Sở giáo dục và đào tạo thanh hoá
Trờng THPT Quảng Xơng 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài:
Một số biện pháp tạo hứng thú cho học
sinh trong giờ học lý luận văn học chơng trình ngữ văn THPT
Ngời thực hiện : Nguyễn
Thị Hoa
Bộ môn: Ngữ Văn
Chức vụ : P. Hiệu trởng
Đơn vị công tác: THPT
Quảng Xơng 3
THPT Quảng Xương 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Thanh Ho¸ th¸ng 05 n¨m 2011
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình học văn của học sinh THPT, việc trang bị kiến thức lý
luận văn học là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên để học sinh tiếp nhận kiến thức
lý luận văn học không phải là điều dễ dàng. Bởi môn học này đối với học sinh
THPT là tương đối khó. Ngay cả với giáo viên giảng dạy môn ngữ văn THPT
thì việc truyền đạt kiến thức lý luận văn học, làm cho học sinh yêu thích môn
học này cũng là cả một vấn đề.
Thực tế lâu nay nhiều thầy cô giáo truyền đạt đến các em những kiến
thức lý luận dưới hình thức những khái niệm khô khan. Vì vậy học sinh
Qua đó tôi muốn trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp để tìm ra
những biện pháp hiệu quả nhất trong giảng dạy lý luận văn học ở trường
THPT.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích tổng hợp
- Quan sát, thực nghiệm.
- Đối chiếu so sánh
3
THPT Quảng Xương 3
Sáng kiến kinh nghiệm
B. NỘI DUNG VẤN ĐỀ.
I. Cơ sở lý luận của vấn đề.
Bất cứ một môn học nào cũng dựa trên nền tảng lý luận . Bởi vì đó là cơ
sở khoa học để nghiên cứu tiếp nhận kiến thức.Vì vậy để học sinh tiếp nhận
kiến thức tác phẩm, hay viết được một bài làm văn đạt yêu cầu thì việc trang
bị kiến thức lý luận cho các em là điều bắt buộc.
Chúng ta đã thấy rất rõ mối quan hệ mật thiết giữa kiến thức lý luận
văn học và việc tiếp nhận tác phẩm văn học. Nắm vững kiến thức lý luận học
sinh cảm nhận tác phẩm một cách khoa học hơn. Do đó kiến thức đọng lại
trong các em một cách lâu bền. Hơn nữa việc nắm vững kiến thức lý luận
giúp học sinh phân biệt được sự đúng sai trong tiếp nhận và có những ý kiến,
những cách nhìn tác phẩm từ nhiều góc độ.
Bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thức được rằng kết quả việc học văn
của học sinh được thể hiện qua sản phẩm là bài làm văn.Việc nắm vững kiến
thức lý luận giúp các em làm bài một cách khoa học, lập luận chặt chẽ, phát
đặc điểm của thơ cần phân tích cụ thể từ những bài thơ đã đươc học trong
chương trình, rồi từ đó học sinh rút ra kết luận như thế nào là hình tượng nghệ
thuật, như thế nào là thơ và đặc điểm của thơ.
2. Đơn giản hoá các khái niệm lý luận.
Lý luận văn học vốn là những tri thức mang tính trừu tượng nên khi
tiếp nhận học sinh thường cảm thấy khó. Do đó phải cụ thể hoá các vấn đề lý
luận ở mức độ dễ hiểu nhất.
Khi dạy cho học sinh về các giá trị văn học với các khái niệm như giá
trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẫm mĩ chúng ta có thể đơn giản hoá
khái niệm bằng cách chuyển đổi thành các khái niệm gần gũi hơn với học sinh
như nhận thức chính là đem lại sự hiểu biết ; giáo dục chính là tác động đến tư
tưởng tình cảm của mỗi người để hình thành những tình cảm tư tưởng và hành
động tốt đẹp..vv Hoặc khi dạy đặc điểm của tiểu thuyết và truyện ngắn giáo
viên muốn cho học sinh hiểu như thế nào là cốt truyện chỉ cần đơn giản hoá
5
THPT Quảng Xương 3
Sáng kiến kinh nghiệm
cho học sinh hiểu đó là diễn biến các sự kiện được nói đến trong tác phẩm cho
đến lúc kết thúc câu chuyện.
Muốn vậy giáo viên phải lấy nhiều ví dụ dể minh hoạ làm sao để học
sinh cảm thấy vấn đề đó gần gũi quen thuộc.
