LỜI MỞ
Quyền được bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, vui chơi…
là những quyền cơ bản nhất của trẻ em. Điều này đã được ghi nhận trong công
ước quốc tế và trong hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về quyền trẻ em. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng vẫn còn một lượng không nhỏ trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, không được hưởng đầy đủ những quyền lợi của mình.
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường, một mặt đã tác động tích cực tạo nên những chuyển biến của đời sống
kinh tế - xã hội. Nhưng mặt trái của nó đã đem đến những thay đổi trong phân
tầng xã hội, là mảnh đất tốt cho các tệ nạn xã hội nảy sinh, tồn tại và phát
triển dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt là việc gia tăng đội ngũ
nhũng người lang thang kiếm sống, trong đó có trẻ em.
Như vậy trẻ em lang thang là một thực tế khách quan của mọi xã hội và
là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Tình trạng này khiến các em không
được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu thiết yếu, gây ảnh hưởng sâu sắc tới quá
trình hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy những trẻ
em này rất cần được sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ thường xuyên của gia
đình, cộng đồng và toàn xã hội.
Giải quyết vấn đề trẻ em lang thang là việc bảo đảm quyền được chăm
sóc giúp đỡ đặc biệt của trẻ. Mặt khác còn góp phần ổn định tình hình kinh tế
xã hội đất nước, và nhằm bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản lí xã hội về trẻ
em.
Sa Pa là một huyện nghèo, có nền kinh tế kém phát triển so với các địa
phương khác trên toàn quốc. Hiện trạng trẻ em lang thang trên địa bàn huyện
khá phổ biến, ngày càng gia tăng và đang trở thành vấn đề nhức nhối. Vì vậy
1
1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRẺ EM LANG
THANG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm trẻ em
Theo pháp luật quốc tế: "Trẻ em là những người dưới 18 tuổi" (Điều 1
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em).
Công ước giải thích rõ thêm định nghĩa này bằng cách nhắc lại điều đã
nêu trong tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 "Trẻ em do còn non nớt về
thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ
thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời".
Theo pháp luật Việt Nam: "Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi" (Điều 1,
Luật BVCS và GDTE).
Như vậy, trẻ em trước hết là một con người được hưởng mọi quyền tự
do đã được nêu ra trong các công ước quốc tế về quyền con người mà không
bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào.
Nhưng trẻ em lại là những người chưa trưởng thành nên có quyền được
chăm sóc sự sống, phát triển, được bảo vệ và bày tỏ ý kiến. Đặc biệt là đối với
những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
1.1.2. Khái niệm trẻ em lang thang
Đó là những trẻ em dưới 16 tuổi kiếm tiền bằng các hoạt động thường
xuyên trên đường phố như bán hàng rong, đánh giầy, làm thuê, bới rác, xin
ăn, móc túi… Các em rời bỏ quê hương theo nhiều cách, với nhiều lí do khác
nhau.
Có thể chia trẻ em lang thang thành những nhóm sau:
3
3
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Thể
dục Thể thao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành có liên
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em theo sự phân công của Chính phủ.
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
2.2. Chính sách chủ trương của Đảng đối với vấn đề trẻ em lang
thang
Chính phủ ban hành chỉ thị 06/1998/CT-TTg ngày 23/1/1998 về việc
tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ngăn ngừa và giải
quyết tình trạng trẻ em lang thang.
Bộ Công an đã có kế hoạch 05/6/1998 về việc triển khai thực hiện chỉ
thị 06/1998/CT-TTg trong đó có kế hoạch điều tra khảo sát cơ bản thực trạng
tình hình trẻ em lang thang để có cơ sở đề ra chủ trương, biện pháp cơ chế
phối hợp giữa các ngành các cấp giải quyết vấn đề trẻ em lang thang.
Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức nhiều lớp học phi chính quy như: lớp
học tình thương, lớp học phổ cập… nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cơ bản đạt
chương trình phổ cập giáo dục tiểu học cho các trẻ em lang thang.
Bộ Lao động Thương binh và xã hội đã tăng cường đầu tư mở rộng và
nâng cao năng lực của mạng lưới "Trung tâm BTXH".
