CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở XÃ
LƯƠNG TÂM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam xem Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, hàng năm Nhà nước
dành hơn 20% ngân sách quốc gia chi cho giáo dục đào tạo. Vì vậy, trong những
năm gần đây nền giáo dục quốc dân ở Việt Nam có nhiều thành tựu đáng kể. Từ một
nước hơn 95% dân số không biết đọc, biết viết đến nay Việt Nam đã xoá xong phổ
cập Trung học cơ sở và đã tiến hành phổ cập Trung học phổ thông, số sinh viên tốt
nghiệp ra trường ngày càng nhiều, số lượng Thạc sĩ ngày càng đông và Việt Nam là
một trong những nước có số lượng Tiến sĩ đông bậc nhất thế giới (gắp 5 lần Nhật
Bản). Những thành tựu đó góp phần rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, đẩy nhanh quá trình tiếp thu khoa học kỹ thuật của nhân loại, đưa nước ta
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho nhân dân.
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang mất cân đối trầm trọng về nguồn lao động
có trình độ tay nghề, có quá nhiều “thầy” và ngược lại có quá ít “thợ”. Theo thống
kể của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện nay Việt Nam có hơn 1 triệu
người thất nghiệp, trong số đó có 178.000 củ nhân và Thạc sĩ. Điều đó cho thấy nền
giáo dục của Việt Nam đang có vấn đề. Chúng ta đào tạo không theo nhu cầu của
người học, không theo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực… mà chúng ta chỉ đào tạo
theo những gì mình có, đào tạo theo trào lưu mà không tính đến sự cân đối giữa
cung và cầu lao động. Chính vì lẽ đó, số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng,
người học nghề ra trường không tìm được việc làm ngày càng cao, tạo ra sự lãm phí
ngân sách, tiền của nhân dân, thời gian, sức trẻ và tạo nên gánh nặng cho xã hội.
Ở Hậu Giang nói chung và xã Lương Tâm nói riêng, công tác đào tạo nghề đã
và đang góp phần rất lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn. Hàng năm, xã Lương Tâm
có khoảng 500 lao động được đào tạo nghề và được tập huấn chuyên môn kỹ thuật.
nghề và giải quyết việc làm ở địa phương thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Công tác đào tạo nghề và giải quyết viếc làm ở xã Lương Tâm
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ,
tỉnh Hậu Giang.
Phạm vi thời gian: Vấn đề được nghiên cứu trong thời gian 5 năm (2011 2015)
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tiểu luận vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Hơn nữa trong quá trình nghiên cứu,
tiểu luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, thống kê, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Kết cấu nội dung
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận được chia thành 3
chương:
Chương 1: Lý luận chung về đào tạo và việc làm
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề và giải giải quyết việc làm ở xã
Lương Tâm giai đoạn 2011 - 2015
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công đào tạo nghề và
giải quyết việc làm ở xã Lương Tâm thời gian tới.
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm đào tạo
Đào tạo là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên
quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ
năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với
có thể nói việc làm quy định nội dung đàotạo.
Trong mối quan hệ gắn kết giữa đào tạo với sử dụng và giải quyết việc
làm phải dựa trên cơ sở nhu cầu lao động trên thị trường lao động. Đào tạo ai,
đào tạo nghề gì, cấp trình độ gì ... phải do yêu cầu lao động thực tế quyết định.
1.2. Quan điểm của Đảng về đào tạo nghề và giải quyết việc làm
1.2.1. Quan điểm của Trung ương
Văn kiện Đại hội ΙX khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong những chính
sách xã hội cơ bản của quốc gia nhằm nhiều biện pháp như: Tăng 50% vốn đầu tư
từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ lãi suất tín dụng, thực thicác dự án
trồng rừng, dự án 327, dự án PAM... và các chính sách giải quyết việc làm khác.
Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có
khả năng sử dụng nhiều lao dộng. Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh
phong trào lập nghiệp thanh niên và việc xuất khẩu lao động... Hàng năm tạo ra
hàng triệu việc làm mới, tận dụng số ngày công lao động chưa dùng đến nhất là các
địa bàn nông nghiệp, nông thôn”.“Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát
huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng
nhu cầu nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. Dự báo đến
năm 2010 nước ta có 56.8 triệu người ở độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu người
so với năm 2000. Do vậy, để giải quyết vấn đề cơ bản người lao động được làm
việc phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát
triển, đầu tư rộng rãi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh xuất khẩu
lao động. Xây dựng và thực hiện chặt chẽ cơ chế, chính sách đồng bộ về đào tạo
nguồn lao động. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp
với cơ cấu kinhtế”.
Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Giải quyết việc làm
cho 8 triệu lao động... Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm, tỉ lệ lao động qua
đào tạo đạt 55%... Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu
nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao
Giang ban hành kế hoạch số 05/KH-SLĐTBXH-DN về việc tổ chức triển khai thực
hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2015 nhóm nghề phi nông nghiệp.
Ngày 10 tháng 4 năm 2015 Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hậu
Giang ban hành kế hoạch số 77/KH-SNNPTNT về việc triển khai thực hiện đào tạo
nghề cho lao động nông thôn năm 2015 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.
Quan điểm của huyện Long Mỹ và xã Lương Tâm
Ngày 17/1/2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Long Mỹ ban hành Quyết
định số 2067/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo Đề án “Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn trên địa bàn huyện Long Mỹ đến năm 2020”.
Trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Lương Tâm nhiệm kỳ 2015 – 2020 có
nêu lên quan điểm về công tác đào tạo nghề như sau: “Quan tâm đào tạo tay nghề
cho lao động nông thôn, nhằm trang bị cho họ có trính độ chuyên môn nhất định để
từng bước chuyển dần từ lao động nông nghiệp, nông thôn sang các ngành nghề
khác góp phần vào định hướng phát triển chung của huyện và có ý nghĩa lớn trong
công tác xóa đói giảm nghèo. Phấn đấu cuối nhiệm kỳ tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
20 – 30% lao động, giải quyết việc làm 500 lao động/năm, thu nhập bình quân đầu
người đạt 35 - 40 triệu đồng”.
Các văn bản trên là cơ sở pháp lỹ cho việc đổi mới và phát triển đào tạo nghề
và giải quyết việc làm cho người lao động theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu
quả dạy nghề, tạo ra nhiều việc làm phù hợp với người lao động, nhằm làm tăng thu
nhập, xoá đói giảm nghèo một cách bền vững; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao
động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng nông thôn mới, giúp cho công tác đào
tạo nghề và giải quyết việc làm ở Lương Tâm đạt kết quả tốt hơn.
1.2.3. Ý nghĩa, vai trò của công tác giải quyết việc làm
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Trong đó, Công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn là một nhiệm vụ trọng tâm. Để góp phần thực hiện tốt và có hiệu
thị .
Đối với xã Lương Tâm, việc làm còn gắn với công cuộc xóa đói giảm nghèo,
xây dựng xã nông thôn mới. Giải quyết việc làm là nhiệm vụ quan trọng, thiết thực
của chính quyền, các hội đoàn thể của xã. Vấn đề việc làm đã, đang và luôn là vấn
đề có tính thời sự, nhạy cảm, nếu không được giải quyết có thể dẫn đến những
“điểm nóng” và trở thành vấn đề chính trị, đặc biệt là vùng có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống như xã Lương Tâm.
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM Ở XÃ LƯƠNG TÂM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
2.1. Đặc điểm, tình hình chung
2.1.2. Vài nét về Huyện Long Mỹ:
Trước khi được thành lập, toàn địa bàn huyện Long Mỹ nằm trong địa giới
hành chính huyện Long Mỹ cũ.
Ngày 14 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định
về việc thành lập huyện Long Mỹ và thành lập các xã thuộc huyện Long Mỹ. Gồm
các xã: Thuận Hưng, Thuận Hoà, Xà Phiên, Vĩnh Thuận Đông, Vĩnh Viễn A, Lương
Nghĩa, Lương Tâm và xã Vĩnh Viễn.
Về địa hình: Địa hình thuộc một phần của Đồng bằng sông Cữu Long.
Về đất đai: Long Mỹ có diện tích tự nhiên toàn huyện là 25.000ha đất tự nhiên,
chủ yếu là đất trồng lúa cho năng xuất thấp và trồng cây tạp.
Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê đất đai năm 2011, diện tích đất lâm
nghiệp của huyện có 650 ha. Chủ yếu là rừng Tràm ở các xã Lương Nghĩa, Lương
Tâm, Vĩnh Viễn A…
Tài nguyên khí hậu: Long Mỹ có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai
mùa rõ rệt. Mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió
Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm.
