skkn một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản thơ trung đại việt nam ở trường THPT - Pdf 44

MỤC LỤC
Phụ bìa...................................................................................................................... i
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
Phụ bìa i...................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.........................................................................4
BP.............................................................................................................................. 4
Biện pháp................................................................................................................4
ĐC............................................................................................................................. 4
Đối chứng.................................................................................................................4
Đ-H........................................................................................................................... 4
Đọc hiểu.................................................................................................................... 4
GV............................................................................................................................. 4
Giáo viên..................................................................................................................4
HS............................................................................................................................. 4
Học sinh.................................................................................................................... 4
HT............................................................................................................................. 4
Hứng thú..................................................................................................................4
PPDH........................................................................................................................ 4
Phương pháp dạy học..............................................................................................4
TĐ............................................................................................................................. 4
Trung đại.................................................................................................................. 4
TN............................................................................................................................. 4
Thực nghiệm............................................................................................................4
TP.............................................................................................................................. 4
Tác phẩm.................................................................................................................. 4
TPVC........................................................................................................................ 4
Tác phẩm văn chương.............................................................................................4
TPVH........................................................................................................................ 4
Tác phẩm văn học....................................................................................................4
................................................................................................................................... 4
................................................................................................................................... 4

2.3.2.2 Nhóm các biện pháp tạo hứng thú bằng cách tổ chức cho học sinh hoạt
động........................................................................................................................ 21

2


2.3.2.3 Nhóm biện pháp tạo hứng thú bằng cách khơi dậy sự đồng sáng tạo ở
học sinh................................................................................................................... 25
2.3.2.4. Nhóm biện pháp tạo hứng thú bằng cách cung cấp kiến thức, mở rộng
tầm hiểu biết cho học sinh.....................................................................................29
2.4.2. Đối tượng và nội dung thực nghiệm...........................................................35
2.4.2.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm.........................................................35
2.4.2.2 Nội dung thực nghiệm...............................................................................35
2.4.3. Thời gian thực nghiệm................................................................................35
2.4.4. Tổ chức thực nghiệm...................................................................................35
2.4.4.1 Giai đoạn 1................................................................................................35
2.4.4.2. Giai đoạn 2...............................................................................................36
2.4.4.3. Giai đoạn 3...............................................................................................36
2.4.5. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm...............................................37
3.4.5.1. Kết quả trước TN.....................................................................................37
2.4.5.2. Phân tích kết quả sau thực nghiệm.........................................................37
Bảng 2.4.2. Kết quả sau thực nghiệm..................................................................37

3


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BP


TN

Thực nghiệm

TP

Tác phẩm

TPVC

Tác phẩm văn chương

TPVH

Tác phẩm văn học

4


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề tạo hứng thú (HT) cho người học là một yêu cầu cấp thiết, phù
hợp với chủ trương của Đảng, của Nhà nước về đổi mới giáo dục
Trong xu thế hội nhập cùng với thế giới, đất nước ta đã và đang bước vào
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhân tố quyết định sự thành công quan
trọng nhất chính là nguồn nhân lực. Nhiệm vụ của ngành Giáo dục Việt Nam là phải
đào tạo được một thế hệ trẻ có được đầy đủ những phẩm chất, năng lực, đạo đức
cần thiết để đưa đất nước phát triển ngang bằng với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Đổi mới giáo dục chính là một chiến lược của Đảng, của Nhà nước nhằm
phát triển nền giáo dục. Tinh thần đổi mới ấy được thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ

