Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong
giờ học môn giáo dục công dân lớp 6, lớp 7
NGUYỄN VĂN XIÊM
(Trường THCS Hùng Vương) Giải B
A. PHẦN MƠ ĐẦU:
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ở bất kì một quốc gia nào, những đổi mới về giáo dục nói
chung, giáo dục phổ thông nói riêng cũng đều bắt đầu từ việc xem
xét, điều chỉnh về mục tiêu giáo dục với mong muốn là các nhà
trường đào tạo cho đất nước những con người mới có đủ phẩm chất,
trình độ, năng lực thực hiện tốt các nghĩa vụ của người công dân
trong từng giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.
Ở nước ta, việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông nói
chung, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy
môn giáo dục công dân (GDCD) ở cấp trung học cơ sở (THCS) nói
riêng cũng không ngoài mục đích đó đòi hỏi các cấp quản lí giáo dục
và mỗi giáo viên phải nỗ lực thực hiện. Nhưng vấn đề đặt ra là cách
tổ chức thực hiện các yêu cầu đổi mới đó như thế nào để vừa có tính
khả thi, vừa đảm bảo tính đúng đắn của một chủ trương trong điều
kiện có được của mỗi nhà trường, mỗi địa phương và kết quả thu
được đạt như mong muốn - nhất là đối với giáo viên, lực lượng có vai
trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo trong các nhà trường
thì phải đổi mới cách dạy, cách to chức học tập cho học sinh của
mình như thế nào để đạt được những yêu cầu và mục tiêu của đổi
mới đặt ra?
Xuất phát từ quan điểm và những yêu cầu như vậy của việc đổi
mới phương pháp giảng dạy ở các môn học nói chung, môn GDCD ở
cấp THCS nói riêng thì bất cứ người giáo viên nào cũng đều có thể sử
dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù của mỗi bộ
môn như: trực quan, đàm thoại, nêu vấn đề, giảng thuyết, thảo luận
nhóm, tổ chức ngoại khóa, thực hành… để chuyển tải đến các đối
GDCD lớp 6, 7 và tích cực tìm hiểu thêm những vấn đề về đạo đức,
pháp luật và xã hội có liên quan đến kiến thức bài học trong thực
tế.
- Nghiêm túc thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm
tra đánh giá học sinh trong tiến trình soạn, giảng theo hướng dẫn và
tập huấn của Sở đối với bộ môn.
- Nghiên cứu tài liệu về tâm lí học lứa tuổi học sinh ở cấp THCS và
kết hợp với các giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm, biết về hoàn cảnh
sống của gia đình, môi trường sinh hoạt… của những học sinh có
dấu hiệu bất thường về đạo đức, lối sống và ý thức chấp hành trong
lời nói, hành vi giao tiếp, ứng xử.
- Thực hiện đầu tư thiết kế và biên soạn nội dung các tiết dạy theo
hướng gắn kết nội dung tiết dạy với những hoạt động để tạo cho các
đối tượng học sinh có sự hưng phấn cần thiết và ham thích học tập.
- Thường xuyên đúc rút kinh nghiệm sau từng tiết dạy để có những
điều chỉnh, bổ sung hợp lí về hệ thống các câu hỏi, cách diễn đạt các
nội dung và kĩ năng, thao tác sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy
học … để tiết dạy sau đạt hiệu quả hơn.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU, TRẢI NGHIỆM ĐỀ TÀI SKKN :
Do thời gian tiếp cận, giảng dạy môn GDCD ở trường phổ thông
không lâu so với các đồng nghiệp khác trong trường và được trường
sắp xếp, tạo điều kiện cho tôi được giảng dạy liên tục môn học này ở
2 khối lớp 6 và 7 nên việc nghiên cứu, trải nghiệm đề tài SKKN của
tôi cũng chỉ xoay quanh “ Một số biện pháp tạo hứng thú học tập
cho học sinh trong giờ học môn GDCD lớp 6, 7 “ ở trường THCS Hùng
Vương – TP.Long Xuyên từ đầu học kì II năm học 2008 – 2009 đến
nay mà thôi.