UBBV và chăm sóc trẻ em Việt Nam phối hợp cùng với các cấp, các
ngành, các tổ chức chỉ đạo nhiều mô hình bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em
lang thang. Tổ chức dạy học, dạy nghề, hỗ trợ vốn, tạo việc làm giúp trẻ em
lang thang đoàn tụ với gia đình.
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 167/TTg ngày 8/4/1994 về việc
sửa đổi bổ sung chế độ tài chính đối với đối tượng cứu trợ xã hội - Bộ LĐTB5
5
6
động sớm, trẻ em phải bỏ học lang thang kiếm sống trên địa bàn thị trấn. Ở các
xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều đối tượng chưa tiếp cận được với các
dịch vụ xã hội như: giáo dục, y tế, tư pháp, trợ giúp xã hội...Tình trạng nghiện
ma túy và mại dâm diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp dưới nhiều hình thức,
trong đó có tình trạng lôi kéo, dụ dỗ đối tượng có hoàn cảnh khó khăn hoặc sống
không có mục đích, ăn chơi, thiếu trách nhiệm đi vào con đường vi phạm pháp
luật.
Trẻ em lao động sớm trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm chưa
được phát hiện, xử lý và can thiệp kịp thời; số trẻ em bị xâm hại, phụ nữ và trẻ
em bị bạo lực gia đình, bị buôn bán ngày có nguy cơ tăng, nhưng thực tế do sự
nhạy cảm của các vụ việc, việc xử lý chưa nhiều do tâm lý người dân ngại khai
báo, sợ xấu hổ... Tình trạng người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em
lang thang bán hàng rong đeo bám khách ăn xin ngày càng tăng. Nguy cơ trẻ
em bị xâm hại, trẻ em bị bóc lột, trẻ em bị bỏ rơi, thanh thiếu niên vi phạm
pháp luật, số phụ nữ và trẻ em bị bạo hành, bị buôn bán ngày càng nhiều.
Trong những năm qua, Huyện đã tập trung quan tâm chỉ đạo và đầu tư
nguồn lực cho công tác giảm nghèo, chăm lo đời sống đối tượng chính sách
xã hội, phòng chống ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV/AIDS và buôn bán phụ
nữ trẻ em. Huyện đã thực hiện tốt các chính sách trợ giúp hộ nghèo và đối
tượng bảo trợ xã hội như tín dụng ưu đãi; hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất;
hướng dẫn cách làm ăn; cấp thẻ bảo hiểm y tế; miễn giảm học phí; hỗ trợ xây
dựng nhà ở, trợ cấp xã hội hàng tháng. Đồng thời khuyến khích xã hội hóa
công tác chăm lo đời sống cho hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt, các đối tượng chính sách xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trên địa bàn
huyện đã có những hỗ trợ đóng góp đáng kể cho quỹ Vì người nghèo, quỹ
Bảo trợ trẻ em…
an sinh xã hội, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
2.2. Thực trạng trẻ em lang thang tại địa bàn Sa Pa
8
8
2.2.1. Một số tình hình chung
Theo thống kê năm 2014 tổng số trẻ em dưới 16 tuổi trên địa bàn toàn
huyện có 21.695 em; trong đó: trẻ em dưới 6 tuổi là 8.826 em chiếm 40,6%;
6.857 trẻ em sống trong gia đình hộ nghèo chiếm 31,6%. Trẻ có hoàn cảnh
đặc biệt là 558 em (trong đó có 3 trẻ em bị bỏ rơi và 14 trẻ em mồ côi cả cha
lẫn mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội và được nuôi dưỡng tại cộng đồng, 13 trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Công
tác xã hội của tỉnh). Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ 415 em, 92 trẻ em khuyết tật
nặng đang hưởng chính sách bảo trợ xã hội. Đến tháng 12 năm 2015 Tỷ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi chiếm 22,6%. Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ
tuổi: Mầm non : 96,8%, Tiểu học: 99,6%, Tỷ lệ tốt nghiệp THCS: 99,8%.