HS càng ngày càng xa rời môn văn, chán học văn cũng là một biểu hiện của việc
dạy văn trong nhà trường vẫn còn kém sức thu hút. Thực tế đó đã gióng lên hồi
chuông cảnh tỉnh các nhà giáo cần phải có sự đổi thay cách dạy cho phù hợp với
người học. Nhất là trong thời đại hiện nay, do sự phát triển hơn trước về mặt tâm
sinh lí, HS đã không còn thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không
chỉ chấp nhận những giải pháp có sẵn được đưa ra.
Trong chương trình văn học được giảng dạy ở nhà trường phổ thông, thơ TĐ
Việt Nam có một vị trí, vai trò quan trọng trong việc góp phần làm phong phú kiến
thức văn học, bồi dưỡng tâm tư, tình cảm cũng như giáo dục cho các em biết quý
trọng gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, có trách nhiệm đối với đất nước. Những tác
phẩm thơ TĐ được tuyển chọn vào trong nhà trường đều là những tác phẩm ưu tú
của một thời đại. HS có thể tìm thấy trong đó những chân lí sống, những tình cảm,
tâm hồn dân tộc Việt. Tuy nhiên, việc dạy học thơ TĐ trong nhà trường hiện nay
còn gặp không ít khó khăn không chỉ với HS mà còn với giáo viên (GV). Những
khác biệt về tư duy, thị hiếu thẩm mĩ, tâm lí thời đại đã tạo nên những khoảng cách
trong tiếp nhận của người học. Chính vì vậy, giờ học về thơ TĐ chưa thực sự thu
hút được sự chú ý của người học nhất là với lứa tuổi HS trung học phổ thông hiện
nay - một lứa tuổi luôn nhạy cảm với cái mới và ít quan tâm tới những cái đã xa
thời đại của mình. Thực trạng dạy học thơ văn TĐ hiện nay đòi hỏi cần có một
hướng giải quyết phù hợp để đem lại HT cho HS trong giờ học.
Chất lượng của một giờ đọc - hiểu (Đ-H) thơ TĐ liên quan chặt chẽ đến
tinh thần thái độ, động cơ học tập của HS và nghệ thuật tổ chức giờ học của
GV
Tiếp nhận thơ TĐ là một quá trình sáng tạo đầy gian khổ nhưng cũng đầy HT
đòi hỏi người học không chỉ có năng lực mà phải có niềm say mê. Chính niềm say
mê đó sẽ giúp HS khám phá dần những tầng ý nghĩa trong tác phẩm văn học. Song
6


HT trong học thơ TĐ không phải tự đến mà nó phải được khơi dậy bởi tài năng của

đã đặt ra.
* PP nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, quan sát
* PP thực nghiệm sư phạm

7


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Một số vấn đề về hứng thú
* Khái niệm
HT là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối
với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình
hoạt động. Như vậy, cấu trúc của HT bao giờ cũng là sự kết hợp của nhận thức, xúc
cảm và hành vi. HT là trạng thái tâm lí bên trong của bản thân chủ thể, không phải
bỗng dưng mà có. HT chịu ảnh hưởng, tác động và sự chi phối của các yếu tố bên
ngoài.
* Vai trò của hứng thú trong quá trình học tập
Vai trò của HT được thể hiện ở các mặt sau:
HT hướng HS vào toàn bộ quá trình học tập, thu hút sự chú ý cao độ của HS;
duy trì sức bền của hoạt động học tập, làm cho việc học diễn ra thường xuyên, HT
làm tăng cường độ học tập ở mỗi người, làm cho quá trình nhận thức diễn ra nhanh
chóng; HT thúc đẩy khả năng nhận thức, khát vọng tự nhận thức, tự biểu hiện ở mỗi
người, HT phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức, làm cho quá trình học tập trở nên thú vị, sinh động; HT mang lại khả
năng sáng tạo to lớn, phát huy hết năng lực của HS trong quá trình học tập; Ghi nhớ
kiến thức, có ý chí vượt mọi khó khăn trong học tập.
Nhìn chung, HT tăng cường khả năng nhận thức về tốc độ, chất lượng và chiều
sâu, đem lại niềm vui trong học tập, nâng cao chất lượng, kết quả học tập của HS.
* Hứng thú trong học văn

