LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực
tiễn của các trường chuyên nghiệp ở nước ta nói chung và trường Đại học
Nông Lâm nói riêng. Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu của
sinh viên cuối khóa. Đây là quá trình nhằm giúp cho sinh viên có dịp cọ xát
với thực tế nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng thực hành. Từ đó giúp sinh viên
rèn luyện khả năng tổng hợp lại những kiến thức đã học vào thực tế để giải
quyết vấn đề cụ thể.
Nhằm hoàn thiện mục tiêu đào tạo kỹ sư Môi trường có đủ năng lực,
sáng tạo và có khả năng công tác. Được sự nhất trí của Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường cùng với
nguyện vọng của bản thân, tôi tiến hành đề tài “Đánh giá thực trạng quản lý
chất thải rắn sinh hoạt và đề xuất phương hướng quản lý chất thải rắn sinh
hoạt tại địa bàn xã Quyết Thắng –Thành phố Thái Nguyên ”. Trong thời gian
triển khai làm đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo
trong khoa Tài nguyên và Môi trường và đặc biệt là sự chỉ đạo của cô giáo ThS.
Dương Thị Thanh Hà cùng các bác, anh chị trong Uỷ ban nhân dân xã Quyết
Thắng.
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không tránh khỏi
có thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong có được sự đống góp ý kiến của thầy, cô giáo và
các bạn để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 8 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Thuỷ
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG BÀI KHÓA LUẬN
Bảng 2.1.Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị Việt Nam……….9
Bảng 4.1: Quy hoạch sử dụng đất của xã Quyết Thắng năm 2011………….19
Hình 4.8. Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp vi sinh
vật: hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt được bố trí theo sơ đồ sau …………...48
Hình 4.9. Quy trình quản lý, vận hành khu chôn lấp hợp vệ sinh…..………...51
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BVMT
: Bảo vệ môi trường
CT
: Chất thải
CTR
:Chất thải rắn
CTRSH
:Chất thải rắn sinh hoạt
3R
:Tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu rác thải sinh hoạt
MT
:Môi trường
TP
:Thành phố
UBND
:Uỷ ban nhân dân
HĐND
:Hội đồng nhân dân
MTTQ
:Mặt trận tổ quốc
QLCTRSH
:Quản lý chất thải rắn sinh hoạt
VSMT
:Vệ sinh môi trường
2.1.2.Các khái niệm về chất thải rắn .................................................... 5
2.2. Cơ sở pháp lý ................................................................................... 6
2.3. Cơ sở thực tiễn ................................................................................. 7
2.3.1.Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới ................ 7
2.3.2. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam .............. 8
2.4. Một số quy trình xử lý chất thải rắn đang được áp dụng tại Việt Nam
.............................................................................................................. 11
2.4.1. Công nghệ xử lý Seraphin ........................................................ 11
2.4.2. Chôn lấp .................................................................................. 12
2.4.3. Chế biến phân vi sinh (compost) .............................................. 13
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 16
3.1. Đối tượng và phạm vi , địa điểm và thời gian thực hiện ................... 16
3.1.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................. 16
3.1.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ................................................ 16
3.2. Nội dung nghiên cứu ...................................................................... 16
3.2.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quyết
Thắng ............................................................................................................... 16
3.2.2. Điều tra, đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn xã Quyêt Thắng ......................................................................... 16
3.2.3.Ý kiến của người dân về công tác QLCTRSH tại xã Quyết Thắng
.............................................................................................................. 16
3.2.4. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác QLCTRSH tại xã Quyết
Thắng ..................................................................................................... 16
3.2.5.Đề xuất một số giải quyết phù hợp với điều kiện thực tế của xã Quyết
Thắng ..................................................................................................... 16
3.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................ 16
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ....................................... 16
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng
tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch...
kéo theo mức sống của người dân ngày càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng
dân cư. Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của người dân
ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất.
Bên cạnh những mặt tích cực do phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân thì việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, xả thải các
chất độc hại vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường đã dẫn đến ô
nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân chủ yếu vẫn do
hoạt động sống của con người.