Nhiệt độ trung bình là 270C không có sự trên lệch quá lớn qua các năm. Tháng
trong độ tuổi hơn 6.000 lao động. Mật độ dân số trung bình là 470 người/km 2 bao
gồm 3 dân tộc là: Kinh, Hoa và Khơme, trong đó dân tộc Kinh chiếm phần lớn với
95% dân số của xã.
Về cơ sở hạ tầng: Xã có 05 trường học, 01 trạm xá. Có 04 trường đạt đơn vị
văn hóa và trạm xá đạt chuẩn quốc gia.
Khí hậu: Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hàng năm, chịu ảnh
hưởng của 2 loại gió chủ yếu đó là gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam.
Tình hình kinh tế - xã hội: ở Lương tâm trong thời gian qua có nhiều triển
biến tích cực. Đặc biệt Lương Tâm là một trong 11 xã được tỉnh chọn làm điểm xây
dựng nông thôn mới. Kinh tế tăng trưởng ổn định, thu nhập bình quân đầu người đạt
26/20 triệu đồng, đạt 130% NQ đại hội (so đầu nhiệm kỳ tăng 16 triệu đồng), đời
sống vật chất tinh thần của người dân trong xã được nâng lên, tạo việc làm và giảm
nghèo bền vững.
Tuy nhiên, do là xã nghèo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống,
cơ sở hạ tầng còn thấp kém, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ (toàn xã có 40 cơ sở tiểu
thủ công nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực: hàn tiện, xay xát, cưa xẻ gỗ, đan
đát lục bình, nước đá, sửa chữa nhỏ, cơ khí…). Từ đó, công tác giải quyết quyết làm
cho xã gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là lao động tại địa phương.
Từ đặc điểm, tình hình chung, công tác giải quyết việc làm ở xã Lương Tâm
hiện nay đang có những thuận lợi và khó khăn sau:
Thuận lợi:
- Lương Tâm có điều kiện về địa hình, đất đai và thời tiết khí hậu thuận lợi cho
phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng và vật nuôi phong
phú, có hiệu quả kinh tế cao.
- Lương Tâm có khả năng phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp và du lịch
lịch sử văn hoá (có đề thờ Bác Hồ, Khu Di tích chiến thắng 75 tiểu đoàn địch – xã
Vĩnh Viễn).
có nhiều thủ tục.
Đây là một số khó khăn trong công tác giải quyết việc làm tại xã Lương Tâm
gặp phải. Trong thời gian tới, chính quyền địa phương cần phải có những chính sách
phù hợp để giải quyết vấn đề thiếu việc làm, thất nghiệp tại xã hiệu quả hơn.
2.2. Đào tạo nghề và giải quyết việc làm ở xã Lương Tâm giai đoạn 2011 2015
2.2.1. Thực trạng dào tạo nghề và giải quyết việc làm ở xã lương tâm
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
TT
Nghề đào tạo
Số
lượng
đầu vào
Số
lượng
đầu ra
Sửa xe máy
25
24
5
1
Nuôi cá nước
ngọt
30
28
25
2
Sửa máy tính
25
20
4
1
May thời trang
30
29
13
2
Chăn nuôi heo
30
28
28
3
Đan Lục Bình
25
25
23
1
4
Đan Lục Bình
25
23
20
Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn
2011 – 2015
Từ báo cáo trên cho ta thấy tình hình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn ở lương tâm mất cân đối giữa nhóm nghề nông nghiệp và phi
nông nghiệp. Nhóm nghề phi nông nghiệp số học viên ra trường ít tìm việc làm hoặc
khó tạo việc làm hơn so với nhóm nghề nông nghiệp và thuỷ sản.
