
động. Tuy nhiên đây lại là giai đoạn có nhiều tổng kết, đánh giá về các
phương pháp kế toán quản trị chi phí mà các doanh nghiệp đang áp dụng. Từ
đó, các nghiên cứu đã cho thấy những bất cập của những phương pháp kế toán
quản trị chi phí truyền thống và một loạt các phương pháp kế toán quản trị chi
phí hiện đại ra đời. Thời kỳ này cũng cho thấy Mỹ và Anh không còn là hai
quốc gia "thống trị" trong việc cung cấp những lý thuyết và thực tế nhiều nhất
về kế toán quản trị chi phí cho thế giới mà còn có Nhật Bản với hai phát minh
quan trọng là phương pháp xác định chi phí mục tiêu và phương pháp Kaizen.

phần tổng quan. Theo quan điểm của tác giả, việc học hỏi và vận dụng hệ
thống kế toán quản trị chi phí của các nước khác cũng cần có thời gian và lộ
trình, đồng thời tận dụng đặc điểm là quốc gia đi sau nên các doanh nghiệp
Việt Nam cũng cần nghiên cứu các kỹ thuật của kế toán quản trị chi phí với
cách thức " đi tắt, đón đầu". Trước mắt, khi mà hệ thống kế toán quản trị chi
phí còn khá đơn giản, Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm về kế toán quản trị
chi phí tại Anh, Mỹ và Nhật Bản. Đây là những quốc gia mà kế toán quản trị
chi phí phát triển cả lý luận lẫn thực tiễn, đồng thời cũng học hỏi các quốc gia
trong khu vực, những nơi có nhiều đặc điểm khá tương đồng với Việt Nam.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên, định hướng phát triển kế toán quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam cần hướng đến tính
linh hoạt, hiệu quả và đảm bảo quyền tự chủ tối đa trong doanh nghiệp. Trước
hết các doanh nghiệp cần phải nhận thức được rằng một hệ thống kế toán quản
trị chi phí hiệu quả là một nhu cầu tự thân để có thể phát triển bền vững và
cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay, tránh tình
trạng làm cho có và làm chỉ để đáp ứng các quy định.
8
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

3.1. Những đặc trưng cơ bản của ngành nhựa Việt Nam
3.2. Thực tế kế toán quản trị chi phí tại các công ty cổ phần nhựa niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát (phụ lục 01C), có thể thấy thực tế kế
toán quản trị chi phí tại các công ty cổ phần nhựa niêm yết như sau:
3.2.1. Về phân loại chi phí

 Đối với định mức chi phí sản xuất chung
Đối với chi phí nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ dùng chung cho phân
xưởng sản xuất, các công ty chủ yếu là khoán số lượng cho các phân xưởng.
Đối với chi phí điện dùng cho sản xuất có 66,67% các công ty xây dựng định
mức theo mức tiêu hao điện năng theo thiết kế máy. Các chi phí khác như chi
phí khấu hao máy móc thiết bị và nhà xưởng, chi phí lương và chi phí nước
dùng cho sản xuất không tiến hành xây dựng định mức (phụ lục 01C, 02).
 Đối với định mức chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Ngoại trừ chi phí xăng dầu được xây dựng định mức theo chỉ số tiêu hao
thiết kế của xe, các chi phí khác như chi phí công cụ dụng cụ dùng cho bán
hàng và quản lý, chi phí điện, nước, điện thoại, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi
phí tiếp khách và công tác phí đều được các công ty cổ phần nhựa khoán cho
bộ phận. Các chi phí khác liên quan đến bán hàng và quản lý doanh nghiệp
chưa thực hiện việc xây dựng định mức.
3.2.2.2. Về lập dự toán chi phí
Kết quả khảo sát ở các công ty nhựa niêm yết cho thấy hiện nay lịch sản
xuất của các công ty khá bị động theo các đơn đặt hàng của khách hàng nên
hầu hết các công ty chưa chủ động lập kế hoạch sản xuất. Có tới 66,67% các
công ty không tiến hành lập kế hoạch sản xuất trong khi việc lập kế hoạch sản
xuất lại là cơ sở cho việc xây dựng dự toán chi phí sản xuất. Bên cạnh đó các
công ty nhựa mới chỉ xây dựng được định mức chi phí cho một số khoản mục
chi phí cơ bản nên việc lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh hầu như chưa
được thực hiện. Tại các công ty sản xuất các sản phẩm hàng loạt như công ty
nhựa Tiền Phong, nhựa Đông Á chưa lập dự toán hoàn chỉnh mà mới chỉ dừng
lại ở việc lập dự toán khối lượng mua NVL trực tiếp trên cơ sở chính sách dự
trữ NVL tồn kho ở mức nhu cầu nhựa trung bình sử dụng trong ba tháng. Tại
các công ty sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng như công ty nhựa Rạng
Đông, nhựa Tân Tiến, nhựa Tân Phú, Bao bì Vinh, nhựa Sài Gòn có tiến hành
việc lập dự toán cho từng đơn hàng để làm cơ sở báo giá cho khách hàng và để
giám sát quá trình sản xuất. Ngoài ra, tại công ty nhựa Rạng Đông cũng đã

