Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
“VẤN ĐỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM Ở
HUYỆN THỚI LAI. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Giáo viên hướng dẫn:
Lưu Thò Lan
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Đònh
Đơn vò công tác: Trường THPT Thới Lai
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 1
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
Lớp: Hoàn chỉnh trung cấp lý luận chính trò. Tổ: 01.
Hệ: Tại chức.
Khóa học: II
UBND TP.CẦN THƠ
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHẬN XÉT TIỂU LUẬN
Họ và tên học viên: Nguyễn Hữu Đònh
Lớp: Hoàn chỉnh trung cấp lý luận chính trò.
Đơn vò công tác: Trường THPT Thới Lai.
ĐIỂM NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Cần Thơ, ngày………tháng………năm ……
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 2
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
Giáo viên II Giáo viên I
UBND TP.CẦN THƠ
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường và thời đại bùng nổ thông tin đã có
những tác động không nhỏ đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em. Đặc biệt trong thời gian qua, nhiều người thật sự lo lắng khi biết tin
trên 114.000 học sinh các cấp trên phạm vi cả nước bỏ học với nhiều
nguyên nhân khác nhau như: hoàn cảnh gia đình khó khăn, không đủ điều
kiện đến trường, phải đi làm việc để phụ giúp gia đình Bên cạnh đó, các
phương tiện truyền thông đại chúng gần đây liên tiếp thông tin về các vụ
ngược đãi, hành hạ trẻ em; các vụ bắt cóc trẻ em; các vụ hiếp dâm trẻ em,
dụ dỗ xâm hại trẻ vị thành niên đang trong chiều hướng ngày càng tăng;
các vụ hỏi cung, trấn áp, đe dọa dẫn đến khủng hoảng tinh thần trẻ em liên
tiếp xảy ra ở nhiều địa phương Những thông tin trên thực sự là những cú
sốc đối với những người quan tâm đến quyền trẻ em.
Vì sao tình trạng trẻ em bỏ học, trẻ em bị ngược đãi, hành hạ gia
tăng trong thời gian gần đây? Huyện Thới Lai đã và đang làm gì để thực
hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em? Đây chính là câu
hỏi được đặt ra cho tất cả mọi người trong xã hội, cho mọi gia đình đang
quan tâm chăm sóc đến thế hệ trẻ và đây cũng chính là lý do thôi thúc tôi
thực hiện đề tài: “Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở Huyện
Thới Lai. Thực trạng và giải pháp” trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu tại
Huyện Thới Lai. Qua đó thấy được tình hình chăm sóc, bảo vệ và giáo dục
trẻ em ở huyện nhà đồng thời có những giải pháp thiết thực nhằm góp
phần thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện nhà tốt
hơn.
B- NỘI DUNG:
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN
1- Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em:
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được C.Mác nêu ra
ngay khi chủ nghĩa Mác mới ra đời. Theo Mác, trong lịch sử phát triển của
mình, loài người luôn tái sản xuất ra sức lao động mới có số lượng lớn hơn
một nước độc lập". Người phát hiện ở trẻ em những tiềm năng không chỉ
cho tương lai mà có ích ngay trong hiện tại. Các em hoàn toàn có thể đóng
góp sức mình cho gia đình, xã hội, cho đất nước và cách mạng nếu các em
được định hướng, được động viên. Các em cũng là một lực lượng xã hội,
thậm chí các em có thể làm được những điều to lớn.
Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mục tiêu của công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, giáo dục lý tưởng cách mạng để có những
con người cách mạng và một thế hệ cách mạng. Ngày nay chúng ta còn coi
trọng giáo dục đạo đức, văn hóa truyền thống cho trẻ em; kiên định quan
điểm cách mạng xã hội chủ nghĩa để định hướng cho trẻ em và những
người làm công tác bảo vệ , chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy, quan tâm đến con người nói
chung, trẻ em nói riêng là mục tiêu cơ bản chi phối đường lối cách mạng
của Đảng ta.