B. PHẦN NỘI DUNG :
THCS là làm thế nào để hướng các đối tượng học sinh có ý thức và
hành vi luôn vươn tới những giá trị chân, thiện, mĩ của cuộc sống, có
niềm tin và thói quen hành động theo những qui định, chuẩn mực
đạo đức, pháp luật của một người công dân mới trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Để thực hiện được những yêu cầu, mục tiêu của việc đổi mới
chương trình và nội dung trong dạy học môn GDCD cấp THCS nói
chung, khối lớp 6, 7 nói riêng thì vấn đề trước tiên được các cấp
quản lí giáo dục quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện là phải đổi
mới có hiệu quả về phương pháp giảng dạy ở bộ môn này nhằm đảm
bảo cho các đối tượng học sinh lĩnh hội được đầy đủ những kiến
thức, kĩ năng và có thái độ, tình cảm và lí tưởng hành động đúng
đắn, trung thực trong việc thực hiện những chuẩn mực, những giá
trị về đạo đức và pháp luật theo nội dung các kiến thức đã học, biết
phân biệt được những hành vi, thái độ “ đúng – sai “, “ tốt – xấu “
trong từng lời nói, việc làm … của bản thân và của những người
xung quanh trong thực hiện những chuẩn mục, qui định đó. Từ đó,
giúp các em có những điều chỉnh về cách ứng xử của mình phù hợp
với những quy định của pháp luật và những truyền thống, đạo lí của
dân tộc.
Song, việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở môn GDCD cấp
THCS nói chung, ở khối lớp 6,7 nói riêng không phải là sự bỏ đi
những nguyên tắc, phương pháp giáo dục truyền thống cơ bản của
bộ môn mà là sự vận dụng có chọn lọc, kế thừa và nâng lên những
phương pháp dạy học này trong điều kiện xã hội và các phương tiện
dạy học mới ngày nay thông qua lăng kính và các kĩ năng sư phạm
của người thầy để giúp cho từng học sinh có những hứng thú, ham
thích và say mê học tập một cách tích cực, tự giác và chủ động hơn.
các kì thi tuyển ? Với cách suy nghĩ này không chỉ có ở những học
sinh có cá tính về học tập mà ngay cả một số học sinh có học lực
khá giỏi, đạo đức ngoan hiền trong những giờ học khác thì cũng
thiếu tập trung trong giờ học môn GDCD, biểu hiện dễ thấy ở
những em này là thường nói chuyện trong giờ học, không ghi chép
bài, lơ là với lời giảng, câu hỏi của giáo viên ... Một số khác thường
xuyên có thái độ bỏ ngoài tai ở những nội dung mang tính giáo dục
về đạo đức và rèn luyện nhân cách, vì những học sinh này cho đó
là “chuyện cũ rích”, “chuyện dạy đời” nên cũng không cần chú ý.
Bên cạnh những quan niệm động cơ, thái độ không đúng đắn
trong một bộ phận học sinh về học tập bộ môn như đã vừa nêu thì
trong giảng dạy do nhiều yếu tố khác nhau, bản thân cũng như một
số giáo viên cùng giảng dạy bộ môn đôi khi cũng chưa thật sự tạo
được sự hứng thú học tập cần thiết cho học sinh trong từng giờ dạy.
Sự rập khuôn, sơ cứng trong áp dụng các phương pháp dạy học đã
tạo cho học sinh về lối mòn suy nghĩ và lĩnh hội, các tình huống
thực tế, các tục ngữ ca dao, các tranh ảnh … minh họa thiếu được
người giáo viên “ thổi hồn “ để tạo ra những hấp dẫn từ những
phương tiện dạy học này.