lệch nhiều do sản lượng sản xuất giữa các tháng/quý là khác nhau phụ thuộc
vào nhu cầu đặt hàng và sản lượng tiêu thụ từng thời kỳ.
Đối với việc tính giá thành, tại các công ty nhựa Tiền Phong, Bình Minh và
các công ty sản xuất ống nhựa khác, đối tượng tính giá thành là các nhóm sản
phẩm hoàn thành (ống nhựa u.PVC, ống nhựa PEHD các kích cỡ), các nhóm
sản phẩm này đều được quy đổi về kilogram hoặc tấn sản phẩm sản xuất để tính
giá thành, sau đó căn cứ vào định mức kỹ thuật của từng sản phẩm để tính giá 11
thành cho từng sản phẩm. Phương pháp tính giá là phương pháp chi phí thực tế.
Sau khi đã lập thẻ tính giá thành từng loại sản phẩm, các công ty cổ phần nhựa sẽ
lập bảng kê tổng hợp giá thành của tất cả các sản phẩm hoàn thành.
3.2.3.2. Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí khác
Tất cả các chi phí ngoài sản xuất được tập hợp chung vào tài khoản chi
phí bán hàng và chi phí quản lý của các công ty. Việc xác định chi phí cho các
đối tượng chịu phí khác chưa được thực hiện.

3.2.4. Về phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí
Tại các phân xưởng sản xuất sản phẩm, đối với mức biến động tiêu hao
nguyên vật liệu trực tiếp, do tính trọng yếu của chi phí NVL trực tiếp trong
tổng chi phí của công ty nên các phân xưởng đã theo dõi và báo cáo khá
thường xuyên mức tiêu hao nguyên vật liệu thực tế so với định mức kỹ thuật.
Do chi phí nhân công được xây dựng định mức/kg nhựa thành phẩm để trả
lương cho CNV của từng phân xưởng sản xuất nên không có sự chênh lệch
giữa mức chi phí nhân công thực tế phát sinh và mức dự kiến. Tại mỗi phân
xưởng đều có bảng chấm công theo dõi thời gian lao động của từng công nhân,
tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tính lương cho từng cá nhân mà chưa được sử dụng
để phân tích biến động năng suất lao động và biến động giá nhân công trong kì.
Các chi phí điện, nước dùng cho sản xuất mặc dù cũng đã có định mức nhưng