Chẳng hạn khi dạy về các chức năng của văn học lấy ví dụ về Truyện
Kiều cho học sinh thấy rằng tác phẩm cho chúng ta hiểu biết về cuộc sống về
xã hội thời Nguyễn Du, hiểu biết về tâm lý con người qua mọi tình huống đó
chính là chức năng nhận thức của văn học. Đồng thời khi học Truyện Kiều
vì vậy nó sẽ lôi cuốn các em, giúp học sinh hiểu sâu về tác phẩm đã đọc.
Ví dụ khi dạy về thể loại văn học ở chương trình lớp 11 giáo viên lấy
ví dụ về tác phẩm văn học đã học và yêu cầu học sinh phân tích, chỉ ra sự
khác nhau của văn bản thơ và truyện ngắn đã học. Điều đó vừa giúp học sinh
sáng rõ khái niệm lý luận như thế nào là thơ và như thế nào là truyện ngắn
vừa khắc sâu kiến thức tác phẩm.
Thực ra trong quá trình giảng dạy lý luận văn học chúng ta có thể liên
hệ bất cứ tác phẩm văn học nào trong phần đọc văn. Tuy nhiên nó còn phụ
thuộc vào thời luợng của tiết học. Vì vậy cần gợi cho các em tự tìm hiểu nhiều
hơn.
4. Liên hệ với phần làm văn, tiếng Việt.
Giáo viên cần cho học sinh thấy được vai trò quan trọng của lý luận
trong làm văn. Muốn cho học sinh nhận thức được điều này, thầy cô giáo cần
chỉ ra cụ thể mối liên hệ giữa vấn đề lý luận với bài làm văn.
Người dạy cần cho học sinh thấy khi vận dụng kiến thức lý luận vào
phân tích, bình luận một tác phẩm văn học thì lập luận của các em sẽ trở nên
chắc chắn vì nó có cơ sở khoa học.
Giáo viên lấy những đoạn văn cụ thể trong các bài làm văn của các em
cần thiết phải vận dụng lý luận văn học trong lập luận cũng như để phát triển
ý, đặc biệt là các bài nghị luận văn học.
Ví dụ: chỉ ra cho học sinh thấy mối quan hệ giữa bài Đọc thơ và làm
văn cảm nhận về các bài thơ, đoạn thơ đã học trong chương trình qua một bài
làm văn cụ thể của các em như cảm nhận một đoạn thơ trong bài Đây thôn Vĩ
Dạ của Hàn Mặc Tử.
Hơn nữa, trong khi dạy, giáo viên có thể đưa ra những đề văn có vận
dụng kiến thức lý luận ở những mức độ khác nhau để học sinh phân biệt và
thấy được vai trò quan trọng lý luận trong làm văn.
7
ảnh , hoặc sơ đồ hoá qua đó học sinh đối chiếu và rút ra những kết luận mang
tính lý luận văn học.
8
THPT Quảng Xương 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Ví dụ: khi dạy bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, giáo viên có thể
chọn các hình ảnh đẹp về cây hòe, hoa sen, hoa lựu trong cảnh mùa hè để học
sinh đối chiếu với những hình ảnh các em tưởng tượng ra qua các từ như
“đùn đùn” “giương”, “phun” mà nhà thơ sử dụng để từ đó thấy được vai trò
quan trọng của trí tưởng tượng trong thơ và đặc biệt là sức mạnh ngôn ngữ
trong tác phẩm văn học. Qua đó học sinh sẽ khái quát để rút ra đặc điểm của
ngôn ngữ trong văn bản văn học.
Bên cạnh đó, nên đưa ra các vấn đề cho học sinh vận dụng những kiến
thức lý luận và kiến thức tác phẩm đã được học để thảo luận.
6. Kết hợp nhiều biện biện pháp khác nhau trong cùng một tiết dạy.
Việc tách các biện pháp trên đây chỉ là cách nói cho rõ ràng, còn trên
thực tế thì người dạy phải biết kết hợp tất cả các biện pháp trên trong một tiết
dạy thì mới có hiệu quả.Tuy nhiên cũng cần thấy rằng trong một tiết dạy
chúng ta không thể áp dụng tất cả các biện pháp trên đây mà tuỳ theo mục
đích và điều kiện, tình huống cụ thể để áp dụng linh hoạt các biện pháp nhằm
tạo được hiệu quả tối đa.
III. Vận dụng thực tiễn:
Tiết 1- bài Văn bản văn học. (Chương trình Ngữ văn 10- Nâng cao)
Bài dạy ở tiết 1 có hai vấn đề cũng là hai khái niệm: đó là khái niệm văn bản
văn học và đặc điểm của văn bản văn học.
Như vậy giáo viên đã sử dụng phương pháp quy nạp và đơn giản hoá khái
niệm :Ngôn từ văn học dùng để sáng tạo hình tượng để học sinh dễ hiểu hơn.