người đọc cảm nhận đó là thế giới nội tâm của con người.
Nói đến thơ còn phải nói đến tính hàm súc cô đọng. Các từ ngữ, hình ảnh…
trong bài thơ phải được tổ chức sao cho phản ảnh được nhiều nhất những suy nghĩ,
cảm xúc trong một số lượng từ ngữ ít nhất. Ngôn ngữ thơ phải được ý ở ngoài lời,
ngắn gọn, cô đọng và có sức âm vang lớn.
Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính: thế giới nội tâm được thể hiện trong thơ không
chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa từ ngữ mà còn được biểu hiện bằng âm thanh. Những từ
ngữ, những câu trong đoạn, đoạn trong bài được tổ chức phối thanh, phối nhịp, hài
hoà, cân đối với mục đích thể hiện được tâm trạng nhân vật trữ tình. Đấy cũng
chính là ưu thế tuyệt đối của thơ so với văn xuôi. Chính tính nhạc trong thơ làm cho
thơ dễ nhớ dễ thuộc có khả năng ngâm và hát được.
Tiếp nhận thơ là một quá trình vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có PP tiếp nhận
phù hợp. Trong quá trình tiếp nhận thơ, để cắt nghĩa giải mã VB, người đọc phải đi
từ lớp vỏ ngôn từ để thâm nhập vào thế giới hình tượng của cảm xúc, của tâm trạng,
9


để từ đó, nắm bắt thế giới tư tưởng nghệ thuật, những điều mà tác giả gửi gắm đến
người đọc. Đây không phải là một quá trình giản đơn mà nó đòi hỏi người đọc phải
có một vốn sống nhất định, phải có khả năng, năng lực cảm thụ thì mới có thể tiếp
nhận được. HT trong tiếp nhận là một yếu tố cần để duy trì quá trình này.
* Đặc trưng của thơ ca trung đại Việt Nam
Tính cao nhã trong thơ ca trung đại có mặt từ quan niệm về văn chương cho
đến quan niệm về sáng tác. Thơ TĐ được xem là thể loại cao quý bậc nhất trong các
thể loại của văn học TĐ. Tính cao quý này được thể hiện ở tất cả các phương diện
từ quan niệm về văn chương, nội dung, chức năng xã hội của văn chương, ở quan
niệm về sáng tác, đội ngũ sáng tác cho đến việc gạn lọc tiếp thu những tinh hoa thơ
Đường và thơ ca dân gian trong cách thức biểu hiện.
Tính vô ngã là một đặc trưng nổi bật của thơ ca TĐ. Xã hội phong kiến ở nước
ta là xã hội của đẳng cấp, của chữ lễ và tôn ti trật tự nghiêm ngặt. Tùy theo sự biến

để không chỉ thấy một thời kì lịch sử văn học dân tộc với tất cả những đặc điểm về
con người, văn hoá, quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng… mà còn để tâm hồn được rung
lên khi cảm nhận những giá trị đích thực mà thơ ca TĐ mang lại. Như vậy việc dạy
văn học TĐ trong nhà trường không chỉ nhằm giúp HS tìm đến nguồn tri thức
phong phú mà còn giúp giáo dục bồi dưỡng tâm hồn hình thành nhân cách cho HS.
Đồng thời, việc học tốt thơ ca TĐ sẽ là nền tảng để học tốt thơ hiện đại. Chính điều
đó lại càng khẳng định rằng cần phải tạo HT để HS học tốt thơ TĐ.
Để lí giải được văn học TĐ, đòi hỏi người học phải có một vốn kiến thức sâu
rộng về thi pháp, thể loại, văn hoá, lịch sử, xã hội TĐ. Trong khi đó vốn kiến thức
của HS chưa phải đã là nhiều. Nhìn chung thơ TĐ bao gồm một hệ thống mã hiệu
riêng nên nó gây ra khó khăn cho người học. Chính vì vậy, cần phải tạo HT để HS
khắc phục những khó khăn tích cực tham gia vào hoạt động học tập.
2.1.4. Đọc – hiểu văn bản và sự cần thiết của việc tạo hứng thú trong giờ
đọc - hiểu văn bản nghệ thuật
* Đọc hiểu - văn bản văn học
Đ-H rất quan trọng trong việc tiếp nhận văn chương. TPVH là một chỉnh thể
nghệ thuật được cấu tạo bằng hình tượng ngôn từ. Việc chiếm lĩnh nó cũng phải
tuân thủ theo những cách riêng. Con đường duy nhất để thâm nhập tác phẩm và
thẩm thấu hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm chính là quá trình Đ-H VB. Đ-H phù
hợp với đặc trưng của việc chiếm lĩnh VB nghệ thuật.
Đ-H phát huy tối đa vai trò cá nhân, tính tích cực chủ động của người tiếp
nhận. TPVH luôn là một đề án tiếp nhận bắt buộc người đọc phải huy động hết mọi
khả năng về trí tuệ. Để chiếm lĩnh văn học đòi hỏi người học phải huy động hết mọi

