1
MỞ ĐẦU
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
I.
Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn
đến năm 2050 đề ra mục tiêu đến năm 2015, 85% tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt
đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 60% được tái
chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ. Mục tiêu này đòi
hỏi cần phải có một hệ thống quản lý chất thải tiên tiến hơn với nhiều giải pháp
đồng bộ, trong đó phân loại chất thải rắn tại nguồn (PLCTRTN) là một trong những
giải pháp quan trọng, có nhiều lợi ích với các giải pháp khác và mang nhiều ý nghĩa
về mặt kinh tế, xã hội, môi trường, tài nguyên và càng quan trọng hơn đối với các
đô thị lớn như Tp. HCM.
Chương trình thí điểm PLCTRTN ở Tp. HCM trước đây đã được tiến hành tại
quận 5 vào khoảng năm 2000 và quận 6 vào năm 2006, cho đến nay được đánh giá
là chưa thành công với nhiều lý do khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, với những ý
nghĩa tích cực về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, chương trình PLCTRTN cần
phải được tiếp tục nghiên cứu thực thiện.
“Chương trình thí điểm phân loại chất thải rắn tại nguồn” (Khu vực được lựa
chọn thí điểm là tổ 1, tổ 2 phường Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM) được triển khai là
nội dung hợp tác trong lĩnh vực môi trường giữa Tp. HCM và Tp. Osaka (Nhật
Bản). Đây là tiếp nối có hệ thống, khởi động lại chương trình PLCTRTN mà Tp.
HCM đã bắt đầu từ năm 2000 sau một thời gian bị gián đoạn. Vì vậy, việc xác định
lại những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức gặp phải của chương trình thí
điểm lần này là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Đó chính là lý do nhóm sinh viên chúng em chọn đề tài “Xác định những thuận
lợi và khó khăn khi thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại phường
Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa của
- Sở khoa học công nghệ và môi trường thành phố Hồ Chí Minh (2006), Nghiên cứu
ứng dụng quá trình nhiệt phân để xử lý thành phần hữu cơ trơ trong chất thải rắn
sinh hoạt tại Tp. Hồ Chí Minh theo hướng sản xuất vật liệu, Nguyễn Quốc Bình;
- Sở khoa học công nghệ và môi trường thành phố Hồ Chí Minh (2003), Đánh giá
tính kỹ thuật, kinh tế và tác động môi trường của các vị trí được lựa chọn làm khu
xử lý chất thải rắn của Thành phố Hồ Chí Minh;
- Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim Phượng (2011)“Mô hình phân loại chất
thải tại hệ thống siêu thị Coop.mart Tp. HCM”.
III.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.
Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt.
3.2.
Phạm vi nghiên cứu: Các hộ dân tại tổ 1, tổ 2 phường Bến Nghé, quận 1.
3
IV.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1.
Tổng quan về tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Tp. HCM.
5.3.
Tổng quan về chương trình thí điểm phân loại chất thải rắn tại nguồn theo
hợp tác thỏa thuận giữa Tp. HCM và Tp. Osaka.
5.4.
Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội phường Bến Nghé,
quận 1, Tp. HCM.
5.5.
Kết quả phân loại chất thải rắn tại nguồn tại tổ 1, tổ 2 phường Bến Nghé,
quận 1.
5.6.
Đánh giá kết quả phân loại chất thải rắn tại nguồn tại khu vực triển khai.
5.7.
Nhận diện những khó khăn và thuận lợi khi triển khai chương trình phân loại
chất thải rắn tại nguồn tại khu vực triển khai.
VI.
khi con người không muốn sử dụng nữa.
1.1.1.2. Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt
động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan trường
học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
1.1.1.3. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn
Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn (PLCTRSHTN) là tách CTRSH
thành nhiều loại khác nhau nhằm thu hồi lại các thành phần có ích trong CTRSH mà
chúng có thể được sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới dưới dạng vật chất
hoặc năng lượng, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng.