Đặc điểm 3: Ngôn từ văn học có tính biểu tượng và tính đa nghĩa.
Từ các ví dụ cụ thể trong các tác phẩm văn học đã được đọc để chỉ ra
tính biểu tượng của ngôn ngữ văn học.
Giáo viên có thể lấy các ví dụ sau:
Cô kia cắt cỏ bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.
Hoặc đoạn thơ :
Đầu lòng hai ả Tố Nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.
Hoặc :
10
THPT Quảng Xương 3
Sáng kiến kinh nghiệm
Mùa xuân người cầm súng
Lộc dắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trãi đầy nương lúa.
Các từ : Cành hồng; Tố Nga; mai; tuyết; mùa xuân; lộc ; người cầm
súng; người ra đồng, chỉ là những từ mang tính chất biểu tượng. Và thầy cô
giáo yêu cầu học sinh tự lấy thêm những ví dụ khác mà các em đã học. Từ đó
các em sẽ hiểu được tính biểu tượng của ngôn ngữ văn bản văn học.
Tương tự như vậy lấy các ví dụ về tính đa nghĩa của ngôn từ văn học.
Bên cạnh đó cho học sinh vận dụng phân tích nhiều tác phẩm văn học
để phân biệt các khái niệm này. Đồng thời cho các em thấy rằng khi làm văn
phân tích, bình luận bất cứ tác phẩm nào cũng cần làm rõ chủ đề của tác phẩm
như là điều bắt buộc.
Tương tự vận dụng phương pháp này đối với các khái niệm khác như
cảm hứng, sắc điệu thẩm mĩ, nội dung triết lý trong văn bản văn học.
Ở phần này có thể tạo tình huống cho các em khi sử dụng phần mềm
Power point bằng việc chiếu hình ảnh bức hoạ ông già câu cá và đối chiếu
với cảm nhận của các em về bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến
trong sách giáo khoa để thấy rằng một tác phẩm văn học chứa nhiều lớp nội
dung ý nghĩa và cảm nhận được điều đó còn phụ thuộc vào khả năng tưởng
tượng, sự trãi nghiệm tri thức văn hoá của mỗi người.
Sau bài học cần ra bài tập để các em vận dụng vào phân tích tác phẩm
văn học để nắm vững khái niệm. Ngoài bài tập trong sách giáo khoa giáo viên
có thể cho học sinh thêm các bài tập khác để các em thảo luận.
Ví dụ: Phân biệt đề tài và chủ đề Truyện Kiều.
Tìm sắc điệu thẩm mĩ trong bài thơ: Qua đèo Ngang của Bà huyện
Thanh Quan.
IV. Kết quả điều tra khảo sát.
1. Bằng phiếu điều tra:
HS chưa hứng thú với tiết
Lớp
Năm học
HS hứng thú với tiết học
10 C
10 T1
2010-2011
100%
0%
2. Bằng quan sát trực tiếp :
Không khí lớp học rất sôi nổi.
Học sinh hứng thú với tiết học, tham gia thảo luận nhệt tình và có
hiệu quả.
3. Kiểm tra theo hình thức tự luận .
Cho học sinh viết bài kiểm tra với yêu cầu sau :
Phân tích đoạn thơ sau để làm nổi bật những đặc điểm của ngôn từ văn học:
“ Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
..........
Buồn trông gió cuốn đầu duyềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
( Truyện Kiều- Nguyễn Du).
Kết quả cho thấy 90% học sinh đạt yêu cầu trở lên.
4. Áp dụng trong tổ bộ môn.
100% giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Quảng Xương 3 đã áp dụng
các phương pháp này trong các tiết dạy lý luận văn học trên tất cả các khối
lớp và nhận thấy hiệu quả rõ ràng trong giờ dạy.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Ngữ văn 10- chương trình chuẩn - NXBGD 2009 Tập 1, Tâp2
2. Sách Ngữ văn 10- chương trình Nâng cao -NXBGD 2009 Tập 1,
Tâp2
3. Sách Ngữ văn 11- chương trình chuẩn - NXBGD 2009 Tập 1, Tâp2
4. Sách Ngữ văn 11- chương trình Nâng cao -NXBGD 2009 Tập 1,
Tâp2
5. Sách Ngữ văn 12- chương trình chuẩn - NXBGD 2009 Tập 1, Tâp2
6. Sách Ngữ văn 12- chương trình Nâng cao -NXBGD 2009 Tập 1,
Tâp2
7. Từ diển văn học -NXBGD 2004
8. Lý luận văn học -NXBGD 2005
15