11


khả năng suy nghĩ khám phá, liên tưởng, tưởng tượng thì mới có thể thâm nhập tác
phẩm.
Đ-H trong nhà trường không phải là một quá trình Đ-H tuỳ tiện mà theo một

2.2.2. Tiềm năng chương trình sách giáo khoa mới với việc tạo hứng thú đối với
học sinh

Thể hiện rõ tinh thần tích hợp đã có trong chương trình và sách giáo khoa cấp
2 và nó được nhìn nhận như một chỉnh thể văn hoá mở.
Chú trọng đến kĩ năng Đ-H VB của HS, kĩ năng tự học, phát huy nhận thức
của người học qua hệ thống câu hỏi trong SGK.
Chú trọng tính nhân văn và thẩm mĩ, tuyển chọn thêm một số tác phẩm mới có
giá trị, gần gũi với sở thích của người học.
Nội dung chương trình được tinh giản, vừa sức, sắp xếp theo những kiểu loại
VB từ đó giúp người học tiếp cận, khai thác VB nhất là cách vận dụng chúng.
Về văn học TĐ, đưa thêm một số thể loại so với SGK cũ nhằm giúp HS thấy
rõ tính chất phong phú của nền văn học TĐ đồng thời có kĩ năng Đ-H nhiều loại VB
khác nhau.
2.2.3. Thực trạng dạy thơ trung đại Việt Nam với việc tạo hứng thú cho
học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Đăk Nông
Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tạo hứng thú cho học sinh
trong giờ đọc - hiểu thơ trung đại Việt Nam
Hầu hết các GV đều nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của việc tạo HT
trong giờ Đ-H thơ TĐ. Có thể nói tạo HT cho HS trong giờ dạy là mục tiêu hướng
tới nâng cao chất lượng giờ dạy. Việc nhận thức được tầm quan trọng “cần thiết” và
“vô cùng cần thiết” của việc tạo HT xuất phát từ ý thức của GV về vai trò của việc
tạo HT trong mỗi giờ dạy.
* Vai trò của việc tạo HT cho HS trong giờ dạy thơ TĐ
Phần lớn GV cho rằng tạo HT để giúp phát huy tính tích cực, lôi cuốn HS vào
giờ học; làm giờ học trở nên sôi nổi, ghi nhớ kiến thức lâu hơn; giúp khắc phục
những khó khăn đặt ra trong giờ học; giúp phát huy năng lực văn học của HS.
Những kết quả trên cho thấy GV đã nhận thức được vai trò của việc tạo HT trong
giờ dạy thơ TĐ tuy chưa thật đồng đều ở các mặt song điều đó là một kết quả rất
khả quan.

HT cho HS, một số GV đã có những cố gắng như: mở rộng đào sâu kiến thức trong
mỗi bài dạy; sử dụng PPDH mới; phần lớn các GV thiên về khai thác nội dung tư
tưởng, có rất ít GV chú trọng khai thác tác phẩm từ góc độ thi pháp và đặc trưng thể
loại
* Một số cách GV đã thực hiện để tạo HT
Tiến hành dự giờ và phỏng vấn một số GV, chúng tôi nhận thấy: một bộ phận
GV vẫn còn sử dụng cách dạy cũ, diễn giảng quá nhiều. Chính vì vậy trong giờ dạy
thơ TĐ hoạt động của GV vẫn chiếm đa số. HS không thể hiện được tính tích cực
14