Việc phân loại CTRSH góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sinh
dẫn đến hạn chế việc khai thác các tài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải
phải vận chuyển, xử lý và do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải,
tiết kiệm mặt bằng cho việc chôn lấp rác. Đồng thời kích thích sự phát triển của
ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu
nhập cho nhiều lao động.
1.1.2.
Nguồn gốc phát sinh, thành phần, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
1.1.2.1. Nguồn gốc phát sinh
6
Bảng 1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn
Hoạt động hoặc vị trí phát sinh
thực phẩm, thủy tinh, kim
khách sạn, siêu thị, văn phòng, cửa loại, đồ điện tử gia dụng,… Ngoài
hàng sửa chữa,…
ra còn có một khối lượng nhỏ các
chất thải nguy hại.
Cơ quan, Các cơ quan, trường học, nhà tù, Giấy, dụng cụ học tập, bao bì, vỏ
công sở
văn phòng làm việc,…
hộp, hóa chất phòng thí nghiệm,
đồ văn phòng, nhựa, thủy tinh,…
Chợ
Các hoạt động mua bán ở các chợ.
Chủ yếu là rác hữu cơ như rau,
củ, quả còn thừa hoặc hư hỏng;
bao nilon, carton, giấy,…
7
Hình 1.1. Tỷ lệ các nguồn phát sinh CTRSH tại Tp. HCM năm 2010
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2010)
1.1.2.2. Khối lượng
1.540
32,0%
1994
719.889
1.972
28,0%
1995
978.084
2.680
35,8%
1996
1.058.468
2.900
8,2%
1997
2001
1.369.358
3.752
7,7%
8
Năm
Khối lượng chất thải rắn đô thị
Tỉ lệ tăng hàng
2002
1.568.476
4.700
năm
(%)
14,5%
2003
1.788.500
1.971.421
5.401
3,9%
2008
2.021.593
5.538
2,5%
2009
2.121.819
5.813
4,9%
2010
2.372.500
6.500
7,4%
3
Giấy
8
4
Các loại khác
3
(Nguồn: Viện kỹ thuật Nhiệt Đới & Bảo Vệ Môi Trường, tháng 12/2003)
9
Hình 1.2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Tp. HCM
a)
Chất thải rắn hữu cơ (Chất thải thực phẩm)
Chất thải thực phẩm được phân loại để sản xuất phân compost và khí methane.
Nếu có thể tái sử dụng lại toàn bộ rác thải này thì vấn đề nan giải về diện tích chôn
lấp và những khó khăn trong giải quyết các vấn đề môi trường tại bãi chôn lấp sẽ
giảm đáng kể.
Hầu hết các hệ thống sản xuất compost đều bắt nguồn từ việc phân loại các vật
liệu có khả năng tái chế, kim loại, những chất độc hại, sau đó nghiền nhỏ đến kích
thước thích hợp và tách các thành phần tạp chất khác. Sản phẩm của quá trình
composting thường dùng làm chất cải tạo đất.
Trong thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đình, ngoài rác thực
phẩm, plastic (nhựa), giấy và carton thì còn có các loại rác khác như thủy tinh, gỗ,
vải, cao su thuộc da, tro, xỉ than,.... Chúng chiếm khoảng 3 – 4%, trong đó chủ yếu
là thủy tinh (miểng chai). Các loại chai lọ nguyên hầu như được người dân tái sử
dụng hoặc bán phế liệu.