Chất thải rắn sinh hoạt là một phần của cuộc sống, phát sinh trong quá
trình ăn, ở, tiêu dùng của con người. Mức sống của người dân càng cao thì
việc tiêu dùng các sản phẩm của xã hội càng cao, điều đó đồng nghĩa với việc
gia tăng chất thải sinh hoạt. Mặt khác, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cho
đến nay mới chỉ đạt 60-80%, phần còn lại được thải tự do vào môi trường. Ở
nhiều nơi trên đất nước ta chất thải sinh hoạt là nguyên nhân chính phá vỡ cân
bằng sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí gây
bệnh cho con người cây trồng, vật nuôi, mất đi cảnh quan văn hoá đô thị và
nông thôn.
Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại hầu hết các thành phố,
thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh và
bảo vệ môi trường (BVMT). Không có những bước đi thích hợp, những
khuyết sách đúng đắn và những giải pháp đồng bộ, khoa học để quản lý chất
thải rắn trong quy hoạch, xây dựng và quản lý các đô thị sẽ dẫn đến những
hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, kéo theo những
mối nguy hại về sức khoẻ cộng đồng, hạn chế sự phát triển của xã hội.
trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
1.2.2. Mục tiêu của đề tài.
- Đưa ra cái nhìn tổng quát và phản ánh chính xác về các hoạt động thu
gom, phân loại, tái chế, và các phương pháp xử lý CTRSH trên địa bàn xã
Quyết Thắng.
- Đưa ra các số liệu đánh giá về khối lượng thành phần và mức độ ảnh
hưởng của CTRSH trên địa bàn xã Quyết Thắng.
- Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý CTRSH trên
địa bàn xã Quyết Thắng.
- Tìm hiểu các văn bản pháp quy có liên quan đến công tác QLCTRSH
tại xã Quyết Thắng.
3
- Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao
hiệu quả QLCTRSH tại xã Quyết Thắng.
1.2.3. Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu, thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy, trung thực,
khách quan, chính xác, đầy đủ, chi tiết.
- Mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn
nghiên cứu.
- Những giải pháp đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện
của xã.
1.2.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đây là điều kiện giúp
sinh viên tập luyện, vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Đánh giá những mặt còn hạn chế trong công
tác QLCTRSH. Từ đó giúp cho địa phương định hướng phương pháp
QLCTRSH trong thời gian tới.
thành phố) hay các hợp tác xã vệ sinh môi trường (ở các huyện, thị trấn). Rác
thải sinh hoạt được để chung trong các thùng đựng rác của các gia đình sau đó
chúng được đưa ra thùng đựng rác chung và được xe thu gom chuyển đến bãi
tập kết. Như vậy rác được thu gom hỗn hợp, điều này sẽ gây khó khăn cho
5
việc phân loại, xử lý ở giai đoạn sau. Theo thống kê của các cơ quan chức
năng, hiện tại phần lớn rác thải ở nước ta đang được xử lý theo phương pháp
chôn lấp, vừa gây ô nhiễm không khí, vừa gây ô nhiễm nguồn nước. Không
những thế phương pháp này còn gây lãng phí diện tích đất vốn đã rất khan
hiếm nhất là ở các đô thị. Mặc dù chi phí rẻ và thời gian xử lý ngắn nhưng về
lâu dài phương pháp này không hiệu quả. Một cách làm khác cũng được tính
đến đó là xử lý rác bằng công nghệ thiêu hủy. Đây là giải pháp đang được áp
dụng tại các nước phát triển. Mặc dù đó là công nghệ hiện đại nhưng với điều
kiện kinh tế nước ta thì chưa được áp dụng rộng rãi vì chi phí quá đắt. Để
khắc phục những nhược điểm trên, các chuyên gia môi trường đã lựa chọn
giải pháp xử lý rác bằng công nghệ sinh học là một quá trình khép kín, có thể
sử dụng để xử lý rác sinh hoạt, thức ăn thừa, xác động vật…quy trình này góp
phần giải quyết được tình trạng ứ đọng rác thải, góp phần làm sạch môi
trường (Phạm Văn Đó, 2007) [4].