Đào tạo nghề trình độ trung cấp trở lên
Tâp huấn ngắn hạn:
Hàng năm Trung tâm học tập cộng đồng của xã phối hợp với các trung tâm
khuyến nông khuyến ngư huyện Long Mỹ tổ chức nhiều buổi hội thảo, tập huấn, toạ
đàm cho người dân. Đặc biệt là nhóm nghề chăn nuôi thú y, thường xuyên có các
công ty thức ăn, con giống tổ chức các buổi hội thảo, hướng dẫn ký thuật chăn nuôi
cho người dân. Trung bình hàng năm có khoảng 500 lược người dân đi dự hội thoả,
tập huấn. (Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của UBNDX)
Lương Tâm là một trong những xã nghèo của tỉnh Hậu Giang, quy mô dân số
và mật độ dân cư tương đối lớn và tốc độ phát triển nhanh so với các xã khác của
huyện Long Mỹ, trong lúc đó việc mở rộng và phát triển kinh tế, giải quyết việc làm
gặp nhiều hạn chế, như thiếu vốn sản xuất, lao động phân bổ chưa hợp lý, tài
người chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Lao động phổ thông thất nghiệp chiếm 10%;
số tốt nghiệp phổ thông cơ sở thất nghiệp chiếm 9%; tốt nghiệp phổ thông trung học
chiếm 7%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 6% và tốt nghiệp cao đẳng,
đại học chiếm 5%.
Như vậy, trình độ văn hoá của người lao động càng cao thì khả năng tìm kiếm
việc làm càng cao.
Là xã nông thôn nghèo, xã có gần 95% lực lượng lao động tập trung ở nông
nghiệp. Thất nghiệp mang tính thời vụ, bán thất nghiệp là phổ biến. Thiếu việc làm
do nguồn lao động ngày một tăng nhanh trong lúc đó diện tích canh tác chỉ có hạn
làm cho tỷ lệ diện tích theo đầu người càng giảm. Năng suất lao động hiện còn thấp.
Tình trạnh thiếu việc làm đầy đủ còn phổ biến.
Qua phân tích trên đây cho ta thấy lao động ở Lương Tâm có sự mất cân đối
giữa cung và cầu.
=> Xin báo cáo để viết thêm, thống kê số liệu thêm, viết như thế này quá sơ sài,
thiếu thuyết phục. Phải thống kê từ báo cáo cụ thể
2.2.2. Nguyên nhân thất nghiệp
Vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm ở xã Lương Tâm nói riêng và các địa
phương khác nói chung là do nhiều nguyên nhân và sự tác động. Trong sự tác động
đó không thể không kể đến nguyên nhân vĩ mô và vi mô. Do đó, ở đề tài này xin nêu
lên nguyên nhân dẫn đến vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm ở hai cấp độ quốc gia và
địa phương nghiên cứu.
Nguyên nhân thất nghiệp chung cho cả nước:
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm
suy giảm số người lao động hiện đang làm việc tại các xí nghiệp, hợp tác xã quốc
doanh.
Tương tự như một số nước, việc tự do hoá nền kinh tế và cải cách cơ cấu đã
khuyến khích cho các doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính quy và khuyến
khích việc ký hợp đồng lao động. Những yếu này được xem là sẽ tạo ra một thị
doanh nghiệp nào lớn đầu tư tại xã.
Kinh tế của xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp và kinh tế hộ gia đình nên ngoài
thời gian nông nhàn người dân gần như không có việc tăng thê thu nhập.
Trước đây có nhiều lao động đi làm ở Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí
Minh… Nhưng những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thua lỗ, công
nhân bị sa thải ngày nhiều. Vì vậy, số lao động từ Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh về
quê ngày càng nhiều.
Trình độ dân trí ở xã Lương Tâm còn thấp, số lao động qua đào tạo nghề rất
thấp do đó họ khó tìm được việc làm có thu nhập ổn định và dễ bị xa thải khi doanh
nghiệp gặp khó khăn.
Trong những năm gần đây xã có đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho lao động
nông thôn theo Đề án 1956. Tuy nhiên, do đào tạo nghề không phù hợp với điều
kiện thực tế của người dân nên họ không thể sống bằng nghề họ được đào tạo.
Công tác hướng nghiệp cho học sinh chưa được chú trọng nên nhiều sinh viên
tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm phù hợp. Có nhiều sinh viên ra trường
đi xin việc nhiều nơi nhưng không có nơi nào nhận, khi về nhà thì không áp dụng
chuyên môn vào thực tế để tạo được việc làm và thu nhập cho bản thân.