Đến tháng 9/2015 có 29 trường học đạt chuẩn quốc gia (Mầm non: 09/20
trường; Tiểu học 13/22 trường; THCS 9/20 trường). Đến hết tháng 3 năm
2016 đã cấp phát thẻ Bảo hiểm Y tế được 8.800 thẻ BHYT cho trẻ em từ 0-6
tuổi đạt 99,8%. người nghiện
Về tình hình trẻ em lang thang trong toàn huyện hiện nay có 97 (theo số
liệu kết quả khảo sát trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của UBSD, GD và TE Sa
Pa). Cũng theo kết quả khảo sát của UBDS, GD và TE thực trạng trẻ em lang
thang tại huyện hiện nay gồm có 2 loại:
Trẻ em lang thang đã hồi gia (tính từ 8/2005 đến nay) là 198 em. Sau
một thời gian lang thang đến nay các em đã được đưa trở lại gia đình. Đa số
các em tiếp tục đi học trở lại. Một số em đã được tạo công ăn việc làm ổn
định. Hiện nay có 59 em có nhu cầu học nghề.
Trẻ em hiện đang lang thang có 97 em.
bản bàn giao cho các xã và nhà trường tuy nhiên số trẻ em trên vẫn trở lại
lang thang ăn xin, chơi điện tử, đánh xèng và ngủ qua đêm ở thị trấn.
*Về độ tuổi: theo thống kê của UBDSGĐ và TE Sa Pa, hầu hết trẻ em
lang thang tập trung trong độ tuổi từ 10 đến dưới 16. Các em đang trong lứa
tuổi học sinh cấp I hoặc cấp II nhưng đều đã bỏ học.
10
10
*Về giới tính: Theo kết quả khảo sát của UBDSGĐ và TE cho thấy
phần lớn các em lang thang tập trung vào phái nam là đa số.
*Địa bàn phân bố: Từ sau khi khánh thành cáp treo, lượng khách du
lịch ở Sa Pa rất đông cộng với tình hình mất mùa thảo quả ở các xã nên tình
trạng các đối tượng lang thang đeo bám khách, bán hang rong và ăn xin gia
tăng và diễn biến phức tạp; Trong những thời gian cao điểm như các ngày
nghỉ cuối tuần, các ngày lễ lớn nhiều trẻ em chèo kéo khách bán hang rong,
lang thang ăn xin tập chung nhiều ở các khu vực như sân quần, nhà thờ, bến
xe cũ, điểm trả khách của các tuyến xe đường dài…
2.2.2. Một vài thực trạng diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt hằng
ngày cuả các em
* Vấn đề nhà ở: Tuỳ theo hình thức lang thang các em có thể có các
hình thức cư trú khác nhau. Phần lớn các em (chiếm 3/4) ban ngày lang thang
kiếm sống tối trở về nhà. Đặc biệt là các em lang thang tại các xã phụ cận
lang thang kiếm sống trên địa bàn thị trấn Sa Pa. Bởi vì đây là những địa bàn
gần nhà các em. Ngoài ra cũng có những em ở các xã và các huyện xa đến,
các em này thuê cùng nhà trọ ở với nhau loại nhà trọ rẻ tiền trong các khu nhà
ổ chuột. Nhà trọ chủ phục vụ cho việc ngủ ban đêm còn ban ngày các em lang
thang kiếm sống ngoài đường.
* Về thu nhập: Qua khảo sát 90% các em được hỏi đều trả lời rằng các
thôn ở nhà không làm gì để kiếm ra nổi một tháng chừng ấy tiền. Do vậy đây
chính là lí do khiến các trẻ em ở nông thôn tiếp tục lang thang ra thành thị để
kiếm sống.
* Về thời gian làm việc: Hầu như các em làm việc trên 10h mỗi ngày.
Ngoài thời gian về nhà ngủ buổi tối thì thời gian còn lại trong ngày các em
đều lang thang ngoài đường để kiếm sống. Và hàng ngày các em phải đi bộ
qua rất nhiều nẻo đường, trung bình từ 10 đến 15 km.
*Về đời sống vật chất: Trẻ em lang thang là những trẻ em nghèo xuất
thân từ những gia đình hoàn cảnh rất khó khăn. Do vậy đời sống vật chất hết
sức thiếu thốn. Các em ăn mặc rách rưới, mùa hè một mảnh vải che thân, mùa
12
12
đông không đủ ấm. Vấn đề ăn uống không được đảm bảo. Bữa sáng của các
em chỉ là những chiếc bánh mì, buổi trưa ăn cơm bụi ở trong chợ với mức giá
trung bình khoảng 10.000đ/bữa (theo kết quả khảo sát của UBDSGĐ và TE).