Từ thực trạng dạy và học ở môn GDCD nói chung, khối lớp 6,
7 nói riêng như đã nêu trên, bản thân tôi đôi lúc cũng thấy bị “ sốc
“ - nhất là khi mới về trường. Nhưng do xác định đúng đắn trách
nhiệm của một giáo viên dạy môn GDCD : một môn học có chức
năng giáo dục, rèn luyện và xây dựng nhân cách con người từ
trong lúc ngồi ghế nhà trường đã giúp tôi trụ vững và luôn trăn
trở là phải dạy như thế nào để các em có những hứng thú học tập,
ham thích phát biểu, tích cực tham gia xây dựng bài, tự giác thực
hành, ghi chép … ? Với những trăn trở như vậy, từ đầu học kì II năm
diễn các loại đồ dùng, phương tiện giảng dạy này như : tranh ảnh, sơ
đồ, mẫu chuyện … sao cho hợp lí, khoa học, chuẩn xác, sinh động
và dễ hiểu để thu hút sự tập trung, chú ý của các đối tượng học
sinh. Từ đó dẫn dắt các em đi vào nội dung của từng vấn đề, từng
lĩnh vực của bài học đặt ra. Ví dụ:
Khi dạy bài 1: “Tự chăm sóc - Rèn luyện thân thể” ở GDCD. 6,
phần giới thiệu bài tôi cho học sinh xem hình một bạn sáng thức
dâïy đúng giờ, tập thể dục và hình một bạn ngủ trễ, đi học muộn
mà tỏ vẻ không lo lắng gì và yêu cầu học sinh nhận xét và cho ý
kiến về ý thức “rèn luyện thân thể và tự chăm sóc” của 2 bạn này.
Khi dán các ảnh này lên phần bảng dành cho các hoạt động tìm
hiểu của học sinh thì lập tức các em có sự động não và cả lớp hứng
thú quan sát, trả lời. Cách dạy này, nếu nhà
trường hoặc giáo viên có điều kiện về công
nghệ thông tin ( CNTT ) thì việc trình chiếu
những hình ảnh này bằng máy hoặc đoạn
vidéo clip thì học sinh lại càng hứng thú hơn
và việc vào bài mới hiệu quả và hấp dẫn
hơn.
Tương tự như vậy, khi dạy bài 3: “Tự trọng” ở GDCD.7 cho học sinh
xem ảnh một người tật nguyền bán vé số và giới thiệu người này từ
chối không nhận tiền giúp đỡ của người qua đường, rồi đặt câu hỏi
: Vì sao người tật nguyền này không nhận tiền giúp đỡ? Do tính cụ
thể, dễ hiểu của hình ảnh với câu hỏi tinh gọn, rõ ràng đã kích
thích được sự hứng thú của nhiều học sinh giơ tay trả lời chuẩn xác
là : Vì người bán vé số có lòng “tự trọng”.
Song, khi sử dụng phương pháp dạy này giáo viên cũng cần chú ý
là những hình ảnh không được quá nhỏ (tối thiểu bằng khổ giấy
hãy cho biết ý nghĩa của câu ca dao trên là đề cao tinh thần gì ?
“.Khi câu hỏi kết thúc thì nhiều cánh tay của học sinh giơ lên xin
phát biểu. Và khi gọi thì nhiều em phát biểu rất chính xác là đề cao
tinh thần “ đoàn kết, tương trợ “ của nhân dân ta.
Hoặc để giúp học sinh tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa của sự “ đoàn
kết, tương trợ “ trong bài dạy này, bản thân tổ chức cho học sinh
từng lớp tiến hành thảo luận nhóm xoay quanh các dạng câu hỏi sau
. Ví dụ cho học sinh:
+ Nhóm 1: Thảo luận để chỉ ra những việc làm chứng tỏ “đoàn kết,
tương trợ” sẽ giúp con người dễ dàng hòa nhập, hợp tác với mọi
người xung quanh hơn ?
+ Nhóm 2: Thảo luận để chỉ ra những việc làm chứng tỏ “đoàn kết,
tương trợ” sẽ tạo ra sức mạnh, giúp con người vượt qua khó khăn
hoàn thành tốt mục tiêu đã định?
+ Nhóm 3: Thảo luận tìm ra những sự kiện, những việc làm trong
lịch sử và trong thực tế để chứng tỏ “ đoàn kết, tương trợ “ là truyền
thống quý báu của dân tộc ?