Trong tư tưởng của Người, trẻ em là người chủ tương lai của đất
nước. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là: “Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
3- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em:
3.1- Quan điểm của Đảng ta đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em:
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 6
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
3.1.1- Bảo vệ, chăm sóc, và giáo dục trẻ em là chăm lo cho
tương lai của gia đình, của dân tộc, vì sự nghịêp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản là một
sự nghiệp vĩ đại và lâu dài, đòi hỏi phải có lớp lớp người kế tiếp nhau thực
gương mẫu thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Chỉ
thị 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở đối
với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã chỉ ra rằng các cấp ủy
Đảng phải coi sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách
nhiệm của Đảng, phải lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan của Đảng tuyên
truyền, phổ biến rộng rãi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 7
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
công tác trẻ em. Tổ chức Đảng các cấp “Lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng
và thực hiện chương trình, kế hoạch hành động vì trẻ em 5 năm và hàng
năm của địa phương, chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ về sức khoẻ, trí
tuệ, đạo đức, văn hoá tinh thần, để trở thành công dân xã hội chủ nghĩa
nhỏ tuổi, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm hại đối với trẻ em”.
3.2 – Quan điểm của Nhà nước ta đối với công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em:
Luật của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
25/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em đã nêu rõ: “Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất
nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Điều 2:
“Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ,
con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần,
địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng, đều được bảo
vệ, chǎm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.”;
Điều 3: “Việc bảo vệ, chǎm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình,
nhà trường, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân ở trong nước
và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chǎm sóc và giáo dục trẻ em.”;
Điều 4: “Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện. Mọi hành vi vi
phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em,
đều bị nghiêm trị.”
doanh dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.
Về xã hội: Đây là địa bàn đa phần dân cư sống bằng nghề nông
nghiệp, thành phần dân cư cũng đa dạng: đồng bào dân tộc Kinh, Khơ me,
Hoa cùng sinh sống đoàn kết. Về tôn giáo cũng đa dạng như phật giáo,
công giáo, hoà hảo.
Trong lĩnh vực y tế: Có 1 trung tâm y tế của huyện đặt tại thị trấn
Thới Lai, ở mỗi xã có 1 trung tâm ý tế điều trị bệnh cho nhân dân.
Về giáo dục: trên địa bàn huyện có 57 trường học: 05 trường mầm
non, 10 trường mẫu giáo, 30 trường tiểu học 12 trường THCS, 03 trường
THPT và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên.
Hệ thống cầu, đường, trường, trạm đang từng bước được hoàn
thiện.
Đời sống nhân dân đang từng bước được cải thiện cùng với sự phát
triển của thành phố và cả nước. Có 10/14 xã thị trấn được công nhận là xã
văn hoá.
2- Thực trạng của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở
Huyện Thới Lai:
2.1 - Đặc điểm, tình hình về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em ở Huyện Thới Lai:
Tổng số trẻ dưới 16 tuổi trong toàn huyện là 28.699 em. Trong đó độ
tuổi nhà trẻ là 370, mẫu giáo là 4.973, tiểu học là 14.5753, trung học cơ sở
là 7.758, trung học phổ thông là 845.
Toàn huyện có 73 trẻ em khuyết tật (Khiếm thị, khiếm thính, khó khăn
vận động, chậm phát triển trí tuệ ) đang theo học ở các trường trong
huyện.
Số trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi là 90. Đặc biệt tại xã Trường Thắng có 01
trẻ dưới 18 tháng bị nhiễm HIV và bị bỏ rơi.
Hầu hết trẻ em là con nhà nông, điều kiện học tập, vui chơi giải trí và
môi trường sinh hoạt gắn liền với nghề nông. Đây là một đặc điểm khác
biệt với các quận huyện khác trong thành phố.
Ban Nhân Dân Huyện đã chỉ đạo cho phòng Lao động và thương binh
xã hội huyện rà sóat, khảo sát và thống kê về tình hình trẻ em trong toàn
huyện để thực hiện xây dựng xã trọng điểm về tình hình trẻ em. Cụ thể,
Thị trấn Cờ Đỏ và xã Động hiệp là hai địa phương đang được đưa vào
mô hình. Với nội dung trên thì công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em ở 2 địa phương này được quan tâm đặc biệt hơn để từ đó nhân rộng
mô hình cho các xã khác.
