LÒÌ CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành Luận án Bác sỹ chuyên
khoa cấp 2 “ Thực trạng quan lý chất thải rắn y tể và kiến thức, thực hành của cán bộ trạm y tế xã,
phường trên địa bàn thành phố Vinh, tình Nghệ An năm 2014”. Có được kết quả này, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới: Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các Thầy Cô
giáo của Trường Đại học Y Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương
trình đào tạo và luận án tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Y tế Nghệ An, Trung tâm Y tế thành phố Vinh và 25
trạm Y tế xâ, phường trên địa bàn đã tạo điều kiện và cho phép tôi thu thập số liệu điều tra, phỏng
vấn trong quá trình thực hiện đề tài luận án tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sỹ Lương Xuân Hiến - Hiệu trưởng
Trường Đại học Y Thái Bình; Tiến sỹ, Bác sỹ chuyên khoa cấp 11 Cao Trường Sinh - Phó Hiệu
trường Trường Đại học Y khoa Vinh và các Thầy, Cô giáo đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn
thành Luận án này. Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các cơ quan đơn vị,
cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Bình - tháng 12 năm 2014 HỌC VIÊN
Nguyễn Xuân Hồng
AIDS
: Acquiced Immuned Dificiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
BV
Bệnh viện
BVĐK
Quản lý chất thải y tế
SD
Sử dụng
YTDP
Y tế dự phòng
TCMR
Tiêm chủng mở rộng
TTYT
Trung tâm y tế
TYT
Trạm y tế
ƯBND
ùy ban nhân dân
WHO
World Health Organization (Tố chức Y tế
thế giới)
bệnh truyền nhiễm lan rộng và tiếp xúc với khí thải độc hại từ quá trình đốt cháy
không hoàn toàn [4], [14], Các thành phần của CTRYT có thê chứa đựng một
lượng rất lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm có thể thâm nhập vào cơ
thề qua da, niêm mạc, qua đường hô hấp, đường tiêu hóa... Đặc biệt CTYT sắc
nhọn được coi là một loại rác rất nguy hiểm vì nó gây những tốn thương kép: vừa
gây tổn thương, vừa có khả năng lây truyền các mầm bệnh truyền nhiễm
[4] như
viêm gan B, viêm gan c, nhiễm HIV,...[10].
Từ yêu cầu thực tiễn đặt ra, Bộ Y tế đà ban hành Quyết định số 43/2007/
QĐ-BYT về Quy chế Quản lý chất thải y tế [4] áp dụng cho tất cả các cơ sở y tế và
các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hũy chất thài y tể.
Theo kết quà đánh giả của WHO năm 2013, được tiến hành tại 22 nước
đang phát triển cho thấy, tỷ lệ các cơ sờ y tế không sử dụng các phương pháp thích
hợp xử lý chất thải khoảng từ 18% đến 64%.
Ớ Việt Nam năm 2012, theo báo cáo kết quả bước đầu thì chỉ có 31,5% bệnh viện có hệ thống
xử lý nước thải y tế, 7,5% bệnh viện không thu gom rác, chi 14% có phân loại riêng rác thải y
tế và sinh hoạt tnrớc khi thu gom. 10% bệnh viện không xử lý rác, 92,3% chưa có xử lý sơ bộ
tại buồng bệnh [5],
?
Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân tại tuyến cơ sở thì chất thải từ
các trạm y tế cũng mang đầy đủ tính chất nguy hại như từ các bệnh viện. Nhưng
việc quản lý CTYT tại các trạm y tế thi chưa được quan tâm đúng mức, nó lại rất
gần gũi với các khu dân cư và rải đều ở các địa phương. Tuy nhiên, chưa có nghiên
cứu nào trên quy mô toàn quốc cũng như tại tỉnh Nghệ An.
Đê trả lời câu hòi: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ớ các trạm V tế trên địa bàn thành phố
Hiện nay, có nhiều cách phân loại chất thái tế theo các quan điếm khác nhau
V
của các nhà quản lý y tế. Tuy nhiên tất cả các cách phân loại đều chù yếu dựa vào
tính chất vật lý, hóa học của chất thải và khả năng gây ảnh hưởng của chủng tới môi
trường và sức khỏe con người. Theo WHO, chất thái y tế được phân thành 8 loại như
sau [58]:
- Chất thải nhiễm trùng. Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, virut, ký
sinh trùng với số lượng đủ đế gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao
gồm: Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm, rác từ phòng mố, nhất là phòng
mô tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng, rác từ phòng cách ly bệnh nhân bị
1
0
nhiềm trùng, súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm, dụng cụ hoặc
vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm,...