Do những nội dung của những câu hỏi này đã có trong phần ý
nghĩa của bài học nên vấn đề còn lại là học sinh chỉ cần nêu được
càng nhiều việc làm cụ thể và càng nhiều sự kiện lịch sử thể hiện
tinh thần và truyền thống “ đoàn kết, tương trợ “ của nhân dân ta là
đủ.
Với những dạng, loại câu hỏi này vừa kích thích sự tái hiện những
kiến thức, những việc làm nói về “ đoàn kết, tương trợ “ mà các em
đã học, đã biết và vừa gây cho các em có sự hứng thú cần thiết
trong rèn luyện kĩ năng lập luận, thuyết trình ... Từ đó giúp học sinh
khắc sâu hơn về những kiến thức đã học trong phần khái niệm của
bài, làm nền tảng cho các em vươn tới những việc làm tốt đẹp thể
của pháp luật nào đó là thế nào. Tùy nội dung của mỗi định nghĩa
về chuẩn mực đạo đức hay quy định của pháp luật mà người ta sẽ
sử dụng 1 trong 3 loại câu hỏi này. Ví dụ:
Khi dạy bài 10: “Tích cực, tự giác trong hoạt động tập thể và hoạt
động xã hội” (GDCD. 6 ) thì hỏi : Em hãy trình bày khái niệm về tích
cực, tự giác trong … xã hội?
Hoặc: Khi dạy bài 12: “Sống và làm việc có kế hoạch” (GDCD.7) thì
hỏi: Thế nào là sống và làm việc có kế hoạch?
Hay: Dạy bài 14: “Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên”
(GDCD.7) thì hỏi: Môi trường là gì? Tài nguyên thiên nhiên là gì?
Thứ hai là loại câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu ý nghĩa về một
chuẩn mực đạo đức hay qui định của pháp luật. Loại câu hỏi này
thường được thể hiện dưới 1 trong 3 hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là hãy trình bày ý nghĩa. Ví dụ: Hãy nêu ý
nghĩa của việc “ Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia
đình, dòng họ? “(Bài 10 - GDCD.7)
Hình thức thứ hai là hỏi vì sao hoặc tại sao phải thực hiện về một
chuẩn mực đạo đức hay qui định nào đó của pháp luật. Ví dụ : Vì sao
chúng ta sống phải có tư tin? (Bài 11 – GDCD.7). Hay: Tại sao chúng
ta phải sống và làm việc có kế hoạch? (Bài 12 - GDCD.7)
Hình thức thứ ba là hỏi về sự ích lợi của việc thực hiện về một
chuẩn mực đạo đức hay qui định của pháp luật nào đó. Ví dụ : “
Tiết kiệm sẽ có những lợi ích gì ( hay lợi ích nào ) cho đất nước, cho
gia và cho bản thân ? “ ( Bài 3 – GDCD.6 )
Thứ ba là loại câu hỏi khơi dậy hay xác định ý thức trách nhiệm
của người công dân, của người học sinh trong việc thực hiện những
vấn đề về một chuẩn mực đạo đức hay qui định của pháp luật. Ví
dụ: Dạy bài 16: “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo” (GDCD.7) hỏi:
luyện tốt những kĩ năng theo mục tiêu của bài học đặt ra.
4. Khai thác tối đa các lợi thế của những bài tập tình huống và ý
nghĩa của những câu cao dao, tục ngữ để làm tăng thêm tính hấp
dẫn trong giáo dục tư tưởng và hình thành nhân cách tốt đẹp cho
các đối tượng học sinh:
Như chúng ta đã biết, vấn đề xuyên suốt trong nội dung của môn
GDCD cấp THCS nói chung và ở lớp 6, 7 nói riêng là sự gắn bó chặt
chẽ giữa kiến thức với những giá trị đạo đức, pháp luật đã và đang
diễn ra trong cuộc sống. Vì thế, trong tiến trình chuẩn bị và giảng
dạy bản thân tôi luôn chú trọng khai thác đúng mức những lợi thế
của các bài tập tình huống và ý nghĩa của những câu ca dao, tục ngữ
có trong SGK và trong đời sống để làm tăng thêm tính hấp dẫn, thu
hút học sinh học tập tốt hơn. Ví dụ:
Trong dạy bài : “ Biết ơn “ ( GDCD.6 ) tôi kể cho học sinh nghe về
một tình huống: “Hải và Bình là hai bạn thân học cùng lớp 6A, Hải
là con nhà nghèo và luôn được sự giúp đỡ của Bình như: quá giang
xe, hỗ trợ bút, tập … Một hôm vào giờ kiểm tra môn toán, Bình
không làm được bài, đến lúc sắp hết giờ Bình giật bài của Hải chép,
Hải cương quyết không cho. Khi tan học về, Bình không cho Hải quá
giang xe nữa và còn mắng Hải là đồ vô ơn. Và tôi nêu câu hỏi:
a) Việc Hải không cho Bình chép bài làm kiểm tra ở môn Toán có
phải Hải là người vô ơn không? Vì sao?