Đó là một chỉ báo về đời sống vật chất ở mức quá thấp so với mức trung bình
chung. Điều này ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường về thể lực
của các em.
* Về đời sống tinh thần: thiếu hụt mạnh. Các em là những trẻ lang thang
xa nhà, trước hết là thiếu tình yêu thương, che chở của bố mẹ và gia đình.
Không nhận được sự dạy bảo, dìu dắt, giúp đỡ thường xuyên. Điều này đã gây
ra những tổn thương, những lệch lạc trong những tâm hồn non nớt.
Không những thiếu thốn về tình cảm mà ngay cả những nhu cầu tối
thiểu về vui chơi giải trí các em cũng không được hưởng. Bởi cuộc sống lang
thang ngoài đường suốt ngày, các em hầu như không như có thời gian để tham
gia vào các hoạt động vui chơi, không được học hành. Điều này đã ảnh hưởng
tới sự phát triển tâm sinh lí bình thường và sự hoàn thiện nhân cách của các
em.
lịch dừng chân vãn cảnh. Các em đã lợi dụng cơ hội này để ra đường lang
thang xin ăn.
2.3.2. Hậu quả của tình trạng trẻ em lang thang xin ăn tại địa bàn
Trẻ em lang thang là vấn đề chung của mọi xã hội và cũng là vấn đề
nóng bỏng trên địa bàn huyện Sa Pa. Hiện nay đang được các cấp chính
quyền và toàn thể người dân quan tâm. Bởi hiện trạng này đã gây ra nhiều hậu
quả nghiêm trọng đối với bản thân, gia đình các em cũng như đối với toàn thể
xã hội.
Hậu quả trực tiếp là đối với bản thân các em. Ở độ tuổi này các em còn
non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần. Trước hết danh dự bản thân các em bị xúc
phạm. Các em phải làm những công việc như đánh giầy, nhặt rác. Điều đó
không bao giờ đảm bảo có một sự nhìn nhận, đánh giá tôn trọng từ phía
những người xung quanh đối với các em. Thậm chí ngay những lề đường, góc
phố, trong các nhà hàng ta có thể tận mắt chứng kiến thấy cảnh các em này bị
14
14
quát mắng, xua đuổi khi mà các em đến bên người ta nài nỉ để đánh từng đôi
giầy.
Các em không được đến trường vì suốt ngày phải bỏ học để đi lang
thang kiếm ăn. Điều đó ảnh hưởng đến tương lai sau này của các em. Vì các
em không được giáo dục, khong được trang bị tri thức để bước vào đời. Thiếu
kiến thức sẽ mờ mịt về tiền đồ như ông cha ta đã nói "Nhân bất học, bất tri lý.
Ấu bất học lão hàn vi".
Các em không được chăm lo sức khoẻ thích đáng, không được hỗ trợ về
mặt vật chất và tinh thần để phát triển khoẻ mạnh như những trẻ bình thường
khác. Điều này cũng tạo ra một cách nhìn lệch lạc, ảnh hưởng đến sự hình
thành đạo đức nhân cách của các em.
Một hậu quả nghiêm trọng là trẻ em lang thang luôn phải đối mặt với
những giải pháp cần thiết như sau:
3.1.1. Tái hoà nhập cộng đồng cho trẻ em lang thang
Ngoài những trẻ em đã được hồi gia, số lượng trẻ em đang lang thang
tới 97 em là khá lớn. Do vậy UBDSGĐ và TE cần phối hợp với các cấp lãnh
đạo địa phương và các cơ quan ban ngành như Công an, UBMTTQ… cùng
phối hợp với gia đình tập hợp các em lại để đưa các em trở về gia đình tiếp
tục đi học hoặc tuỳ theo hoàn cảnh có thể xem xét đưa các em vào Trung tâm
bảo trợ của huyện.