- Chất thải sắc nhọn: Là các chất thái có thề làm rách hoặc tốn thương da bao
gồm: Bơm kim tiêm, dao mố, bộ tiêm truyền, lưỡi cưa ống tiêm...
- Thuôc thải loại: Bao gôm thuôc quá hạn, thuôc không dùng hoặc các loại
vaccine, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng...
- Chất thải có tính độc vói tế bào: Là các chất thải có thế làm biến đối gen, gây
dị dạng, quái thai như các chất chống ung thư.
- Hóa chất: Có thể dưới dạng rắn, lỏng, khí, bao gồm: Hóa chất độc, hóa chất có
tính ăn mòn (pH<2 hoặc pH>l 2), hóa chất dễ gây nổ.
- Rác chứa kim loại nặngf độc. Là chất thải chứa kim loại như chì, thủy ngân,
asen.
- Các bình chứa khí nén: Là các binh chứa các chất được dùng trong y tế dưới
dạng khí nén như khí oxy, khí gây mê, bình khí dung.
thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (từ pin ắc quy), chì (từ tấm bọc chì, vật liệu tráng
chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
- Chất thủi phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng, khí phát sinh từ các
hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
- Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CƠ2 , bình ga, bình khí dung. Các
bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt.
- Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa
học nguy hại, phóng xạ, dỗ cháy nồ bao gồm:
+ Chất thài sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh.
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai, lọ thủy tinh,
chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất
thái này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng
gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
+ Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cánh.
/. 1.3. Thành phân và khôi lượng chãi thải y tê
1
2
1.1.3. Ị. Thành phần chất thaiy tế
Thành phần các chất thải y tế phát sinh từ các hoạt động chuyên môn của các
cơ sở y tế rất đa dạng song chưa được điều tra và thống kê đầy đủ, tỷ lệ các thành
phần phụ thuộc vào mô hình hoạt động, chức năng chuyên môn cùng như quy mô
hoạt động của các cơ sớ y tế. Sơ bộ có thể liệt kê các chất thái phát sinh từ các hoạt
động y tế như sau [28J.
- Chất thải khoa điều trị: Bộ phận thay bông băng gồm gạc, bôn£ băng dính
máu mủ, mủ hoại tử, tổ chức hoại tử đã cắt lọc. Bộ phận tiêm gồm kim tiêm, bơm
ticm, ống thuốc, thuốc thừa. Ngoài ra còn có các loại dịch tiết, bệnh phẩm, túi đựng.
rắn y tế ở các bệnh viện là 1,8 - 2,2 kg/1 giường bệnh/ ngày đêm [22]. Khối lượng
chất thải y tế phát sinh tại các cơ sở y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa
và phụ thuộc các yếu tố khác như: Thay đồi theo cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô
bệnh viện, lượng bệnh nhân đến khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân nội và ngoại trú,
phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc,
số lượng người nhà đến thăm bệnh nhân...[18]. Lượng chất thải y tế cũng có mối liên
quan chặt chẽ với dân số trong huyện và số gưỡng bệnh/ bệnh nhân tương ứng trong
những huyện này [29].
Trên thế giới, khối lượng chất thải y tế phát sinh cũng có sự khác nhau ở các
nước có trinh dộ phát triển khác nhau. Tính theo mức thu nhập bình quân, các nước
có mức thu nhập bình quân cao hơn thì lượng chất thải y tế thường phát sinh nhiều
hơn, cụ thể như sau: Lượng chất thải y tế ớ nhóm nước có thu nhập cao hàng ngày từ
1,2 - 1,1 kg/ người; ớ nước có thu nhập trung bình từ 0,8 - 0,6 kg/ đầu người; nước
thu nhập thấp từ 0,5 - 0,3 kg/ đầu người.