−Chương trình xoá mù bơi lội được triển khai ở các xã vùng sâu đã
giảm đáng kể tình trạng trẻ em tử vong trong mùa lũ.
* Công tác chăm sóc trẻ em:
−Khi công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được chuyển về
ngành Lao động, Thương binh, xã hội, huyện Thới Lai đã nhanh chóng
kiện toàn bộ máy nhân sự các phòng, ban. Lãnh đạo Uỷ ban Dân số -
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 10
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
Kế hoạch hoá gia đình và trẻ em được chuyển sang làm Trưởng phòng
Lao động, Thương binh và Xã hội, chính vì thế công tác bảo vệ chăm
sóc, giáo dục trẻ em nhanh chóng đi vào quỹ đạo, không bị gián đoạn từ
huyện đến cấp cơ sở. Huyện cũng đã chỉ đạo trực tiếp Phòng Lao động,
Thương binh, xã hội xây dựng, hoàn thiện Hội đồng quỹ Bảo vệ, chăm
sóc trẻ em. Ban hành việc thu, chi phải đảm bảo đúng mục đích; phát
động “Tháng hành động vì trẻ em” từ huyện đến cấp cơ sở.
−Hệ thống chăm sóc sức khoẻ trẻ em ngày càng được mở rộng, cơ
bản không còn xã trắng về y tế, mạng lưới y tế ấp, được khôi phục. Số
xã được Sở y tế Cần Thơ phúc tra công nhận là 2 xã (Đông Thuận,
Đông Hiệp), nâng tổng số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế trong huyện
14/14 xã, đạt 100%.
−Hiện đã có gần 98% trẻ em dưới 6 tuổi được phát thẻ khám chữa
bệnh miễn phí.
−Công tác khám bệnh định kỳ cho học sinh trong toàn huyện được tổ
chức năng, khám bệnh, cấp phát thuốc, tặng quà
* Công tác giáo dục trẻ em:
−Về giáo dục, hiện Thới Lai đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học
và giáo dục trung học cơ sở, hiện đang tiến hành phổ cập giáo dục trung
học phổ thông. Tất cả các xã trong huyện đều có trường mẫu giáo,
trường tiểu học, trường trung học cơ sở. Các biện pháp tăng cường
chất lượng giáo dục cơ sở đã được mở rộng: trường bán trú, trường nội
trú, bán công, tư thục…Đặc biệt trong năm qua, thực hiện chủ trương
của ngành giáo dục đào tạo trong việc xây dựng “trường học thân thiện,
học sinh tích cực” đã góp phần làm cho công tác giáo dục trẻ đi vào
chiều sâu, tác động rất lớn đến việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân
cách của các em. Hầu hết các xã, thị trấn đều có nhà văn hoá hay trung
tâm học tập cộng đồng.
Công tác huy động trẻ đến trường được các ngành các cấp và toàn
xã hội quan tâm, cụ thể:
- Nhà trẻ: 370 trẻ (năm qua 359 trẻ tăng 11trẻ).
- Mẫu giáo: 4973 cháu (năm qua 5071 cháu giảm 98 cháu). Tỷ lệ huy
động trẻ 5 tuổi đến trường đạt : 99,9%.
- Tiểu học: 14.753 học sinh, giảm 20 học sinh (do tỷ lệ gia tăng dân
số giảm). Tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt: 99,8% (năm qua: 99,8%).
- Trung học cơ sở: 7758. Ngoài ra học sinh trung học cơ sở trong
trường trung học phổ thông là 845 học sinh.
−Ký kết với các ban ngành, đoàn thể để vận động con em mình
không bỏ học giữa chừng, vận động học sinh bỏ học ra lớp; Hội khuyến
học vận động các nguồn lực chăm lo cho học sinh có hoàn cảnh khó
khăn, khen thưởng động viên giáo viên và học sinh có thành tích Duy
trì tuyên dương học sinh giỏi trên cơ sở phát huy vai trò của xã hội trong
việc khuyến học, khuyến tài.