3.1.2. Giải pháp cho vay vốn, hướng nghiệp dạy nghề, tạo việc làm,
tìm kiếm việc làm mới nhằm xoá đói giảm nghèo nâng cao thu nhập cho
người dân
Trong những năm qua đã có rất nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng
này trong đó phải kể đến sự giúp đỡ của Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ
bảo trợ trẻ em Việt Nam qua việc cho vay vốn để đưa trẻ em lang thang hoà
nhập cộng đồng.
Từ việc đánh giá đúng thực trạng của địa phương và tình hình trẻ em
lang thang trên địa bàn. QBTTE Việt Nam đã giúp đỡ các xã nghèo qua việc
thực hiện dự án từ thiện "cho hộ gia đình vay vốn tạo công ăn việc làm để trẻ
16
16
em lang thang hoà nhập với cộng đồng". Dự án này đã được triển khai từ năm
1991-1992 và vẫn còn hoạt động đến nay.
Ngoài ra Ngân hàng Chính sách xã hội cũng huy động một nguồn lực
lớn cho các hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, chăn nuôi để thoát khỏi
tình trạng nghèo đói.
Để giảm nghèo ngoài giải pháp cho vay vốn cần thực hiện tốt cơ chế
chính sách như giảm thuế đất, thuế nông nghiệp, cấp phát giống, đưa cán bộ
xuống địa phương hướng dẫn cách làm ăn, các giải pháp mô hình kinh tế hộ
người tàn tật lang thang, xin ăn
3.1.4. Một số biện pháp khác nhằm ngăn ngừa và chấm dứt tình
trạng trẻ em lang thang
Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách, đẩy mạnh
hoạt động xã hội hoá trong công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết
tình trạng trẻ em lang thang, gắn việc triển khai thực hiện chương trình này
với việc triển khai thực hiện các chiến lược, chương trình kinh tế - xã hội
khác có liên quan.
Tăng cường công tác truyền thông, vận động xã hội với nội dung và
hình thức phù hợp với từng khu vực, từng vùng và từng nhóm đối tượng
nhằm góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của gia đình, nhà trường,
cộng đồng dân cư, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi
công dân trong công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ
em lang thang.
Có các hình thức tư vấn, tham vấn và vận động trực tiếp đối với gia
đình, cộng đồng dân cư về kĩ năng bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình
trạng trẻ em lang thang. Tư vấn cho trẻ em và gia đình về cách nuôi dạy con
cái, kĩ năng tìm kiếm việc làm.
3.2. Kiến nghị
Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là trách nhiệm chung của mọi gia đình, toàn xã
hội. Trước thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em lang
thang nói riêng hiện nay tồn tại trên phạm vi cả nước và trên địa bàn huyện Sa
18
18
Pa. Tôi có một vài ý kiến đề xuất với các cơ quan ban ngành nhằm tăng cường
công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và chấm dứt tình trạng trẻ em lang thang
trên địa bàn huyện.
Quỹ BTTEVN cùng Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Sa Pa cần
lang thang.
Các cấp lãnh đạo địa phương cần có kế hoạch dự án đầu tư xây dựng
các khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em để chăm lo hỗ trợ về mặt tinh thần.
Ngoài ra cần quan tâm các em trong các dịp lễ tết, sinh hoạt hè, giúp đỡ các
em trong học tập và đời sống.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu thực trạng trẻ em ở hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em
lang thang nói riêng là vấn đề đã được mọi tổ chức quốc tế và các quốc gia
trên thế giới quan tâm nhằm khắc phục hậu của các vấn đề kinh tế - xã hội.
Qua thời gian khảo sát tìm hiểu tình hình trẻ em lang thang trên địa bàn
Sa Pa tôi nhận thấy đây cũng là một vấn đề khá nghiêm trọng của huyện nhà,
trong khi Sa Pa là một trong những huyện nghèo, của cả nước. Điều đó đã kéo
theo các vấn đề xã hội khác trong đó có thực trạng trẻ em lang thang xin ăn.
Do vậy cần có sự quan tâm quản lý của các cấp chính quyền, của gia đình và
toàn xã hội để khắc phục tình trạng trên.
Trong thời gian tìm hiểu có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa có nhiều,
tôi chưa thể đi sâu phân tích tìm hiểu cặn kẽ mọi mặt của vấn đề. Kính mong
được sự góp ý của thầy cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
20
20