chủ động mà chỉ thụ động lắng nghe. Kiểu dạy học này vẫn chưa giúp phát huy
được những năng lực của HS cũng như chưa tạo được sự HT nơi người học.
Một bộ phận lớn GV đã có cố gắng thay đổi lối dạy học cũ bằng PPDH mới
tích cực. Song việc tiến hành đổi mới PP vẫn chưa thực sự chú trọng đến tính đồng
bộ của nó, cụ thể như sau:
Một số GV vẫn còn coi nhẹ một số hoạt động có khả năng khơi gợi và phát
triển năng lực liên tưởng, tưởng tượng của HS; Cách đặt vấn đề của GV chưa thực
sự làm phát huy được tính tích cực của HS. Các câu hỏi GV đặt ra chưa thực sự tạo
được hiệu quả, chủ yếu là những câu hỏi tái hiện nhiều hơn là câu hỏi nêu vấn đề;
GV chỉ chú trọng đến khâu phân tích tác phẩm mà coi nhẹ và thiếu đầu tư vào khâu
mở đầu và khâu kết thúc bài học; Về mặt tổ chức các hoạt động học tập, GV ít tổ
chức các hình thức hoạt động như tranh luận, thảo luận, tạo nhóm… Vì vậy môi
trường học tập của HS chưa có sự gắn kết, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các HS
trong tập thể lớp học.
2.2.4. Thực trạng hứng thú của học sinh khi học văn học trung đại
Để khảo sát nắm bắt thực trạng về HT của HS khi học thơ TĐ Việt Nam,
chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho 220 HS và đã thu được kết quả sau đây:
* Nhận thức của HS về ý nghĩa của việc học thơ TĐ
`

(khoảng cách thẩm mĩ) 73,63 %. Những khó khăn trên đã làm thành một rào cản
khiến HS không HT khi học thơ TĐ. Để HS dễ dàng thâm nhập và cảm thụ tác
phẩm, GV phải là người hướng dẫn, giúp đỡ các em tự tháo bỏ những rào cản đó
bằng nhiều cách bồi dưỡng vốn từ, giúp các em hiểu về những quan niệm thẩm mĩ,
hoàn cảnh lịch sử…
*Những nhu cầu, sở thích của HS trong giờ Đ-H VB thơ TĐ
Muốn tạo HT cho HS trong giờ Đ-H thơ TĐ, GV cần phải quan tâm đến nhu
cầu, sở thích của HS để từ đó có hướng xây dựng bài dạy một cách phù hợp. Qua
thực tế, chúng tôi nhận thấy: có 96,81% HS thích nghe ngâm thơ, đọc thơ; 96,36%
thích được xem những tranh ảnh liên quan đến bài học; 98,63% thích GV hướng
dẫn phân tích kĩ tác phẩm; 76,36% có nhu cầu hiểu biết thêm những kiến thức phục
vụ lí giải VB; 25% thích nghe kể chuyện ngoài lề; 71,81% thích được bộc lộ ý kiến
của mình.
Có thể thấy, việc nắm bắt nhu cầu của HS là vô cùng quan trọng để từ đó, GV
sẽ có cách tác động, phát huy những thế mạnh của những điều mà HS tâm đắc thích
thú để khơi dậy những HT lành mạnh, bổ ích.

16


2. 3. Một số biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản thơ trung đại Việt Nam ở trường THPT
2.3.1. Những định hướng chung
Các biện pháp tạo HT cho HS trong giờ Đ-H VB thơ TĐ phải bám sát các
VB thơ TĐ trong chương trình THPT, gắn với việc khai thác cái hay, cái đẹp của
VB thơ TĐ. HT phải gắn với việc khai thác giá trị, khám phá VB, tránh những
HT ngoài lề, HT xa rời VB.
Các biện pháp tạo HT phải gắn với yêu cầu phát huy tính tích cực của HS,
phù hợp với quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, đảm bảo lôi cuốn HS vào
quá trình học tập, kích thích và làm phát triển ở HS những năng lực cần thiết.
Các biện pháp tạo HT cho HS phải đảm bảo được tinh thần tích hợp trong