Ớ Việt Nam, khối lượng chất thải y tế chủ yếu là của các bệnh viện lâm sàng
và các bệnh viện có quy mô càng nhiều giường bệnh thi khối lượng chất thải phát
sinh tính theo giường bệnh/ ngày càng nhiều. Bộ Y te phối hợp với Tổ chức Y tế thế
giới tại Việt Nam tiến hành khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải cúa 80
bệnh viện trong cả nước, kết quá cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tại các tuyến
bệnh viện như sau [18]: Bệnh viện tuyến trung ương hằng ngày phát sinh khoảng
0,97 kg/ giường bệnh/ ngày (trong đó CTRYT nguy hại 0,16 kg); bệnh viện tuyến
1
4
tinh khoáng 0,88 kg/ giường bệnh/ ngày (trong đó CTRYT nguy hại 0,14 kg); bệnh
viện huyện khoảng 0,73 kg/ gưỡng bệnh/ ngày (trong đó CTRYT nguy hại 0,11 kg).
Kết quá nghiên cứu tại các bệnh viện khu vực phía Bắc (2010) [2] cho thấy,
lượng chất thãi rắn y tế lây nhiễm phát sinh hàng ngày trung bình cho cả 3 tuyến
cơ sở y tế vào khoảng 350 tấn/ ngày, trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn y tế nguy
hại. Năm 2010, số lượng chất thải y tế tại tất cả các cơ sở V tế trên cả nước là hơn
380 tấn/ngày (trong đó có khoáng 45 tấn/ ngày là chất thải rắn y tế nguy hại), đến
năm 2015 là 600 tấn/ ngày và ước lượng đến năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ ngày
[24], Chất thải tại các TYT chiếm một lượng không nhô, nhưng đang ít có công trình
nghiên cứu.
1.1.4. Tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe
Việc con người tiếp xúc với các chất thải y tế có thề gây nên nhiều bệnh tật
hoặc tồn thương. Bản chất mối nguy cơ cùa chất thài y tế có thể được tạo ra do một
hoặc nhiều đặc trưng cơ bán như: Chất thải y tế chứa đựng các yếu tổ truyền nhiễm,
các chất độc hại có trong rác thải y tế, các loại hoá chất và dược phẩm nguy hiếm,
các chất thải phóng xạ và đặc biệt nguy hiểm là các vật sắc nhọn.
Chất thải y tế được loại bỏ ra khỏi các cơ sở y tế theo nhiều cách khác nhau,
các chất thải rắn thường được đem chôn lấp, thiêu đốt hoặc đố ra các bãi rác chung
của khu dân cư. Các chất thải này nếu không được quản lý, xử lý tốt sẽ tác động trực
tiếp và gây anh hương đến cộng đồng, nhất là những người dân sinh sống tại gần khu
vực thải ra của các chất thải y tế. Bên cạnh những tác động vê bộnh tật, chât thải y tc
còn gây nhừng tác động khác tới người dân như: Gây mùi hôi thối khỏ chịu, nhiều
ruồi muồi, côn trùng, mất mỳ quan đô thị, gây tâm lý nặng nề [12]... Tất cả các cá
nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao
gồm những người làm việc trong các cơ sớ y tế, những người ờ ngoài các cơ sở y tế
làm nhiệm vụ vận chuyến các chất thải y tế và nhừng người trong cộng đồng bị phơi
nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải. Nhừng
nhóm chính có nguy cơ cao như:
- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.
- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
1
6
7
[60] ỡ hệ dự phòng.
Môt số nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loai chất thãi y tố Ị15Ị
Loai nhiễm khuẩn •
Vi sinh vật gây bệnh
Salmonella. Shigella spp;
Nhiễm khuẩn tiêu hoá Vibrio choìerae; Giun, sán
Vi khuẩn lao, virus sởi, bạch
Nhiễm khuẩn hô hấp hầu, ho gà...