Tuy nhiên vì có các hoạt động phân loại, tái sinh và tái chế nên thành phần và tỷ
lệ chất thải sinh hoạt khi ra bãi chôn lấp bị thay đổi. Bảng sau cho ta biết thành phần
CTRSH ở 2 bãi chôn lấp lớn của Tp. HCM
Bảng 1.4. Thành phần chất thải rắn tại các bãi chôn lấp
Thành phần
STT
Phước Hiệp (%)
Đa Phước (%)
83,0 – 86,8
83,1 – 88,9
1
Thực phẩm
2
Vỏ sò, ốc, cua
Nilon
2,2 – 3,0
1,4 – 2,2
7
Nhựa
0,0 – 0,1
0,1 – 0,2
8
Vải
0,2 – 1,8
0,9 – 1,8
9
Da
0 – 0,02
0
0,4 – 0,5
0,4 – 0,5
0
0,2 – 0,3
12
Cao su cứng
13
Thủy tinh
14
Lon đồ hộp
15
Kim loại màu
0,1 – 0,2
0,1 – 0,2
16
20
Bông băng, tã giấy
0,9 – 1,1
0,5 – 0,9
21
Chất thải nguy hại (giẻ lau dính dầu,
0,1 – 0,2
0,1 – 0,2
bóng đèn huỳnh quang)
(Nguồn: Báo cáo cơ sở dữ liệu quản lý chất thải rắn – 2010, Sở Tài nguyên và Môi
trường Tp. HCM)
1.2.
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH
HOẠT Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mục đích đầu tiên của việc quản lí chất thải rắn là chuyển đúng lúc các chất thải
ra khỏi những nơi có người để ngăn ngừa sự bốc mùi hôi thối, sự phát sinh và lây
truyền bệnh dịch; để loại trừ các ảnh hưởng xấu đến môi trường và mỹ quan đô thị.
Mục đích thứ hai không kém phần quan trọng là để xử lí chất thải rắn bằng cách
Các công ty hạ
tầng KCN-KCX
Đơn vị
tái sử dụng/ tái
chế
Các loại chủ
nguồn thải
Đơn vị thu gom
và vận chuyển
Đơn vị xử lý
Hình 1.3. Sơ đồ cấu trúc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản
lý chất thải rắn tại Tp. HCM
(Nguồn: Sở tài nguyên và Môi trường Tp. HCM, 2013)
Việc xây dựng khung chính sách về quản lí chất thải rắn là nhiệm vụ của các cơ
quan nhà nước. Việc quyết định chính sách quản lí chất thải rắn cần phải làm rõ bốn
vấn đề cơ bản sau đây:
Phân loại và thu gom
Vận chuyển
Để có thể quản lý lượng chất thải đa dạng và khổng lồ, từ nhiều năm nay thành
phố đã hình thành một hệ thống kỹ thuật thu gom từ nguồn phát sinh, trung chuyển
và vận chuyển, tái chế, xử lý và chôn lấp rộng khắp, phủ kín trên địa bàn 352
phường xã của 24 quận huyện. Các công ty và tổ chức hoạt động trong lĩnh
vực quản lý chất thải rắn đã đầu tư cơ sở vật chất to lớn và nhân lực đông đảo để
vận hành hệ thống trên với hơn 7.900 nhân công làm việc trong các công ty TNHH
MTV Dịch vụ công ích và Hợp tác xã (2.400 công nhân quét và vệ sinh đường phố,
1.500 công nhân thu gom rác công lập và 4.000 người thu gom rác dân lập), khoảng
12.000 nhân công làm việc trong các cơ sở tái chế, hơn 2.500 xe đẩy tay 660L,
14
1.000 xe ba/bốn bánh tự chế, 200 xe tải nhỏ 550 kg, 570 xe cơ giới các loại (trong
đó có 261 xe tải vận chuyển 4 – 15 tấn/xe), 40 bô/trạm trung chuyển, hơn 1.200 cơ
sở thu mua, phân loại và tái chế phế liệu.