trong thơ TĐ có thể lạ hóa bằng nhiều cách: có thể đi từ cảm xúc giọng điệu, thái độ
của nhà thơ đối với vấn đề của cuộc sống được nhà thơ nhắc đến trong tác phẩm
hoặc cũng có thể lạ hoá từ cuộc đời, thi pháp tác giả, tái hiện diện mạo tình cảm của
thời đại. Thơ TĐ thường được sáng tác theo những đề tài, thể tài, chủ đề nhất định.
Cùng một chủ đề, thể tài nhưng có nhiều sáng tác xoay quanh nó. Mỗi sáng tác đi
theo một hệ thống có sự tiếp nối và sáng tạo. Nghệ thuật bao giờ cũng mang trong
nó sự sáng tạo riêng của người nghệ sĩ. Điều đó góp phần tạo nên giá trị sức sống
của tác phẩm nghệ thuật. Những tác phẩm thơ TĐ được dạy trong nhà trường phổ
thông đều là những tác phẩm có giá trị, được gạn lọc thẩm định qua nhiều thế hệ và
bản thân nó cũng mang những giá trị vượt thời đại. Chính vì vậy, có thể lạ hoá từ
những tác phẩm có cùng đề tài, cùng chủ đề, có thể lạ hoá từ một nhận định về tác
giả và tác phẩm hoặc khẳng định những giá trị, khai mở những đóng góp của tác
phẩm cho nền văn học dân tộc cũng như cho bản thân mỗi người hoặc cũng có thể
chỉ ra mạch sống của nó trong lòng thơ ca dân tộc. Bên cạnh đó cũng có thể lạ hoá
từ các ngành nghề, các nghệ thuật có liên quan. Khi dạy các bài thơ thu của Nguyễn
Khuyến, GV có thể bắt đầu bằng cách so sánh những cảm xúc khi đứng trước
những bức tranh về mùa thu của những danh hoạ nổi tiếng, cũng có thể đi từ những
góc nhìn từ nghệ thuật điện ảnh để phần dẫn nhập thực sự tạo được ấn tượng. Việc
dẫn nhập cũng có thể lạ hoá từ bài cũ sang bài mới… Nhìn chung, một bài dạy có
thể có rất nhiều cách vào bài nhưng có một điểm chung cần phải lưu ý trong quá
trình dẫn nhập là dẫn nhập phải bảo đảm tính truyền cảm để gây xúc động và phải
mới lạ để thu hút HS vào các hoạt động tiếp theo. Chính vì vậy, GV cần phải có sự
cân nhắc và tính toán kĩ lưỡng đến những hiệu quả của nó trên cơ sở hiểu rõ nhu
cầu, sở thích của đối tượng là HS.
Bước 2: chọn lựa một cách dẫn nhập phù hợp và xây dựng lời dẫn nhập.
Để xây dựng lời dẫn phù hợp, GV cần phải chú ý đến lượng thời gian cho lời
18


dẫn nhập để trên cơ sở đó cân đối lượng thông tin cần thiết phải truyền tải. Đồng