thông thường (chi phí hạt nhựa cộng thêm khoảng 17 triệu đồng/tấn nhựa
thành phẩm).
3.3. Đánh giá về thực tế kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần
nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán
Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, kế toán quản trị chi phí trong các
công ty cổ phần nhựa niêm yết còn tồn tại một số hạn chế sau:
Với cách phân loại chi phí như hiện nay tại các công ty thực sự chưa giúp
cho việc quản trị chi phí trong doanh nghiệp mà chỉ giúp ích cho công tác tính
giá thành sản phẩm. Bên cạ
nh đó, việc xác định các nguồn phát sinh chi phí
phù hợp với từng loại chi phí cũng cần được các công ty chú trọng bởi công
tác này là cơ sở cho việc xây dựng định mức và lập dự toán chi phí hợp lý tại
các công ty đồng thời cũng giúp cho các công ty xác định chính xác chi phí
cho từng đối tượng chịu phí. Như đối với chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp, một số khoản mục chi phí mang tính chất biến đổi như chi phí
hoa hồng, chi phí tiếp khách, chi phí đi
ện thoại.v v hiện đều được trích lập
theo tỷ lệ với doanh thu hoặc theo hình thức khoán chi phí trong khi những chi
phí này có nguồn phát sinh chi phí khác nhau.
Công tác xây dựng định mức và lập dự toán các yếu tố chi phí sản xuất
kinh doanh tại các công ty cổ phần nhựa chưa được thực hiện một cách toàn
diện và chưa đem lại hiệu quả thực sự cho công ty: Định mức chi phí mới chỉ 13
được các công ty lập cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và là định mức về
kỹ thuật. Mặc dù đã xây dựng định mức kỹ thuật về chi phí nguyên vật liệu
nhưng hầu hết các công ty lại chưa lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp. Các chi phí còn lại chưa lập định mức và xây dựng dự toán.
Việc xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí chưa chính xác và chưa

động chi phí của từng phòng ban trong các công ty nhựa chưa được thực hiện. 14
Nhà quản lý các cấp tại công ty cổ phần nhựa niêm yết hầu như chưa sử
dụng việc phân tích thông tin chi phí để ra các quyết định: Có thể thấy rằng,
việc các công ty cổ phần nhựa niêm yết không tiến hành lập dự toán về chi phí
một cách đầy đủ và chính xác, không xác định chi phí cho từng hợp đồng,
khách hàng, thì không thể kiểm soát chặt chẽ được chi phí cho các đối tượng
này, do đó cũng không thể đánh giá khả năng sinh lời của các đối tượng. Đối
với phân xưởng cơ điện là một bộ phận hoạt động kém hiệu quả, các công ty
cổ phần nhựa cũng không sử dụng thông tin chi phí để ra quyết định nhằm cấu
trúc lại bộ phận này. Có thể thấy rằng việc phân tích chi phí tại các công ty cổ
phần nhựa niêm yết chưa được thực hiện để phục vụ cho việc ra các quyết
định ngắn hạn của các công ty. Đối với các quyết định dài hạn của nhà quản
trị như: Đầu tư tài sản mới, mở rộng quy mô sản xuất, thuê mua tài sản việc
phân tích chi phí không được sử dụng để ra quyết định mà nhà quản trị chủ
yếu quyết định đầu tư dựa trên quy mô phát triển của doanh nghiệp, đơn đặt
hàng của khách hàng, khả năng tài chính hiện tại của doanh nghiệp hay tận
dụng các ưu đãi của Nhà nước để đầu tư. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Nhu cầu về thông tin và các nguyên tắc hoàn thiện kế toán quản trị chi
phí trong các công ty cổ phần nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam

nhựa niêm yết có thể xác định được giá nguyên vật liệu đầu vào nếu công ty sử
dụng công cụ phòng ngừa rủi ro (hedging). Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
phương án xác định đơn giá dự kiến cho nguyên vật liệu mua vào dùng cho sản
xuất bằng việc hạn chế rủi ro chi phí nguyên vật liệu đầu vào thông qua vi
ệc sử
dụng công cụ phái sinh (derivatives). Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của
các doanh nghiệp nhựa trên thế giới trong quá trình quản trị biến động chi phí
nguyên liệu đầu vào, tác giả cho rằng các công ty cổ phần nhựa niêm yết, trước
hết là các công ty có quy mô, thị phần lớn trong ngành như Nhựa Tiền Phong,
Nhựa Bình Minh, Nhựa Tân Tiến có thể nghiên cứu việc thực hiện mua nguyên
vật liệu theo các hợp đồng tương lai (futures)
. Đối với định mức chi phí sản
xuất chung, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp sẽ được lập dựa trên lịch
sử chi phí phát sinh từ các kỳ trước và số dự kiến phát sinh trong kỳ này do các
bộ phận trong công ty và ban giám đốc tính toán. Dựa vào cơ sở phân loại chi
phí thành biến đổi và cố định, các chi phí này trong các công ty sẽ được lập
theo từng nơi phát sinh chi phí như từng nhóm sản phẩm, phân xưởng sản xuất,
khu vực sản xuất hay từng đơn hàng, khách hàng, phòng ban trong công ty.
16
4.2.2.2. Về lập dự toán chi phí
Căn cứ để tính mức dự toán chi phí sản xuất kinh doanh là dự toán sản xuất
của các công ty nhựa. Dự toán sản xuất được lập dự trên thông tin do bộ phận
bán hàng, bộ phận kinh doanh trong công ty cung cấp về dự báo thị trường trong
và ngoài nước, số liệu sản xuất các kỳ trước, mức dự trữ sản phẩm kỳ này và số
lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến, từ đó xác định số lượng sản phẩm cần sản xuất
trong kỳ tới.
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dùng để xác định những loại

17
hoa hồng tính theo doanh thu tiêu thụ, chi phí điện thoại, internet tính theo số
lượng đơn hàng, lương nhân viên tiếp nhận đơn hàng và bán hàng tính theo
doanh thu, lương nhân viên chăm sóc khách hàng tính theo số lượng hợp đồng
theo dõi (phần lương biến đổi). Các chi phí khác phát sinh trong bộ phận bán
hàng như lương cơ bản, các khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng, chi
phí điện, nước, chi phí văn phòng phẩm, khấu hao tài sản cố định được coi là
chi phí cố định của bộ phận bán hàng trong các công ty cổ phần nhựa niêm yết.
- Dự toán chi phí quản lý: Chi phí quản lý doanh nghiệp trong các công
ty cổ phần nhựa chủ yếu là chi phí cố định ngoại trừ chi phí tiếp khách tính
theo số lượng hợp đồng, chi phí xăng dầu cho xe tính theo độ dài quãng đường
và chi phí điện thoại có nguồn phát sinh chi phí là số lượng cuộc gọi.
4.2.3. Về xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí
4.2.3.1 Đối với đối tượng chịu phí là các sản phẩm
a) Đối với các sản phẩm các công ty cổ phần nhựa đang nghiên cứu
để đưa vào sản xuất kinh doanh
 Áp dụng phương pháp xác định chi phí theo mục tiêu đối với các công
ty có đặc điểm là công ty chấp nhận giá và đang nghiên cứu sản xuất sản
phẩm mới
 Áp dụng phương pháp xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm
đối với sản phẩm ống nhựa Nano phân tử của công ty nhựa Tiền Phong
b) Đối với các sản phẩm các công ty cổ phần nhựa đã và đang tiến
hành sản xuất kinh doanh
Hiện tại tất cả các công ty đều xác định đối tượng chịu phí là sản phẩm
sản xuất và tính giá thành sản xuất các sản phẩm hoàn thành. Tuy nhiên việc
tính giá thành sản phẩm chưa chính xác. Do đó, công ty nên nghiên cứu áp
dụng phương pháp xác định chi phí theo hoạt động (ABC) để tính chính xác
chi phí khuôn mẫu, chi phí khởi động lại dây chuyền cho những loại sản phẩm
nào mà thực tế phải gánh chịu các chi phí này. Cụ thể:
- Các chi phí khuôn mẫu, khởi động lại dây chuyền sản xuất được tính là