b) Nếu em là Hải thì cần phải làm những gì để Bình hiểu mình là
không vô ơn? Từ những tình tiết của câu chuyện và hai câu hỏi
được nêu ra đã tạo trong học sinh có ngay 2 luồng suy nghĩ trái
ngược và tranh luận nhau : Một số em cho là Bình đúng, còn một
số đông khác thì cho Hải là người không vô ơn … và bầu không khí
tranh luận, học tập của lớp học trở nên hào hứng và sôi nỗi. Để giúp
năng, nhiệm vụ rèn luyện và hình thành nhân cách các đối tượng
học sinh, giúp cho các học sinh luôn có những đức tính và thói
quen tốt đẹp, phấn đấu vươn tới những giá trị chân, thiện, mĩ từ khi
các em còn ngồi học trên ghế nhà trường. Có thể cụ thể hơn là chỉ
thông qua các hoạt động thực hành thì người giáo viên mới có đủ
cơ sở để đánh giá đầy đủ về ý thức và sự hiểu biết của học sinh về
các vấn đề đã học. Đồng thời thực hành cũng là thước đo để
người giáo viên nắm biết được thái độ, tình cảm và lối sống của mỗi
học sinh trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức và các qui định
của pháp luật một cách trung thực và tế nhị nhất. Với ý nghĩa và sự
tác dụng của thực hành như vậy, trong từng bài dạy bản thân luôn
chú trọng khai thác đúng mức việc hướng dẫn và tổ chức cho các
đối tượng học sinh làm tốt các bài tập thực hành, các tình huống,
các sự kiện, thông tin trong SGK. Mặt khác, bản thân còn tổ chức cho
học sinh các lớp hoặc trong cùng khối thi đua trình bày, giới thiệu
về những sản phẩm tự làm, tự sưu tầm được như : tranh ảnh; mẩu
chuyện “ người tốt – việc tốt “; các sự kiện, thông tin, hò, vè và các
tư liệu khác có liên quan đến nội dung bài học hay nằm trong nhóm
chủ đề tuyên truyền, giáo dục của nhà trường và xã hội.
Ví dụ:
Trước khi dạy bài : “Lịch sự, tế nhị” (GDCD.6), trong phần dặn dò
cuối bài “ Sống chan hòa với mọi người” thì bản thân phân cho học
sinh mỗi nhóm (6 - 8 em) về nghiên cứu, luyện đọc diễn cảm nội
dung phần tình huống trong SGK (trang 21) theo cách phân vai (1
em đọc lời dẫn, 1 em đóng vai thầy Hùng, 1 em đóng vai bạn Tuyết
và những em còn lại đóng vai các bạn đi học trễ) để tiết học sau các
nhóm lên bắt thăm xem nhóm nào phải thể hiện tình huống. Mỗi
học sinh trong nhóm được cộng thêm vào điểm thực hành : 2 điểm
nếu thể hiện tốt, 1,5 điểm nếu thể hiện khá và 1 điểm nếu thể
hiện đạt yêu cầu. Do không biết trước nhóm nào phải thể hiện tình
1. Đối với học sinh: Ngoài những tiến bộ tích cực của học sinh
được nêu trong từng biện pháp thì chất lượng học tập bộ môn của
các em cũng đem lại những kết quả khả quan được thống kê như
sau :
2. Đối với giáo viên: Tuy quá trình đầu tư cho từng tiết dạy có công
phu và vất vả hơn nhưng hiệu quả trên từng tiết dạy trên lớp là rất
khích lệ; ít hao tốn công sức cho việc ổn định và nhắc nhở học sinh,
sự thể hiện một tiết dạy luôn được trôi chảy, nhẹ nhàng hơn; tâm lí
lên lớp không bị “ sốc “ và bớt căng thẳng so với trước khi áp dụng
đề tài.