Đặc biệt từ năm 2003 đến nay (2015), việc xây dựng và đưa vào hoạt động hàng
loạt các dự án như: khu liên hợp xử lý chất thải Tây Bắc – Củ Chi (687 ha); Đa
Phước – Bình Chánh (613 ha); nhà máy Tâm Sinh Nghỉa và Vietstar với khả năng
tiếp nhận xử lý và chôn lấp hơn 8.000 tấn chất thải rắn/ngày, đã phần nào giải tỏa
bớt áp lực mà Tp. HCM phải gánh chịu. Ngoài ra, dự báo khả năng tiếp nhận đến
14.000 – 16.000 tấn/ngày và cao hơn khi tất cả các dự án mới được triển khai sẽ
đảm bảo an ninh và an toàn xã hội trong công tác quản lý chất thải rắn cho tòa thành
phố đến năm 2025. Với hai loại hình công nghệ xử lý chất thải rắn là chôn lấp hợp
vệ sinh và sản xuất compost đang áp dụng và hoạt động ổn định, thành phố đã có đủ
điều kiện để chuyển sang giai đoạn thứ hai kêu gọi đầu tư các loại hình công nghệ
mới, tái chế cao hơn, đặc biệt là tái chế chất thải và tái sinh năng lượng (điện và
nhiệt), giảm tối đa lượng chất thải rắn đổ vào bãi chôn lấp.
1.2.1.
những hộ không có ở nhà vào thời gian đó, thường bỏ rác vào các túi nilon buộc
chặt, để trước cửa nhà.
Hình 1.6. Túi rác nilon để trước cửa nhà
Đối với các loại chất thải rắn có khả năng tái chế và có giá trị, một số hộ thường
lưu giữ riêng và bán ve chai. Tuy nhiên, việc phân loại chưa triệt để nên trong chất
thải rắn vẫn còn một lượng phế liệu nhất định, đây là nguồn thu nhập đáng kể cho
16
những người thu nhặt “ve chai” và kể cả các công nhân thu gom có thể bươi, móc
các bịch và thùng rác để tận thu phế liệu. Các phế liệu được treo trên các túi lớn bên
ngoài xe rác.
Trong chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình còn có các chất thải nguy hại như
bóng đèn huỳnh quang, pin, bình xịt côn trùng, nhớt xe đã sử dụng,…. Các chất thải
này hiện nay được người dân thải bỏ trực tiếp vào trong chất thải sinh hoạt. Chính
điều này làm cho chất lượng sản phẩm compost không cao, lẫn nhiều thủy tinh nên
không có thị trường tiêu thụ ổn định. Ngoài ra, công tác xử lý nước rỉ rác cũng gặp
nhiều khó khăn, hệ thống xử lý không ổn định.
Hình 1.7. Túi phế liệu treo trên xe rác
1.2.2.
Thu gom, trung chuyển và vận chuyển
1.2.2.1. Thu gom
a)
Lực lượng thu gom
thường làm việc một cách độc lập và thường không kí hợp đồng thu gom bằng văn
bản với các hộ dân. Chính quyền địa phương hầu như không thể quản lí được lực
lượng này, vì thế gây nhiều khó khăn trong công tác quản lí chung của thành phố.
b)
Phương tiện thu gom
Phương tiện được sử dụng để thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn Tp.
HCM khoảng hơn 200 ve tải nhỏ 550 kg, gần 1.000 xe 3,4 tấn bánh tự chế (xe lavi,
xe chuồng, xe ép, xe tải ben, xe hooklift có tải trọng từ 1 tấn đến 15 tấn) và hơn
2.500 thùng 660 lít.
Tuy nhiên dung tích chứa của các phương tiện hiện nay đều không đáp ứng
khối lượng rác được thu gom trong 1 chuyến, phần lớn các phương tiện đều cơi nới
cao lên. Các phương tiện này đều có khả năng thu gom rác với khối lượng lớn hơn
(gấp 1,5 đến 2 lần so với loại thùng 660 lít). Phần lớn phương tiện thu gom rác
không đạt vệ sinh, an toàn giao thông và mỹ quan đô thị và thuộc loại phương tiện
phải thay thế theo quy định của chính phủ. Chưa có chính sách hỗ trợ thiết thực để
chuyển đổi phương tiện.