Dựa vào quy trình thực hiện đơn hàng tại công ty nhựa Rạng Đông, các
chi phí ngoài sản xuất sẽ được nhóm vào các nhóm hoạt động là (1) Nhận đơn
hàng, (2) Thực hiện đơn hàng, (3) Dịch vụ sau bán hàng.
(1) Nhận đơn hàng: Chi phí nhân viên: Đối với nhân viên tiếp nhận đơn
hàng bao gồm lương cố định hàng tháng và lương trả theo đơn hàng khai thác.
Lương cố định sẽ xác định là cấp độ duy trì tổ chức. Lương trả theo đơn hàng
khai thác tính theo % doanh thu đơn hàng; Công tác phí: Tính theo số lượng
đơn hàng thực hiện; Chi phí chào mẫu: Là các chi phí phát sinh khi thực hiện
thử sản phẩm để gửi tới khách hàng. Vì các mẫu hàng có độ phức tạp khác 19
nhau nên chi phí này tính theo thời gian thực hiện mẫu hàng; Chi phí tiếp thị:
Tính theo số lượng đơn hàng.
(2) Thực hiện đơn hàng:Chi phí nhân viên: Đối với nhân viên vận chuyển
hàng tiêu thụ bao gồm lương cố định hàng tháng và lương trả theo khối lượng
công việc thực hiện. Lương cố định xác định là cấp độ duy trì tổ chức. Lương
trả theo công việc tính theo doanh thu từng đơn hàng thực hiện; Chi phí vận
chuyển: Bao gồm chi phí xăng dầu và khấu hao phương tiện vận chuyển. Đối
với chi phí xăng dầu tính theo độ dài quãng đường vận chuyển cho đơn hàng.
Khấu hao phương tiện vận chuyển hiện được công ty Rạng Đông tính theo
phương pháp đường thẳng nên xác định là cấp duy trì tổ chức; Hoa hồng môi
giới: Tính theo doanh thu của đơn hàng; Chi phí điện thoại, internet: Tính theo
số lượng đơn hàng.
(3) Dịch vụ sau bán hàng: Chi phí bảo hành sản phẩm tính theo doanh
thu đơn hàng; Các chi phí còn lại phát sinh tại bộ phận bán hàng và quản lý
doanh nghiệp được xác định là các chi phí thuộc cấp độ duy trì tổ chức.
 Đối với đối tượng chịu phí là từng khách hàng
Các công ty cổ phần nhựa cần xác định chi phí phục vụ cho từng khách
hàng nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế mà từng khách hàng mang lại cho công

Như vậy, việc áp dụng ABC sẽ giúp các công ty cổ phần nhựa niêm yết
xác định chính xác các chi phí cho từng đối tượng chịu phí phù hợp với đặc
thù sản xuất và quản trị của mỗi công ty. Về tổ chức bộ máy kế toán, tác giả
cho rằng các công ty cổ phần nhựa niêm yết tại Việt Nam nên áp dụng phương
pháp xác định chi phí theo hoạt động song hành với hệ thống kế toán tại công
ty. Để tránh xáo trộn đến công tác lập và công bố báo cáo tài chính, các hệ
thống kế toán hiện hành vẫn nên được sử dụng song hành với hệ thống kế
toán quản trị chi phí để cung cấp thông tin cho các nhà quản lý.
4.2.3.3 Áp dụng phương pháp ước lượng sản lượng tương đương trong đó sử
dụng phương pháp nhập trước – xuất trước để xác định giá trị SP dở dang
Chỉ có phương pháp nhập trước xuất trước mới giúp cho công ty xác định
được chi phí từng kỳ để kiểm soát tốt chi phí. Theo phương pháp này, khoản
mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp/chi phí nguyên vật liệu chính được tính
toàn bộ 100% vào giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp hiện tại tại các
công ty sản xuất bao bì nhựa đang áp dụng, nhưng chi phí này được tách biệt
giữa các chi phí phát sinh kì trước và các chi phí phát sinh kì này, từ đó sẽ
giúp các công ty đánh giá rõ ràng việc kiểm soát khoản mục chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp trong từng kì tại các phân xưởng sản xuất bao bì. Đối với
khoản mục chi phí chế biến, các công ty sẽ dựa vào định mức kinh tế kĩ thuật
của qui trình sản xuất bao bì nhựa với hai giai đoạn ghép màng và làm túi để
ước lượng mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang. Các chi phí chế biến
cũng tiếp tục được tách biệt giữa phần đã phát sinh kì trước với phần phát sinh
trong kì này. Từ đó, các công ty sản xuất bao bì nhựa có thể lập báo cáo chi 21
phí sản xuất phân xưởng bao bì để tổng hợp tình hình chi phí sản xuất phát
sinh trong phân xưởng từng tháng.
4.2.4. Về phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí
- Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Nguyên nhân phát sinh chênh