2.1.2.Các khái niệm về chất thải rắn
“Chất thải là tất cả mọi thứ mà con người, thiên nhiên, quá trình mà con
người tác động vào thiên nhiên thải ra”. Chất thải là chất hoặc vật liệu mà chủ
hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng hoặc chúng bị thải bỏ.
Chất thải thường bị phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người,
trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông vận
tải tại hộ gia đình, các cơ quan trường học, nhà hàng, khách sạn.
Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các loại vật liệu, đồ vật
02/CP ngày 5/1/1995 về việc buôn bán có điều kiện các hoá chất độc,
các chất phóng xạ, chất thải và bán sản phẩm kim loại và hoá chất
nguy hại trong chất thải thị trường trong nước.
9. Thông tư 2891/KCM-TM ngày 19/2/1996 của Bộ Khoa học Công nghệ và
Môi trường quy định tạm thời về việc nhập khẩu phế liệu.
10. Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo quyết định số
155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ .
11. TCVN 6696-2000 Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu
chung Bảo vệ môi trường.
12. Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007của Chính phủ về quản lý
chất thải rắn.
7
13. Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 3/10/1996: Hướng dẫn thi hành nghị
định số 26/CP ngày 26/4/1996 về quy định xử phạt những hành vi vi
phạm luật Bảo vệ môi trường.
14. Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCMT-BXD: Hướng dẫn các
quy định về Bảo vệ môi trường đối với việc chọn địa điểm, xây dựng
và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn.
15. Quyết định số 13/2007/QĐ-BXD ngày 23/4/2007 của Bộ Xây dựng về
việc ban hành “ Định mức dự toán thu gom, vận chuyển và xử lý chôn
lấp rác thải đô thị.” (GS.TS Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [9]
16. Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND và Quyết định số 22/2010/QĐ-UBND,
ngày 20/8/2010 của UBND tỉnh về phân cấp nhiệm vụ Bảo vệ môi
trường trên địa bàn tỉnh;
17. Nghị quyết của HĐND tỉnh số 02/2010/NQ-HĐND và Quyết định của
UBND tỉnh số 11/2010/QĐ-UBND, ngày 10/6/2010 về quy định mức
thu mới và điều chỉnh một số loại phí thuộc tỉnh Thái Nguyên, trong đó
để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với công ty và ngay hôm sau
gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền.
+ Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác
rất hiệu quả. Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà
thầu. Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn
cụ thể trong thời hạn 7 năm. Singapore có 9 khu vực thu gom rác, rác thải
sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn. Công ty thu gom rác sẽ cung
cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo
chương trình tái chế quốc gia. (Lê Huỳnh Mai, Nguyễn Mai Phong 2009)[7]
2.3.2. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trong những năm qua, Việt
Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội. Từ
năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình quân đạt trên 7%/năm.
Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ. Tính đến tháng
6/2010 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà
Nội và TP. Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành
phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V
(thị trấn và thị tứ). Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh
đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã
tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát
thải rác tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính
trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị
đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các
khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý
(17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)... Các đô
9
0,84
8.000
2.920.000
2
Loại I
0,96
1.885
688.025
3
Loại II
0,72
3.433
1.253.045
4
Loại III
0,73
Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh
(5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị
đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại
II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là
tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65
kg/người/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị
phát triển du lịch như TP. Hạ Long 1,38 kg / người / ngày; TP. Hội An 1,08
kg / người / ngày; TP. Đà Lạt 1,06 kg/người/ngày; TP. Ninh Bình 1,30 kg /
người / ngày. Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người
thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã
Gia Nghĩa 0,35kg / người / ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg / người / ngày; Thị
xã Cao Bằng 0,38kg / người / ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân
đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg /
người / ngày
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát
sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối
cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng phát sinh
CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5
triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị
Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm). Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị trong
những năm tiếp theo vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020
khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều công nghệ xử lý rác, tuy nhiên giá
thành còn khá cao nên việc áp dụng ở Việt Nam và một số nước đang phát
triển là khá khó khăn. Nhưng từ năm 2003, khi công nghệ xử lý Seraphin do
Công ty cổ phần phát triển Môi trường xanh giới thiệu đã ứng dụng ở nhiều
địa phương như bãi rác Đông Vinh (Nghệ An), bãi rác Thuỷ Phương (Huế)
với công suất 200 tấn rác/ngày và bước đầu đã cho ngững kết quả khả thi.