Công tác giáo dục ở từng cấp học cụ thể như sau:
Giáo Dục Mầm Non:
trọng về nhận thức và vai trò của giáo dục mầm non đối với tuổi thơ.
−Duy trì và tổ chức tốt các hoạt động phong trào, hội thi trong giáo
dục mầm non.
Toàn huyện có 01/15 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Giáo dục tiểu học:
Tiếp tục củng cố, nâng chất giáo dục toàn diện
Tăng cường giáo dục đạo đức học sinh thông qua thực hiện chương
trình chính khóa, các tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt chủ đề
hàng tháng và các hoạt động ngoại khóa khác. Từ đó, giúp học sinh hình
thành thói quen, hành vi đạo đức, có ý thức kỷ luật.
Việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày được xã hội quan tâm và đồng tình.
Toàn huyện có 106 lớp/3997 học sinh học 2 buổi/ngày.
Kết quả học tập ở cuối năm học:
- Hạnh kiểm xếp loại thực hiện đầy đủ đạt: 99,8% (năm qua 100%)
- Học lực:
Tiếng việt: giỏi: 36,06% ; khá: 38,18% ; TB: 21,3% ; Yếu: 4,46%
Toán: giỏi: 37,05% ; khá: 35,77% ; TB: 22,75% ; Yếu: 4,43%
- Hoàn thành chương trình tiểu học: 98% (năm qua 96,05%)
Giáo dục trung học cơ sở:
Tiếp tục hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở với tỉ lệ trẻ từ
15 đến 18 tuổi tốt nghiệp THCS (2 hệ) là 83% được Sở Giáo dục - Đào tạo
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 13
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
kiểm tra công nhận đạt chuẩn năm 2007. Cùng với địa phương vá các
trường các trường đề ra nhiều biện pháp chống lưu ban bỏ học trên địa
bàn. Bên cạnh đó cũng đã huy động các đối tượng phổ cập bậc trung học
để nâng tỷ lệ 18-21 tuổi tốt nghiệp THPT, BTTHPT, THCN và đào tạo nghề.
Phấn đấu năm 2008 có 03 đơn vị đạt chuẩn phổ cập bậc trung học là Thị
trấn Thới Lai, Thị trấn Cờ Đỏ và xã Thới Hưng.
Toàn huyện có 01/12 trường THCS đạt chuẩn quốc gia.
nhiều vấn đề mới đã xuất hiện, với những diễn biến phức tạp, khó kiểm
soát như trẻ em bị lạm dụng và xâm hại (01 trường hợp), trẻ em làm trái
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 14
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
pháp luật, trẻ em nghiện hút, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị lây
nhiễm HIV (01 trường hợp).
−Mặt trái của những biến đổi về kinh tế, văn hoá và xã hội đã góp
phần tạo ra những nguy cơ làm cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn
với những diễn biến phức tạp của tình trạng bị sao nhãng, xâm hại, bạo
lực và bóc lột sức lao động. Trong số 73 trẻ em khuyết tật trong huyện,
mới chỉ có 40 em được chăm sóc và hỗ trợ; trong số 90 em mồ côi, mới
chỉ có 18 em được nuôi dưỡng dưới hình thức có người đỡ đầu;
−Ngày càng có nhiều trẻ em trở thành nạn nhân của các vụ ly hôn,
không được bố mẹ và gia đình bảo vệ, bị ngược đãi, lang thang, không
có điều kiện tiếp tục học tập, phát triển, không được chăm sóc sức khoẻ.
Tình trạng đánh mắng, xúc phạm, coi thường trẻ em, trẻ em bị bố mẹ
đối xử hà khắc, bị bỏ rơi, bị trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình vẫn
còn diễn ra ở nhiều xã trong huyện. Ý kiến và nguyện vọng của các em
nhiều khi chưa được lắng nghe, chưa được tôn trọng và đáp ứng.