thơ.
19


Bước 2: xây dựng lời bình trong thuyết giảng: Lời bình hay phải thể hiện
được tính cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh của ngôn ngữ bình. Đồng thời, nó còn
đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa một lượng tri thức nhất định với việc khơi gợi cảm
xúc để tạo nên được một độ sâu, khái quát được ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật của các
tác phẩm. Hình thức của lời bình cũng có thể được thể hiện một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, đôi lúc cũng có thể giảng bình bằng con đường so sánh, liên hệ.
Bước 3: tiến hành bình. Để bình được thì tất yếu phải dựa trên cơ sở giảng kĩ.
Trong dạy học TPVC thì giảng và bình phải gắn với nhau bình phải đặt trên cơ sở
giảng thì bình mới có sức thuyết phục.
2.3.2.1.3. Sử dụng hình thức động viên khuyến khích
* Mục đích
Tạo một động lực, sự hưng phấn giúp HS tham gia vào hoạt động học tập một
cách tự tin. Đồng thời, việc động viên khuyến khích cũng tạo mối quan tâm, thắt
chặt mối quan hệ tình cảm giữa GV và HS, trở thành nguồn động lực để các em
tham gia vào bài học một cách sôi nổi hơn.
* Yêu cầu
Khuyến khích động viên phải bảo đảm nguyên tắc tế nhị, lịch sự trong giao
tiếp. Việc động viên khuyến khích không chỉ áp dụng cho mỗi cá thể HS mà còn
phải chú ý đến cả tập thể lớp học. Những lời nhận xét đánh giá của GV và các câu
trả lời của HS phải đúng lúc, đúng chỗ. GV phải là người trọng tài công minh khi
nhận xét những ý kiến của HS. Cần phải tạo mối quan hệ cởi mở, thắt chặt tình cảm
giữa các HS trong lớp học.
* Thực hiện
Động viên, khuyến khích có thể được sử dụng trong suốt tiến trình của bài dạy
từ kiểm tra bài cũ đến bài mới đến kết thúc giờ học. Nó thể hiện rõ ở những lời nhận
xét hoặc những hành động sư phạm của người GV, ở thái độ tôn trọng ý kiến của

* Yêu cầu
- Các tình huống có vấn đề trong dạy học thơ TĐ nhất thiết cần hướng vào
khai thác những mạch cảm xúc của nhà thơ cũng như làm sáng rõ cái lí của các yếu
tố nghệ thuật đã được chuyển hóa thành VB.
- Các tình huống có vấn đề trong giờ dạy thơ TĐ phải chứa đựng được tính
phức tạp, mâu thuẫn.
- Các tình huống có vấn đề phải được xây dựng theo một hệ thống phù hợp với
tiến trình Đ-H VB và hướng đến làm rõ các yếu tố cụ thể trong mối liên hệ với tính
chỉnh thể của TPVH.

21


- Việc tạo tình huống có vấn đề phải đảm bảo tính sư phạm phù hợp với yêu
cầu vừa sức trong dạy học
- Tình huống có vấn đề phải được truyền tải đến HS thông qua câu hỏi nêu vấn
đề với nhiều hình thức khác nhau
- Tình huống có vấn đề trong dạy học thơ TĐ phải hướng vào việc làm rõ
những giá trị về hình thức cũng như nội dung của VB thơ TĐ.
* Tiến hành
Bước 1: GV cần xác định rõ mục tiêu của từng bài dạy, từ đó có hướng xây
dựng tình huống có vấn đề một cách phù hợp. Hệ thống tình huống có vấn đề sẽ
nhằm thực hiện mục tiêu của bài học.
Bước 2: phát hiện, nhận dạng và xác định các vấn đề có khả năng tạo ra tình
huống có vấn đề trong nhận thức của HS. TPVH nào cũng luôn chứa đựng những
vấn đề, những mâu thuẫn nghệ thuật. Với thơ TĐ, có thể xây dựng tình huống có
vấn đề xuất phát từ những điểm sáng thẩm mĩ trong tác phẩm như: từ ngữ, chi tiết
nghệ thuật, âm điệu, tiết tấu, thủ pháp nghệ thuật, thần cú, nhãn tự của bài thơ.
Những điểm sáng thẩm mĩ này không những tạo ra cho HS cách hiểu, cách đánh giá
khác nhau mà còn đưa đến cho HS những rung động thẩm mĩ, năng lực thẩm thấu