2.3. Kết quả thực hiên công tác giải quyết việc làm ở xã Lương Tâm giai
đoạn 2011 - 2015
Từ năm 2011 - 2015, đã giải quyết việc làm cho 800 lao động (bình quân 160
lao động/năm). Công tác giải quyết việc làm đã gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu
lao động, nhờ đó cơ cấu lao động được chuyển dịch theo hướng phù hợp với sự phát
triển kinh tế - xã hội của xã. Cụ thể, năm 2011, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp là 80%; công nghiệp 14%; (xã không có khu công nghiệp hay cơ sở sản xuất
cần thuê mướn nhiều lao động nên lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
của xã chủ yếu là đi làm ở các tỉnh khác); dịch vụ 6%. Đến năm 2015, cơ cấu lao
động tương ứng là 75%, dịch vụ 9% và công nghiệp 16%.
Đạt được kết quả trên là do được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của cấp ủy Đảng
giảm nghèo để đưa vào phần này. Phần này phải viết nhiều hơn vì đây là nội dung
trọng tâm của tiểu luận. Nên có bảng thống kê theo số liệu hàng năm. Viết như trên
chưa thuyết phục
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Những ư điểm và nguyên nhân
Thứ nhất, những ưu điểm
Các chính sách hỗ trợ của Đảng và nhà nước dành cho các học sinh là
người dân tộc thiểu số cao và gắn liền với việc học nghề. Có học nghề thì mới
được hỗ trợ. Ví dụ như đề án 25 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, người học
nghề sau khi học xong sẽ được cấp vốn hoặc con giống để lao động, cải thiện đời
sống nên đa số học sinh sau khi học xong đều có công ăn việc làm.
Công tác vận động, hỗ trợ của chính quyền địa phương các cấp về dạy
nghề, việc làm đã tạo bước chuyển biến mới trong nhận thức của người dân nông
thôn, nhất là người dân tộc thiểu số nghèo. Một số ít đồng bào đã bắt đầu thoát ra
khỏi nghề truyền thống như nuôi heo, nuôi bò...mà tiếp cận những ngành nghề
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như may, chế biến thực phẩm ....và chịu đi
làm việc ở các khu đô thị lớn như Bình Dương, Thành phố Hồ ChíMinh.
Thứ hai, nguyên nhân của ưu điểm
2.2.1.1. Hạnchế
-
Tuy đa số học sinh sau khi học xong (các nghề ngắn hạn) đều có
việc làm nhưng không bền vững. Các học sinh này thường không gắn bó với
nghề mình được đào tạo và chuyển sang làm một công việc khác hay theo
học một nghề khác làm lãng phí thời gian và tiềnbạc.
-
Việc giới thiệu học sinh sau khi học nghề đi làm việc tại các doanh
nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, đa số các em sau khi học xong đều tự tìm
việc hoặc thông qua cò việc làm dẫn đến chế độ bảo hiểm, tiền lương của các em
không được chi đúngmức.
2.2.1.2. Những nguyên nhân dẫn đến hạnchế
Hiệu quả giải quyết việc làm cho học sinh sau khi học xong là không cao
là do những nguyên nhânsau:
-Thứ nhất như ta đã biết Tri Tôn là một huyện miền núi, diện tích phần
lớn là đồi núi, vị trí địa hình chia cắt phức tạp, khoảng cách từ trung tâm
huyện
đến các khu đô thị lớn quá xa, điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt. Do đó,
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói chung và
vấn đề giải quyết việc làm nói riêng. Thực tế cũng cho thấy ở đâu có điều kiện tự
nhiên kinh tế xã hội thuận lợi, có đời sống vật chất tinh thần cao thì ở đó các
ngành nghề sản xuất, dịch vụ phát triển và tập trung nhiều lao động việc làm hơn
-Thứ hai, yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội là năng suất lao
động, mà năng suất lao động lại phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn lao
động. Nguồn lao động là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh yếu tố: trình độ
văn hoá, trình độ kỹ thuật, tay nghề, thể trạng sức khỏe của người lao động.
Mặt khác, có việc làm- trình độ học vấn- trình độ tay nghề có mối quan hệ
mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Để có việc làm và tìm được việc làm
cũng như nâng cao hiệu quả việc làm, đòi hỏi phải có tay nghề tức có
chuyên môn kỹ thuật. Muốn có chuyên môn kỹ thuật và khả năng vận dụng
nghề phải có trình độ văn hoá, có học vấn nhất định mà người dân tộc thiểu