−Nhiều trẻ em phải lưu ban, bỏ học, thất học mà phần lớn thuộc
nhóm trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em trong các
gia đình nghèo, trẻ em ở vùng sâu vùng xa đang cần sự quan tâm bảo
vệ và hỗ trợ của cộng đồng xã hội.
−Là một địa bàn có nhiều hệ thống kênh rạch nên trong những năm
qua tỷ lệ trẻ em tử vong do chết đuối vẫn còn diễn ra đặc biệt là trong
mùa lũ.
−Trẻ em làm trái pháp luật và số vụ xâm hại trẻ em tuy có giảm
nhưng tính chất phức tạp và hậu quả nghiêm trọng lại có chiều hướng
tăng lên. Tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, tình trạng suy thoái về đạo
đức lối sống còn diễn ra phổ biến.
bảo công việc lâu dài, trong khi công việc qúa tải. Bên cạnh đó là sự
thay đổi cơ cấu nhân sự, chuyển đổi tổ chức dẫn đến sự thay đổi cán bộ
khi chia tách huyện, mất người có kinh nghiệm Nhiều ban ngành tham
gia vào “công tác trẻ em” nói chung, trong khi cơ chế phối hợp, phân
công, phân nhiệm chưa rõ ràng nhất là vụ việc cụ thể liên quan đến bảo
vệ, chăm sóc trẻ em trong việc phát hiện, ngăn ngừa, can thiệp và phục
hồi cho trẻ em dựa vào gia đình, cộng đồng và xã hội. Lĩnh vực bảo vệ,
chăm sóc trẻ em chưa được quan tâm đúng mức; việc phân định cơ
quan đầu mối rõ ràng để tiếp nhận thông tin, phòng ngừa, xử lý, can
thiệp, trợ giúp , việc can thiệp, phục hồi và tái hoà nhập cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt cũng còn hạn chế và chưa rõ trách nhiệm và các
dịch vụ tại cộng đồng. Việc thiếu các hệ thống dịch vụ can thiệp, hỗ trợ
ở cộng đồng; thiếu đồng bộ trong bảo vệ trẻ em ở các khâu: Phòng
ngừa, can thiệp phục hồi và tái hòa nhập; thiếu mạng lưới cộng tác viên,
cán sự xã hội có trình độ chuyên môn, được đào tạo…đã làm cho vấn
đề bảo vệ trẻ em ngày càng gặp nhiều thách thức, trở ngại.
* Công tác giáo dục trẻ em:
−Tỷ lệ huy động trẻ em ra lớp ở các cấp học và chất lượng học tập
của trẻ em ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Điểm vui chơi giải trí cho
trẻ em còn thiếu, hoạt động còn theo kỳ cuộc và chủ yếu vào dịp Tháng
hành động vì trẻ em, sách báo của trẻ em chưa đến được khắp các xã
vùng sâu, vùng xa. Sự tham gia của trẻ em chưa được thực hiện ở vùng
khó khăn như Đông Bình, Trường Thành, Trường Thắng…
−Học sinh bỏ học có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân chủ yếu là
một số học sinh học lực yếu kém do mất căn bản, không theo kịp
chương trình nên chán học, một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn về
kinh tế phải theo gia đình rời khỏi địa phương để làm ăn sinh sống, một
bộ phận phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học hành và tương lai con
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 16
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
cảnh đặc biệt còn giao phó cho các ngành, đoàn thể và thiếu kiểm tra,
đánh giá nên hiệu quả chưa tốt (như giải quyết vấn đề trẻ em bị tàn tật,
trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em bị
nhiễm HIV/AIDS).
−Nhận thức và năng lực của cán bộ và người dân về vấn đề bảo vệ,
chăm sóc trẻ em còn nhiều hạn chế; hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em
chưa được xây dựng, triển khai mang tính chuyên nghiệp, kiện toàn hệ
thống; công tác giám sát và thanh tra về bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn
nhiều bất cập.