1.2.2.2. Trung chuyển và vận chuyển
18
a)
Phương thức vận chuyển
Công ty Môi trường đô thị là đơn vị tổng thầu kí hợp đồng lại với các công ty
dịch vụ công ích tổ chức tiếp nhận, thu gom rác tại các điểm hẹn, các thùng rác
công cộng hoặc các điểm phát sinh rác bừa bãi trên đường phố. Sau đó sử dụng xe
tay, xe
ba
gác,
thùng
660 lít
Xe container
Xe ép > 4 tấn
Bãi chôn lấp
Bô trung chuyển
Xe ép > 4 tấn,
xe tải < 7 tấn
Xe ép > 4 tấn
Hình 1.8. Sơ đồ thu gom, trung chuyển, vận chuyển CTRSH tại Tp. HCM
19
1.2.2.3. Công tác xử lý chất thải
Bãi chôn lấp: chất thải rắn được tiếp nhận và chôn lấp hợp vệ sinh.
Nhà máy xử lý rác: chất thải được tiếp nhận, sau đó được phân loại để tận thu
phế liệu, phần chất thải thực phẩm được chế biến thành phân compost, và phần chất
thải rắn còn lại không có giá trị được chuyển về bãi chôn lấp Phước Hiệp để chôn
lấp hợp vệ sinh.
trong và ngoài Sở trên cơ sở nhu cầu của thực tế phát triển thành phố hiện tại và
tương lai;
Hoàn thiện các văn bản pháp qui làm cơ sở quản lý nhà nước;
Xác định số lượng và yêu cầu chất lượng, bổ sung và đào tạo đội ngũ cán
bộ công chức quản lý có “tầm” và có “tâm”;
Triển khai và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản
lý nhà nước;
Xã hội hóa cao hơn nữa, triệt để hơn nữa, kết hợp đẩy mạnh hợp tác quốc tế
để tìm kiếm công nghệ mới và nguồn tài chính đầu tư mới.
TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM PHÂN LOẠI CHẤT
1.3.
THẢI RẮN TẠI NGUỒN THEO HỢP TÁC THỎA THUẬN GIỮA THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ THÀNH PHỐ OSAKA
1.3.1.
Tổng quan các chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn ở thành
Chất thải rắn sau khi được phân loại đưa đến điểm hẹn hoặc trạm trung
chuyển Bà Lài và đưa đến bãi chôn lấp.
Qua mô hình triển khai như trên, ngày 1 tháng 4 năm 2008, Sở Tài nguyên và
Môi trường và Ủy ban nhân dân quận 6 đồng chủ trì cuộc họp sơ kết báo cáo kết
quả các nội dung triển khai thí điểm chương trình phân loại chất thải rắn tại quận 6.
Kết quả Sơ kết cũng chỉ ra những nội dung đạt được, những hạn chế và những bài
học kinh nghiệm để triển khai cho phân loại chất thải rắn sau này.
1.3.1.2. Chương trình PLCTR tại Chợ đầu mối Nông sản thực phẩm Bình Điền
(quận 8) năm 2011
Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn tại Chợ Bình Điền được triển
khai từ ngày 5 tháng 5 năm 2011. Để phù hợp với tình hình hoạt động và khối lượng
phát sinh chất thải rắn tại chợ, phương án triển khai phân loại chất thải rắn tại Chợ
Đầu mối Bình Điền được áp dụng như sau:
Chất thải rắn sinh hoạt được phân thành 02 loại: Chất thải rắn hữu cơ và
chất thải rắn còn lại.
Chất thải rắn hữu cơ: Giữ nguyên hiện trang như cũ, chất thải rắn hữu cơ
được chuyển ra trước sạp để công nhân thu gom.
Chất thải rắn còn lại: Tiểu thương tận dụng những dụng cụ có sẵn như: ky
nhựa, thùng xốp, túi nylon, cần xé, … để chứa chất thải rắn còn lại tại mỗi sạp và
không được để đổ chung chất thải rắn còn lại chung với chất thải rắn hữu cơ như
trước đây.