Đây là công nghệ hoàn toàn mới lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới có khả
12
năng tái sinh 100% rác thải để mang lại nhiều nguồn lợi cho cuộc sống của
con người.
Có thể tóm tắt quá trình xử lý rác thải như sau: Ban đầu rác từ khu dân
cư được đưa tới nhà máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có hệ thống phun vi
sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại. Tiếp đến, băng tải sẽ
chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói. Rác tiếp tục đi qua hệ
thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọt xuống sàng lồng.
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô
cơ (kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt. Trong quá trình vận
chuyển này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm
khử mùi hôi, làm chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại. Sau
đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày. Buồng ủ có
chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi
khuẩn. Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi nhà ủ, tới hệ thống nghiền
và sàng. Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặc biệt nhằm cải tạo
đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50% phân hoá học. Phân
dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-10 ngày.
2.4.2. Chôn lấp
Hiện Việt Nam có khoảng 755 đô thị. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng
Được biết, trong thời gian qua, nhiều địa phương đã triển khai, làm tốt
việc thu gom, vận chuyển và quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải
rắn góp phần tạo môi trường trong sạch, đô thị văn minh và sạch đẹp. Tuy
nhiên công tác thu gom, xử lý chất thải rắn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
2.4.3. Chế biến phân vi sinh (compost)
Nước ta hiện có 10 nhà máy chế biến rác thải có thành phần hữu cơ cao
cấp thành phân bón vi sinh. Các nhà máy xử lý CTR thành phân bón mới chỉ
thực hiện ở các thành phố lớn nhưng quy mô và công suất nhỏ. Đó là nhà máy
chế biến rác thải Cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý 50 nghìn tấn rác/năm
(công nghệ Tây Ban Nha); nhà máy xử lý rác Nam Định với công suất xử lý
rác 250 tấn/ngày (công nghệ Pháp); công nghệ Dano – Đan Mạch tại Hoóc
Môn – thành phố Hồ Chí Minh công suất 240 tấn/ ngày; nhà máy xử lý Bà
Rịa – Vũng Tàu công suất xử lý 100m³/ ngày,… ngoài ra, một số đô thị khác
như Việt Trì, Vinh, Huế, Ninh Thuận… cũng có nhà máy xử ký rác thành
phân bón, trong đó công nghệ chế biến rác thải thành phân bón và các sản
phẩm khác của nhà máy Đông Vinh (Vinh) và Ninh Thuận hoàn toàn do Việt
Nam tự nhiên chế tạo.
Chất lượng phân bón của các nhà máy chế biến rác thải Cầu Diễn (Hà
Nội) do Tây Ban Nha và Nam Định do Pháp đầu tư được đánh giá tốt. Đối với
14
phân bón hữu cơ do các nhà máy của Việt Nam nghiên cứu chế tạo đang trong
thời kỳ thử nghiệm nhưng đã cho kết quả khả quan, như là trong công gnhệ
chế biến phân vi sinh tại nhà máy Thuỷ Phương (Huế) đã có khả năng tiêu thụ
trên thị trường và có chất lượng tương đối tốt. Tuy nhiên một số nhà máy chế
biến phân vi sinh với công nghệ đơn giản nên hoạt động không hiệu quả
(thành phố Vũng Tàu và thành phố Vinh).
Rác thải sinh hoạt
giảm thể tích của nó đến 80-90% . Nhiệt độ buồng đốt phải cao hơn 800°C.
Sản phẩm sau cùng bao gồm khí có nhiệt độ cao bao gồm nitơ và
cacbonic, hơi nước, tro. Năng lượng có thể thu hồi từ quá trình trao đổi nhiệt
độ khi sinh ra có nhiệt độ cao. Các công nghệ hay được sử dụng để đốt chất
thải như lò quay, lò cố định, lò tần sôi.
- Lò quay: chất thải được đốt trong lò quay hình trụ có gạch chịu lửa;
nguyên liệu là bất cứ chất nào dễ cháy (rắn, lỏng, khí); nhiệt độ đốt là 6501370°C; Thời gian đốt là vài giây đối với chất khí và vài giờ đối với chất rắn
và chất lỏng.