Nhiễm khuẩn mắt
Virus herpes
Phương tiện lây truyền
Phân hoặc chất nôn
Các loại dịch tiết, đờm
Dịch tiết của mắt
Nhiễm khuấn da
Streptococcus spp
Mủ
Viêm màng não mủ
do não mô cầu
Não mô cầu (Neisseria
Máu
Viêm gan A
Virus viêm gan A
Phân
Viêm gan B, c
Virus viêm gan B, c
Dịch não tuỷ
Máu, chất tiết sinh dục
Máu, dịch thế
1.1.4.2. Nguy cơ của các ch dí thải y tê săc nhọn
Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiềm các vi
sinh vật gây bệnh (đặc biệt là nhũng mũi kim tiêm qua sử dụng) trong rác thải y tế
thực sự là những mối nguy cơ tiềm ấn đối với sức khoé con người. Chất thải y tế sắc
nhọn được coi là một loại rác rất nguy hiếm vì nó gây những tốn thương kép, vừa
gây tốn thương, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm qua các vết
thương mà chúng gây nên. Các nghiên cứu dịch tề học cho thấy rằng một người bị
chấn thương từ một kim tiêm đă được sử dụng trên một bệnh nhân có nguy cơ 30%
1
8
ngộ độc. Sự nhiễm độc này có thế là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc
dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hóa. Việc
1
9
tiếp xúc với các chất dễ cháy, dề ăn mòn, các chất gây phản ứng cỏ thể gây ncn
những tôn thương tới da, mắt hoặc nicm mạc đường hô hấp. Các tổn thương hay gặp
và phổ biến nhất là các vết bỏng.
Các chất khử trùng, tiệt trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của
nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượns lớn và thường là nhừng chất ăn
mòn, những loại hóa chất gây phàn ứng có thế hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có
độc tính cao[ 15].
Hiện nay chưa có thống kê về mức độ phổ biến của bộnh tật gây ra do các
chất thải hóa học hoặc dược phấm từ các cơ sở y tế đối với cộng đồng, trong đó có cả
rác thải từ các TYT, nhưng đã có nhiều trường hợp tốn thương hoặc ngộ độc liên
quan đến việc xứ lý các hóa chất và dược phẩm không đảm bảo trong các cơ sở y
tế[26],
1.1.4.4. Nguy cơ của chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải phóng
xạ và phạm vi tiếp xúc. Biếu hiện có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt và nôn nhicu
bât thường. Bởi vì chât thải phóng xạ, cũne như loại chât thải dược phẩm, là một loại
độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền. Tiếp xúc vói các
nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ cùa các phương tiện
chấn đoán (máy X.quang, máy chụp CTscaner...), có thể gây ra một loạt các tốn
thương chăng hạn như phá hủy các mô, từ đó đòi hởi phái dẫn đến việc xứ lý loại bở,
cắt cụt các phần cơ thế hoặc biến dạng tinh trùng gây vô sinh ở nam giới. Đặc biệt có
thể gây quái thai, sảy thai hoặc các dị tật bẩm sinh đổi với thai nhi khi người mẹ bị
ảnh hường bởi chất phóng xạ khi mang thai.
rắn y tế ở Việt Nam hầu như không có bộ phận kiểm soát khí thái, thêm vào đó do
thiết kế, khả năng vận hành, bảo dưỡng kém, có nhiều lò đốt quy mô nhỏ... đã làm
phát sinh các khí độc trong khói với nồng độ cao hon nhiều tiêu chuẩn cho phép, đặc
biệt là các chất dioxin và furan.
1.1.6. Xử lý chất thải rắn y tế
* Nguyên tắc tiêu hủy rác thải y tế
- Yêu cầu xử ỉý chất thải rắn tế: Chất thải rắn y tế phải được xử lý theo quy định,
V
mồi loại chất thải có những yêu cầu xử lv riêng nhưng toàn bộ chất thải rẳn y tế
nguy hại đều phái được quản lý và xử lý triệt để. Chất thải y tổ thông thường xử
lý như rác sinh hoạt.
2
1
- Yêu cầu chung xử lý chất thài rắn y tế nguy hại: Là làm cho chúng trở thành vô
hại với sức khỏe con người và môi trường; giảm thiều về sổ lượng; đáp ứng yêu
cầu kinh tế và hiệu quả trong chuông trình kinh tế - xã hội.
- Nguyên tắc thực hiện xử lý chất thải ran y tế nguy hại: Không gây ô nhiễm thử
cấp, nằm trong quy định chung về quán lý và xử lý chất thải, đảm bảo đúng quy
định luật bảo vệ môi trường.