IV. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐÚC KẾT ĐƯỢC:
1. Những kinh nghiệm đưa đến thành công:
Trước tiên là phải xây dựng được chương trình thực hiện những
công việc phải làm ( 06 việc chính đã nêu ở phần II ) trong quá trình
định hướng nghiên cứu và trải nghiệm đề tài; phải thường xuyên
cập nhật tiến độ thực hiện và những thành công, những việc làm
chưa hiệu quả để kịp thời xem xét điều chỉnh, bổ sung các biện pháp
phù hợp với thực tiễn dạy và học.
Nắm vững nội dung, mục tiêu của từng bài dạy, tiết dạy và mục dạy;
chăm chút và đầu tư thích đáng trong khâu thiết kế bài soạn, khai
thác tối đa những lợi thế của đổi mới các phương pháp dạy học bộ
môn – nhất là khai thác việc gắn chặc các nội dung kiến thức bài học
với việc sử dụng các phương tiện giảng dạy trực quan, xây dựng hệ
thống các câu hỏi, tổ chức thi đua và thực hành các tình huống ...
Việc tổ chức các hình thức học tập cho học sinh phải có sự hướng
dẫn rõ ràng, cụ thể - nhất là việc tự học, tự hành của học sinh ở
- Chưa thu đạt nhiều kết quả ở những đối tượng học sinh thiếu sự
quan tâm, động viên của gia đình và một vài học sinh có cá tính, lối
sống buông thả.
3. Hướng mở rộng và phát triển SKKN:
Do đặc thù “hứng thú” là trạng thái tâm lí phấn khởi của con
người trước các sự vật, hiện tượng khách quan. Nó tạo ra trong mỗi
con người một cảm giác hưng phấn và trở thành động lực thôi thúc
trong mỗi con người vượt qua những giới hạn để hành động vươn tới
những gì họ muốn. Trong dạy học cũng vậy, điều mà bất cứ người
giáo viên nào cũng muốn là tạo cho mỗi học sinh của mình có được
những hứng thú học tập cần thiết, nên SKKN này có thể nghiên cứu
vận dụng và phát triển nó trong dạy các môn học khác ở trường
phổ thông – nhất là ở môn GDCD với những mức độ cao thấp, rộng
hẹp khác nhau tùy vào khả năng, nghệ thuật của mỗi người thầy
và các điều kiện, phương tiện cũng như thực trạng học tập của học
sinh ở mỗi trường nếu như người giáo viên chịu khó đầu tư thích
đáng cho các biện pháp đổi mới cách dạy, đổi mới cách nhìn và
phương pháp đánh giá học sinh, khắc phục tốt những hạn chế,
khuyết điểm như đã nêu trong phần những yếu tố chưa thành
công.
C. KẾT LUẬN:
Tóm lại, việc nghiên cứu, trải nghiệm đề tài SKKN về “Một số
biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học GDCD
lớp 6, 7” mà bản thân đã thực hiện trong hơn 2 học kì qua ở trường
THCS Hùng Vương - TPLX bước đầu đã thu được những kết quả khả
quan và đầy khích lệ. Nó không chỉ có tác dụng nâng cao chất
lượng dạy và học của bộ môn trong những lớp bản thân dạy mà còn
góp phần bồi dưỡng và làm chuyển biến rõ nét về những phẩm chất
đạo đức, lối sống và lí tưởng của nhiều đối tượng học sinh nhà
cải tiến và hoàn thiện hơn SKKN này trong thời gian tới./.