Thu gom: Công nhân tiếp nhận chất thải còn lại sau phân loại của các tiểu
Các tiểu thương không thực hiện phân loại chất thải theo như phương án
ban đầu đề ra do thời gian hoạt động của các tiểu thương diễn ra liên tục từ 0 giờ
đến 3 giờ, tiểu thương không thể vừa hoạt động kinh doanh vừa thải bỏ chất thải rắn
vào các dụng cụ tự trang bị. Qua đó nhận thấy rằng, ý thức của các tiểu thương
không cao về thải bỏ chất thải. Bên cạnh đó, công tác tập huấn chỉ thực hiện 01-02
lần cho các chủ tiểu thương và Ban quản lý mà chưa tuyên tryền mạnh đến những
người phụ việc của các sạp.
Diện tích sạp quá nhỏ không thể vừa đặt các dụng cụ phục vụ cho công việc
của tiểu thương vừa đặt dụng cụ lưu chứa chất thải đã phân loại.
Không thu hồi được giá trị kinh tế từ chất thải rắn còn lại được phân loại,
tái chế do các đơn vị tư nhân thu mua phế liệu bên ngoài Chợ đã thu gom. Lượng
chất thải hữu cơ tại trạm trung chuyển của chợ chiếm đến 95% tổng khối lượng,
thành phần chất thải còn lại chủ yếu là mouse xốp, dây buộc, nylon vụn bẩn.
Từ những khó khăn trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã điều chỉnh cách thức
phân loại, thu gom chất thải tại các sạp tiểu thương thông qua hình thức công nhân
thu gom chung chất thải rắn hữu cơ, chất thải rắn còn lại và phân loại tại trạm trung
chuyển của chợ do Công ty DVCI huyện Bình Chánh quản lý và sau đó, chất thải
được phân loại sẽ đưa về Công trường xử lý chất thải Đa Phước- Bình Chánh.
Từ quá trình thực hiện phân loại tại Chợ Đầu mối, Sở Tài nguyên và Môi
trường nhận thấy, hầu hết các chợ trên địa bàn Tp.HCM chất thải phát sinh chiếm
Thu gom: Chất thải rắn sau khi được phân loại đưa đến điểm hẹn hoặc lưu
giữ tại 02 trạm trung chuyển của Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị quản lý
hoặc chuyển trực tiếp đến nhà máy xử lý.
Tại nhà máy xử lý, chất thải rắn được tái chế theo mục đích: Chất thải rắn
hữu cơ làm nguyên liệu sản xuất phân compost, chất thải rắn còn lại chôn lấp hợp
vệ sinh.
1.3.1.4. Một số chương trình PLCTR tại nguồn năm 2014
Song song đó, từ năm 2014, Tp. Hồ Chí Minh cũng có kế hoạch triển khai một
số chương trình PLCTR tại nguồn như:
24
Chương trình PLCTRTN tại các KCN, KCX: Khu công nghệ cao (quận 9),
khu chế xuất Tân Thuận (quận 7).
Chương trình PLCTRTN tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng quận 7.Chương trình
PLCTRTN tại phường 12, quận 6.
1.3.2.
Mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn ở thành phố Osaka – Nhật
1.3.2.2. Hệ thống kỹ thuật phục vụ chương trình phân loại chất thải rắn tại
nguồn
Chất thải rắn tại hộ gia đình của thành phố Osaka được phân loại thành 04 loại
như sau:
Chất thải rắn sinh hoạt (chất thải này có kích thước dưới 30cm): bàn ủi,
máy sấy tóc, thực phẩm dư thừa, cây dù,…
Chất thải rắn tài nguyên: lon, chai thủy tinh, chai nhựa PET,…
25
Chất thải rắn từ vỏ hộp đựng bằng nhựa: hộp cơm nhựa, hộp đựng trứng,
khay nhựa, chén nhựa,…
Chất thải rắn cỡ lớn (bắt buộc thu phí): ghế, bàn, tủ, máy hút bụi, quạt, ghế
sofa,…
Cơ chế thu gom chất thải rắn tại hộ gia đình
Đối với bao bì chứa chất thải rắn đã phân loại:
chất thải hoặc trạm trung chuyển chất thải rắn tài nguyên và chất thải rắn từ vỏ hộp
đựng bằng nhựa tái chế cho các mục đích khác nhau. Hiện nay, có 09 nhà máy đốt