22
4.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp
4.3.1. Về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng
Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ các công ty trong đào tạo nhân lực,
nghiên cứu, triển khai và phát triển hệ thống kế toán quản trị. Bên cạnh đó, nhà
nước nên khuyến khích và tạo điều kiện để các công ty có quyền tự chủ tối đa
trong việc thiết lập hệ thống kế toán quản trị chi phí phù hợp với đặc điểm hoạt
động của công ty, không nên can thiệp quá sâu bằng hệ thống các quy định,
chính sách cứng nhắc.
Về phía Hội kế toán Việt Nam và Hiệp hội nhựa Việt Nam, hiện tại hai tổ
chức trên hầu như chưa có sự kết nối thông tin. Hiệp hội nhựa thường xuyên
mở các khóa đào tạo về chuyên môn ngành sản xuất nhựa cho các doanh nghiệp
nhưng lại chưa có các khóa đào tạo về kế toán, đặc biệt về kế toán quản trị chi
phí cho các doanh nghiệp nhựa. Do đó, hai tổ chức cần có mối liên hệ chặt chẽ,
nâng cao trình độ kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp nhựa, trên cơ sở
đó giúp các công ty cổ phần nhựa nhận thức đúng vai trò và tác dụng của kế
toán quản trị chi phí trong công tác quản trị tại các công ty.
Đối với các cơ sở đào tạo kế toán, cần có sự cập nhật kiến thức kế toán
quản trị chi phí hiện đại, cải tiến chương trình giáo dục về kế toán quản trị chi
phí, đẩy mạnh việc kết hợp giảng dạy giữa lý thuyết và thực hành, xây dựng
phòng kế toán ảo để sinh viên làm quen với các tình huống thực tế. Bên cạnh
đó, thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn về kế toán quản trị chi phí
để những người đang làm công tác kế toán có thể tham gia và nâng cao kiến
thức của mình về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp.
4.3.2. Về phía các công ty cổ phần nhựa niêm yết
 Để xây dựng một hệ thống kế toán quản trị hiệu quả, phù hợp với quy
mô và loại hình sản xuất, các công ty cần hoàn thiện quy trình và hệ thống
quản lý chất lượng sản xuất kinh doanh để làm cơ sở định hướng thiết kế và
xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phù hợp.

hợp sẽ là tiền đề quan trọng để áp dụng hiệu quả hệ thống kế toán quản trị chi
phí tại các công ty. Hiện nhiều công ty vẫn chưa sử dụng một hệ thống phần
mềm quản trị thống nhất mà chỉ mới áp dụng phần mềm chuyên biệt cho công
tác kế toán. Do đó s
ố liệu cung cấp thường chỉ là những số liệu về kế toán,
chưa có những số liệu chéo từ các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp.
Điều này dẫn đến số liệu cung cấp cho quản lý còn chưa chính xác và kịp thời.
Do vậy, các công tycần nghiên cứu và đầu tư vào các phần mềm quản trị
doanh nghiệp, trong đó có tích hợp phần mềm kế toán quản trị chi phí để đảm
bả
o cung cấp thông tin kế toán phù hợp cho nhà quản lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status