−Những ảnh hưởng văn hoá du nhập thiếu lành mạnh, công nghệ
thông tin bùng nổ đã lôi kéo không ít em, nhất là trẻ vị thành niên (lứa
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 17
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
tuổi có sự thay đổi lớn về tâm sinh lý và đang rất cần sự định hướng
giáo dục của xã hội và gia đình) đi vào cuộc sống sa đoạ: xem băng
hình, sách báo, nghe những bài hát, âm nhạc có nội dung xấu, bạo lực,
kích dục mại dâm…Trên toàn huyện đã xuất hiện nhiều dịch vụ Internet
công cộng là nơi các em tụ tập trốn học để chơi games. Có thể nói đây
cũng chính là mầm móng của các loại tội phạm.
−Sự phát triển các lĩnh vực xã hội chưa theo kịp với sự phát triển
kinh tế nên hệ thống cung cấp dịch vụ phúc lợi xã hội cho trẻ em còn
thiếu và chưa có sự phối hợp hoạt động với nhau, các cơ sở xã hội
dành cho trẻ em ở nhiều nơi đã xuống cấp, điểm vui chơi ở không ít địa
bàn bị bỏ hoang hoặc đã biến thành hoạt động thương mại, thiếu
trường, lớp mầm non và không ít cơ sở mầm non tư nhân không đủ điều
kiện vẫn hoạt động làm ảnh hưởng đến sự phát triển trẻ em, đường giao
thông ở nhiều địa bàn chưa được nâng cấp và còn nhiều hộ gia đình có
trẻ em ở địa bàn khó khăn chưa có công trình vệ sinh, thiếu nước sạch,
…
−Các yếu tố kinh tế như nghèo đói, chênh lệch về thu nhập và sự
III- PHƯƠNG HƯỚNG - GIẢI PHÁP:
1- Phương hướng chung:
−Phải huy động được toàn thể xã hội, huy động được các doanh
nghiệp, các lực lượng trong xã hội cùng góp nguồn lực cũng như là các
nguồn chi phí khác: nhân lực, vật lực, tài lực để làm sao có thể cải thiện
được tình trạng chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em ở mọi nơi trong huyện.
Trong đó, sự phối hợp kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể là rất cần
thiết.
−Phát huy tối đa nội lực, huy động sức mạnh tổng hợp của mỗi gia
đình, cộng đồng và toàn xã hội tham gia bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em theo tinh thần Chỉ thị 38/CTTƯ ngày 30-5-1994 của Ban Bí thư.
Thực hiện “tháng hành động vì trẻ em và những ngày lễ dành cho trẻ
em”. Cộng đồng và các cấp từ Huyện đến Xã cần tổng kết đánh giá kết
quả thực hiện Tháng hành động vì trẻ em, rà soát kết quả thực hiện mục
tiêu chương trình hành động vì trẻ em 2001 - 2010, từ đó đề ra biện
pháp khắc phục các mục tiêu khó đạt. Tăng cường tuyên truyền Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến trẻ em, đặc biệt là Quyết định 19-2004/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải
quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em
phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm giai đoạn
2004 - 2010; triển khai rộng khắp đến các cấp, các ngành, các tổ chức
chính trị xã hội, đến từng gia đình và mọi cá nhân trong cộng đồng như:
Tổ chức tư vấn, tọa đàm, tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại
chúng, phòng ngừa, phát hiện và xử lý các trường hợp trẻ em có nguy
cơ rơi vào tình trạng đặc biệt, phòng ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em,
nhất là tai nạn giao thông và đuối nước, tạo một môi trường an toàn lành
mạnh cho mọi trẻ em. Triển khai Chỉ thị 55/CTTƯ của Bộ Chính trị (khóa
VIII) về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cơ sở đối với công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đến cơ sở. Phối hợp và tham
Thạnh. Sau này có thể nhân rộng và sử dụng những mô hình này làm cơ
sở để xây dựng chính sách và mở rộng mô hình cho toàn huyện.
2.3- Nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội đối với công tác trẻ
em:
−Nâng cao nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em, thay đổi ý thức, thái độ
đối với trẻ em dễ bị tổn thương và tạo ra sự thay đổi hành vi trong đội
ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; giới báo
chí; các cộng đồng; và các gia đình. Nâng cao vị thế của trẻ em bằng
cách khuyến khích chính các em tham gia vào các hoạt động bảo vệ trẻ
em.