phù hợp.
2.3.2.2.2. Đa dạng hóa các hình thức dạy học như thảo luận, đối
thoại nhằm tạo ra môi trường học tập sinh động để lôi cuốn học sinh vào quá
trình học tập
* Mục đích
Biện pháp này được sử dụng nhằm tạo ra một môi trường học tập sôi nổi lôi
cuốn HS tham gia vào quá trình học tập. Đồng thời, đối thoại, thảo luận nhằm tạo ra
sự tương tác qua lại giữa GV và HS, giữa HS và HS trong việc giải quyết các vấn đề
đặt ra trong tác phẩm.
* Yêu cầu
Đối thoại, thảo luận phải tạo được sự thu hút HS tham gia vào quá trình tranh
luận, tạo nên không khí tranh luận cần thiết để hướng tới lí giải đánh giá TPVH.
Đồng thời, việc tổ chức đối thoại đảm bảo các nguyên tắc của đối thoại: công bằng
dân chủ trong đối thoại, tránh sự áp đặt từ phía GV. Hình thức đối thoại, thảo luận
phải được GV chuẩn bị kĩ càng, cần có những dự kiến về những tình huống có thể
xảy ra và có hướng giải quyết phù hợp.
* Tiến hành
Bước chuẩn bị: về phía GV cần tìm hiểu kĩ tác phẩm, dự kiến và xác định
những nội dung trong tác phẩm cần đưa ra để tranh luận, đối thoại.

23


Xác định và lựa chọn hình thức đối thoại, tranh luận phù hợp. Có nhiều hình
thức tổ chức đối thoại như: đối thoại giữa GV và HS, đối thoại giữa HS và HS, đối
thoại trong mỗi HS, đối thoại giữa nhà văn với HS, HS và thế hệ bạn đọc. Tuỳ theo
nội dung cần đối thoại mà GV có sự lựa chọn thích hợp.
Tiến hành tổ chức đối thoại, tranh luận: GV đặt câu hỏi chứa đựng nội dung
cần đối thoại cho HS và tiến hành điều khiển quá trình đối thoại. Ở bước này, GV
cần chú ý duy trì cuộc đối thoại và phát triển nó theo chiều hướng đạt đến một kết

cho học sinh rèn luyện kĩ năng và phát triển những năng lực văn học.
* Yêu cầu
Việc xây dựng những bài tập phải đảm bảo tính khoa học, hệ thống, vừa sức.
Các bài tập trắc nghiệm phải xoáy vào kiểm tra những kiến thức cũng như kích
thích được tư duy, trí tuệ của người học. Việc tổ chức cho học sinh giải quyết những
bài tập trắc nghiệm phải đảm bảo trong lượng thời gian nhanh gọn, vừa bảo đảm sự
khơi gợi hứng thú cho người học.
* Tiến hành
Bước 1: định hướng xây dựng bài tập. GV cần xác định rõ mục đích
xây dựng các bài tập. các bài tập nhằm kiểm tra những tri thức, kĩ năng cũng như
cần phát triển những năng lực gì ở HS. Từ đó có hướng xây dựng câu hỏi phù hợp.
Bước 2: chọn lựa những kiểu câu hỏi phù hợp. Tùy thuộc vào nội
dung, đặc điểm của từng bài dạy mà giáo viên có sự chọn lựa những kiểu câu hỏi
trắc nghiệm khác nhau. Trong giờ dạy thơ TĐ, có thể sử dụng những kiểu dạng bài
tập sau:
Bài tập giúp học sinh vận dụng năng lực liên tưởng.
Bài tập giúp HS vận dung năng lực đánh giá.
Bài tập giúp HS vận dụng tư duy tổng hợp, đánh giá.
Bài tập giúp HS bộc lộ những cảm xúc thái độ.
Bài tập giúp HS học sinh vận dụng năng lực nhận biết…
Bước 3: tổ chức cho học sinh làm các bài tập trên lớp qua máy chiếu
có sử dụng phần mềm Power Point có thiết đặt các liên kết dẫn đến những câu trả
lời cho sẵn dưới dạng đúng sai. Việc tổ chức cho học sinh trắc nghiệm trên máy tính
này sẽ giúp thu hoạch ngay được kết quả đồng thời kích thích được sự tham gia của
học sinh vào hoạt động giải bài tập.
2.3.2.3 Nhóm biện pháp tạo hứng thú bằng cách khơi dậy sự đồng sáng tạo ở
học sinh
2.3.2.3.1. Đọc diễn cảm như là một biện pháp chủ đạo trong dạy
học thơ trung đại
* Mục đích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status