- Lò cố định: chất thải được đi qua nhiều cấp để đốt với sự tăng nhiệt
của vùng cháy; nguyên liệu là bùn và các chất rắn đã được vê viên; nhiệt độ
đốt là 1400-1800°C; thời gian đốt là vài giờ.
- Lò tầng sôi: chất thải được tần sối có các hạt rắn trơ đã được gia nhiệt
tới nhiệt độ cao; nguyên liệu là các chất lỏng hữu cơ, khí và các chất rắn đã
được vê viên hoặc đã được xử lý thích hợp; nhiệt độ đốt là 760-1100°C; thời
gian đốt là vài giờ đối với chất rắn.
Tại thành phố Hà Nội, ngoài lò đốt rác thải y tế tập chung ở Cầu Diễn
(công suất 3,2 tấn/ngày) và một số lò đốt riêng của một số bệnh viện. Còn có
lò đốt CTR công nghiệp nguy hại (công suất 150 kg/h).
16
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi , địa điểm và thời gian thực hiện
3.1.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nguồn phát sinh rác thải và tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn xã Quyết Thắng
3.1.1.2.Phạm vi nghiên cứu
Tỷ lệ các tồn dư /ngày
Phương pháp phát phiếu điều tra
Phiếu điều tra được lập với các thông tin liên quan đến nội dung mà
chuyên đề nghiên cứu:
+ Điều tra lượng rác thải phát sinh từ các hộ gia đình, công sở.
+ Điều tra việc nộp lệ phí vệ sinh của các đối tượng thải rác.
+ Điều tra, đánh giá ý thức bảo vệ môi trường của người dân.
Tiến hành phỏng vấn 60 hộ dân thuộc 06 xóm trên địa bàn xã Quyết Thắng,
trong đó có 03 xóm có dịch vụ thu gom rác và 03 xóm không có dịch vụ thu gom
rác. Tiến hành phỏng vấn các hộ kinh doanh, các cán bộ cũng như các hộ dân.
Phỏng vấn ban quản lý chợ trên địa bàn nghiên cứu, cán bộ phụ trách
các trường, công nhân thu gom rác…
3.3.3. Phương pháp lấy mẫu
- Địa điểm lấy mẫu:
+ Cổng khu tập thể công nhân Z115;
+ Cổng Trường Đai học Khoa học công nghệ thông tin và TT
+ Cổng chợ Nông Lâm.
- Số mẫu:3 mẫu (mỗi mẫu lấy 10 kg)
- Thời gian lấy mẫu:
Lấy vào các ngày 15 và 30 từ tháng 1/2012 – 4/2012 để xác định
- Chỉ tiêu theo dõi
+ Khối lượng rác sinh hoạt trung bình / ngày
+ Thành phần % rác thải sinh hoạt theo khối lượng
3.3.4.Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu
Từ các số liệu thu thập được tổng hợp, xử lý bằng Word, Excel. Từ đó
thống kê lại toàn bộ các số liệu phục vụ cho công việc đánh giá công tác phân
loại, thu gom, xử lý chất thải rắn. Từ đó đề xuất một số phương hướng xử lý
phù hợp với thực tế địa phương.
khoảng 5 km. Đất nghèo dinh dưỡng, chủ yếu là đất pha cát, độ chua đất cao,
đất bị sói mòn nhiều. Cây trồng chủ yếu là chè, lúa, cây ăn quả như: nhãn, vải,
19
xoài, thanh long…, cây lâm nghiệp. Với diện tích 1.298,76 ha xã quy hoạch
như sau:
Bảng 4.1: Quy hoạch sử dụng đất của
xã Quyết Thắng năm 2011
stt
Mục đích sử dụng
Diện tích (ha)
Tỷ lệ
1
Đất trồng lúa
413,3
31,8
2
Đất trồng chè
Nuôi trồng thuỷ sản
6
0,4
7
Đất chưa sử dụng
0,7
0,05
8
Đất trồng cây nông nghiệp khác
98
7,55
9
Đất để chăn nuôi
102
7,85