−Huy động và tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
và khu vực tư nhân trong sự nghiệp bảo vệ trẻ em.
2.4- Tiếp tục thực hiện các chương chương trình hành động của
Huyện đến năm 2010:
−Phát triển và mở rộng các xã đạt tiêu chuẩn xã phường phù hợp
với trẻ em nhằm cụ thể hóa các quyền trẻ em.
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 20
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
−Thực hiện việc cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6
tuổi.
−Xây dựng xã trọng điểm về trẻ em ở các xã có tỷ lệ trẻ phạm pháp
nhiều như thị trấn Cờ Đỏ.
−Phối hợp với Nhà máy sữa Vinamil Cần Thơ thực hiện chương
trình vi chất dinh dưỡng cho trẻ em ở các trường tiểu học.
3- Các giải pháp:
3.1- Các giải pháp chung:
Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đang đứng trước những
vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải giải quyết. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay
đối với cấp uỷ Đảng và Ủy Ban Nhân Dân Huyện, các đoàn thể, nhà trường
và gia đình theo chức trách và khả năng của mình là phải có kế hoạch, biện
cùng trang thiết bị và đồ dùng dạy học; các cơ sở vui chơi giải trí, nuôi
dưỡng và chăm sóc trẻ em; đặc biệt là đối với khu vực nông thôn.
- Kinh phí cho việc thực hiện các dự án: chống suy dinh; xóa đói giảm
nghèo; phổ cập giáo dục và xóa nạn mù chữ ở trẻ em; khắc phục tình trạng
trẻ em lang thang cơ nhỡ.
- Kinh phí cho việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ thầy cô giáo nuôi dạy
trẻ.
- Kinh phí cho việc tiêm chủng, phòng chống các bệnh dịch bại liệt,
uốn ván…
Hiện nay kinh phí Ủy Ban Nhân Dân đầu tư cho các nhu cầu trên đây
hàng năm còn quá ít ỏi, chỉ nói riêng về kinh phí xây dựng trường, lớp cũng
chỉ mới đáp ứng được khoảng trên dưới 50% mức yêu cầu.
Do trình độ phát triển kinh tế của nước ta hiện nay còn thấp kém, thu
nhập của các gia đình nói chung chỉ đủ bù đắp cho các chi phí sinh hoạt tối
thiểu hàng ngày, thậm chí còn một số không ít gia đình nhất là nông dân
vẫn thiếu ăn, thiếu mặc. Trẻ em ở các gia đình này không những không
được hưởng quyền bảo vệ và chăm sóc mà còn phải bỏ học để đi lao động
kiếm sống. Nếu như không quan tâm đầu tư kinh phí cho các nhu cầu cần
thiết nói trên thì công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở Huyện
nhà sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Điều đó làm cho các chủ trương,
nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em không có ý nghĩa thực tế.
Ba là, các tổ chức xã hội, gia đình và cá nhân phải thực hiện nghiêm
túc các điều luật, chính sách và pháp lệnh của Nhà nước về công tác bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Các tổ chức xã hội: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ
nữ, Tổ chức công đoàn động viên giúp đỡ các hộ gia đình làm tròn nhiệm
vụ đối với con cái và dành một phần thích đáng quỹ phúc lợi vào việc bảo
vệ, chăm lo, giáo dục trẻ em. Đồng thời kịp thời kháng nghị đối với những
hành vi xâm phạm các quyền lợi đó.
đuối cao như Đông Bình, Đông Hiệp, Trường Xuân…
−Các tổ chức xã hội ở các xã, phường như Đoàn Thanh niên, hội phụ
nữ… cần làm tốt công tác tuyên truyền, bám sát địa bàn để nắm bắt
những khó khăn của những gia đình có trẻ em để kịp thời giúp đỡ. Đoàn
thanh niên cần tổ chức nhiều hoạt động vui chơi lành mạnh để hạn chế
những hành vi vi phạm của trẻ.