* Cong nghệ xử lý và tiêu huy
- Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu đế đốt rác, có thế xử
lý được nhiều loại rác đặc biệt là chất thải lâm sàng. Phương pháp này làm giảm
thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm
bệnh trong chất thải nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá cao và chi phí
vận hành, bảo dường tương đối tốn kém.
- Công nghệ khử khuân hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng (HC1,
phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%),... Các nước sử dụng phương pháp chôn
lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc quản lý chất thải rắn là Phần Lan 84%, Thái
Lan (Băng Cốc) 84%, Anh 83%, Liên bang Nga 80%, Tây Ban Nha 80%[54].
Theo WHO[59], để đạt được những mục tiêu trong quản lv chất thải nguy hại,
các cơ sở y tế cần phải có những hoạt động cần thiết cơ bản như:
- Dánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần).
- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải.
- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm.
- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc,
đặc điểm các túi, thùng thu gom, nhãn quy định...).
- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và cỏ các
phương tiện bảo hộ đám bào an loàn khi làm việc.
- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động.
- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp[59].
Một đánh giá năm 1999 cùa WHO cho thấy, có 18 - 64% các cơ sở y tế chưa
có biện pháp xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý
chất thải bị tốn thương do kim đâm xáy ra trong quá trinh xử lv chất thải y tế. Tổn
thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với các chất thải dính máu là phố
2
3
biến nhất, chủ yếu là do dùng tay tháo lắp kim và thu gom tiêu húy vật sắc nhọn. Có
khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển chất thải đi qua khu vực
bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy[58].
Phần lớn các nước đang phát triển không quản lý tốt CTYT, chưa có khả năng
phân loại CTYT mà xử lý cúng với tất cả các loại chất thải. Từ những năm 90, nhiều
quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xứ
lý CTYT, Malaysia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ
nguy cơ tiềin ấn trong chất thải bệnh viện còn rất hạn chế do công tác giáo dục, tuyên
truyền chưa được chú trọng đúng mức. Hiện tượng dân vào bới rác tại các hố rác của
bệnh viện đê thu nhặt ống nhựa, kim tiêm, găng tay phẫu thuật... để tái chế sử dụng
lại diễn ra ở một số nơi là do thiếu quản lý chặt chẽ và chưa có quy trình xứ lý rác
triệt đẻ.
Chất thải thuộc các bệnh viện thuộc các thành phố thường được ký hợp đồng
thu gom với các công ty môi trường đô thị hoặc được xử lý bầng các biện pháp đốt
bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hoặc ngâm
Cloramine B, Formaldehyde rồi tập trung chôn lấp tại các bài đất trống hoặc trong
các khuôn viên bệnh viện. Rất nhiều phế thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra
bãi rác sinh hoạt của thành phố mà không qua bất kỳ một khâu xử lý cần thiết nào.
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chất thải y tế
tại các cơ sở khám chừa bệnh của ngành, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đâ ban
hành quy chế quán lý chất thải y tế kèm theo Quyết định số 43/2007/ỌĐ-BYT[4] áp
dụng cho tất cả các cơ sớ y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia vận chuyến, xử lý,
tiêu húy chất thái y tế và Bộ Y tế trong thời gian qua đã tiến hành nhiều đợt tập huân,
kiểm tra, đôn đốc thực hiện quy chế này. Ngoài ra nhiều chương trình nghiên cứu thí
điếm các lò đốt, chương trình xây dựng, quy hoạch tổng thể hệ thống các lò đốt trên
toàn quốc đang được triển khai.
1.3.2. Thực trạng công tác quản lỷ chất thái rắn tại các cơ sởy tế
Theo số liệu thống kê đánh giá năm 2009 về tinh hình quản lý, xử lv chất thải
rắn y tế tại các bệnh viện, viện có giường bệnh trên cả nước thì: Tỷ lệ bệnh viện có
thực hiện phân loại chất thải rán y tế là 95,6% và có thực hiện thu gom chất thải rắn y
tế hàng ngày là 90,9%. Phương tiện thu gom chất thải v tế như túi, thùng đựng chất
2
5
thải, xe đây rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết đều chưa đạt tiêu