−Sự quan tâm sâu sát hơn nữa của gia đình sẽ hạn chế tối thiểu
những tai nạn cho trẻ. Xây dựng gia đình văn hoá ở tất cả các xóm ấp,
tiếp tục thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo để hạn chế tình trạng
trẻ em, trẻ em nghèo lang thang, trẻ em phạm pháp…
3.2.2- Công tác chăm sóc trẻ em:
−Cần xây dựng một Trung tâm bảo trợ trẻ em ở huyện để thu hút
những tấm lòng hảo tâm vào việc chăm sóc, dạy nghề cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em khuyết tật.
−Các xã nên rà soát chặt chẽ những trường hợp trẻ em bỏ học, lưu
ban, lao động nặng nhọc, gia đình nghèo để có kế hoạch giúp đỡ kịp
thời.
−Trung tâm y tế huyện cần làm tốt công tác rà soát, tuyên truyền về
chiến dịch tiêm chủng mở rộng, chiến dịch phòng chống suy dinh dưỡng
cho trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là ở vùng sâu, nơi điều kiện đi lại còn
gặp nhiều khó khăn.
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 23
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
−Mở rộng diện tích trung tâm và đổi mới quy trình khám chữa bệnh
cho trẻ.
−Tăng cường công tác khám chữa bệnh ban đầu cho các đối tượng là
bà mẹ trẻ em. Cần có chính sách thu hút các y, bác sĩ về công tác ở các
trạm y tế xã để tăng cường công tác khám chữa bệnh cho nhân dân đặc
biệt là nhằm giảm thiểu số ca sinh nở bị tử vong.
−Về đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc trẻ em: từng bước chuyên
Người thực hiện: Nguyễn Hữu Định Trang 24
Vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở huyện Thới Lai. Thực trạng và giải pháp
−Gia đình là nơi các em sinh ra và lớn lên, môi trường gia đình là điều
kiện tốt cho các em phát triển lành mạnh đúng hướng. Gia đình luôn có
truyền thống, trách nhiệm cao và yêu thương gắn, bó với nhau. Trong
gia đình thế hệ trước đã tiếp thu kinh ngiệm sống và những chuẩn mực
đạo đức truyền lại cho thế hệ sau.
−Giáo dục gia đình tuổi thơ ấu đã để lại những dấu ấn đậm nét cho
việc hình thành và phát triển suốt cuộc đời. Bầu không khí ấm áp, chan
hoà cởi mở yêu thương, chia sẻ vui buồn, giúp nhau lấy lại thăng bằng
sau những bế tắc, đổ vỡ, vấp ngã…là điều cần thiết. Nó sẽ tạo nên tình
cảm lành mạnh giúp người ta đứng vững mà không sa ngã vào các tệ
nạn xã hội.
−Gia đình phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhà trường để cùng nhà
trường quản lý, giáo dục con cái.
−Gia đình phải xây dựng được mối quan hệ tình cảm gắn bó, yêu
thương nhau, tạo điều kiện cho con cái mình tiếp xúc với những người
thân trong dòng họ để xây dựng tình cảm rộng lớn và tiếp xúc với các
giá trị văn hoá truyền thống. Cha mẹ không nên có thái độ hà khắc đối
với con cái để đến mức con các không cởi mở tâm sự, chia sẻ với cha
mẹ dẫn tới cha mẹ không hiểu được con cái mình. Ngược lại cha mẹ
cũng không được qua nuông chiều con cái, vì đây cũng là điều kiện dễ
dẫn tới làm các em hư.
* Các biện pháp giáo dục từ phía xã hội:
−Học sinh ngoài thời gian quản lý của nhà trường và gia đình, các em
còn tham gia các hoạt động ở cộng đồng, xã hội. Các biện pháp giáo
dục của xã hội đó là việc tuyên truền, phổ biến pháp luật.
−Việc tổ chức những sân chơi lành mạnh cho các em là nhiệm vụ của
xã hội. Xã hội nên đầu tư xây dựng nhiều hơn nữa các trung tâm vui
chơi, giải trí mang tính giáo dục cao thu hút sự tham gia của đông đảo