ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TỚI MÔI TRƯỜNG
TỰ NHIÊN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
Mã số: 60 44 02 17
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng
Thái Nguyên, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn có
nguồn gốc rõ ràng. Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công
trình nghiên cứu nào khác.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Hà Thị Thu Hiền
i
LỜI CẢM ƠN
Danh mục hình ......................................................................................................iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 1
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................... 1
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 2
5. Lịch sử nghiên cứu .............................................................................................. 2
6. Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ......................................... 5
7. Cấu trúc của luận văn......................................................................................... 8
8. Đóng góp chính của luận văn ............................................................................ 8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................................. 9
1.1. Cơ sở lý luận ................................................................................................... 9
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến khoáng sản .................................................... 9
1.1.2. Các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường .................................. 12
1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 13
1.2.1. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam ............................................ 13
1.2.2. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Thái Nguyên ...................................... 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 21
Chương 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TỈNH THÁI
NGUYÊN............................................................................................................. 22
iii
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác khoáng sản tỉnh Thái Nguyên .......... 22
2.1.1. Điều kiện tự nhiên...................................................................................... 22
2.1.2. Nhân tố kinh tế- xã hội .............................................................................. 35
2.2. Hiện trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ................. 41
2.2.1. Thực trạng khai thác, chế biến nhóm khoáng sản nhiên liệu .................... 41
2.2.2. Thực trạng khai thác, chế biến nhóm khoáng sản kim loại ....................... 43
2.2.3. Thực trạng khai thác, chế biến nhóm khoáng chất công nghiệp ............... 44
CNH HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSH
Đồng Bằng Sông Hồng
KTKS
Khai thác khoáng sản
KTXH
Kinh tế xã hội
QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của
03:2008/BTNMT kim loại nặng trong đất.
QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
08:2008/BTNMT
QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới
Bảng 3.5. Chất lượng môi trường nước mặt khu vực mỏ than Phấn Mễ tháng
7/2012 .................................................................................................................. 60
Bảng 3.6. Chất lượng môi trường nước ngầm khu vực mỏ than Phấn Mễ năm
2012 ..................................................................................................................... 62
Bảng 3.7. Nguồn gốc và chất ô nhiễm môi trường không khí ............................ 66
Bảng 3.8. Chất lượng môi trường đất khu vực mỏ Phấn Mễ năm 2013 ............ 67
Bảng 3.9. Chất lượng môi trường đất khu vực mỏ Phấn Mễ năm 2015 ............. 68
Bảng 3.10. Chất lượng môi trường đất khu vực mỏ chì kẽm Phú Đô năm 2015. ..... 68
Bảng 3.11. Hiện trạng chất lượng môi trường đất tại mỏ sắt Trại Cau năm 2014 .... 69
v
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên .................................................. 16
Hình 2.2. Bản đồ hình thể tỉnh Thái Nguyên....................................................... 23
Hình 2.3. Bản đồ phân vùng khí hậu ................................................................... 26
Hình 3.1 - Sơ đồ các nhân tố gây ô nhiễm môi trường phát sinh trong quá trình
khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo ............................................................. 28
Hình 3.3 - Nồng độ As và Cd trong đất khu vực xung quanh mỏ chì kẽm Phú
Đô năm 2015 ........................................................................................................ 48
vi
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
Nhằm đạt được mục đích nêu trên, đề tài đã thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Thu thập số liệu, bản đồ liên quan đến khu vực, đối tượng nghiên cứu.
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hoạt động khai thác
khoáng sản
- Xác định, phân tích thế mạnh, ý nghĩa của các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội phục vụ cho khai thác tài nguyên khoáng sản Thái Nguyên.
- Thông qua việc thu thập thông tin, xử lý, tổng hợp số liệu về khái thác tài nguyên
khoáng sản của Thái Nguyên. Đưa ra những nhận định về thực trạng khai thác khoáng
sản của Thái Nguyên.
- Phân tích mối quan hệ giữa hiện trạng khai thác và những biến đổi môi trường
trên cơ sở đó xác định những tác động của việc khai thác đến sự phát triển kinh tế xã hội
và môi trường của địa phương.
- Đánh giá tác động của khai thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên tỉnh Thái
Nguyên.
- Trên cơ sở hiện trạng và những tác động ảnh hưởng của hoạt động khai thác
khoáng sản đến môi trường tự nhiên, kiến nghị, đề xuất một số giải pháp cụ thể:
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm không gian: trong phạm vi lãnh thổ của tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Sử dụng số liệu từ thời kì 2000 đến nay.
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động khai thác khoáng
sản và đánh giá tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên tỉnh
Thái Nguyên.
5. Lịch sử nghiên cứu
5.1. Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam
Sau năm 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, các nhà địa chất Việt Nam
cùng các chuyên gia Liên Xô đã có nhiều công trình nghiên cứu trên phạm vi Miền
Bắc. Các công trình này tập trung chủ yếu vào các khía cạnh là nghiên cứu cấu trúc địa
chất, thành lập bản đồ địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản.
Ở Việt Nam, hầu hết các
địa phương có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu về hoạt động khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tác động của khai
thác khoảng sản tới môi trường tự nhiên tại nhiều địa phương gần đây mới được chú trọng
như đề tài: “Nghiên cứu tác động của khai thác ti tan tới các Hệ sinh thái ven biển tỉnh Bình
Thuận và đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo tồn và phục hồi”. Nguyễn Thị
Phương Thảo, Đại học Quốc Gia Hà Nội; đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của khai thác vàng
3
sa khoáng đến môi trường nước sông Bắc Giang chảy qua địa bàn Huyện Na Rì, Tỉnh Bắc
Kạn”. Nông Thị Thêm, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; hay đề tài “Đánh giá ảnh hưởng
của hoạt động khai thác quặng Apatit đến môi trường tại mỏ Apatit Lào Cai”. Hoàng
Cúc Phương, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Nhìn chung các đề tài đã có những
nghiên cứu định lượng và định tính và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của hoạt động
khai tác khoáng sản đến môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội trong khu vực khai thác.
5.2. Lịch sử nghiên cứu tại Thái Nguyên
Khoáng sản Thái Nguyên đã được khai thác từ rất sớm. Ngay từ thời kỳ Bắc
thuộc, người Trung Quốc đã khai thác chì, kẽm, sau đó đến cuộc “khai thác thuộc địa
lần thứ nhất” của thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác than và sắt. Tuy nhiên công tác
điều tra, thăm dò địa chất được tiến hành đồng bộ khi hòa bình ở miền Bắc được lập lại
năm 1954. Công tác điều tra, tìm kiếm đánh giá khoáng sản cũng đã được tiến hành
nhằm phát hiện các điểm mỏ, điểm khoáng sản có giá trị trong tỉnh, xác định quy mô
phân bố cũng như trữ lượng khai thác và chất lượng khoáng sản phục vụ cho việc khai
thác và cung cấp thông tin cho các ngành kinh tế. Ngoài các loại khoáng sản chính như:
than, sắt, titan, thiếc, đá vôi, xi măng có trữ lượng lớn còn có vàng, chì, đá vôi cũng
đang được kiểm tra, thăm dò.
Đố i với tỉnh Thái Nguyên, các đề tài cũng như các luận án về khai thác khoáng
đánh giá tổng hợp ảnh hưởng của khai thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên tỉnh Thái
Nguyên. Vì vâ ̣y, tôi đã lựa cho ̣n đề tài này để nghiên cứu.
6. Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ hay còn gọi là quan điểm vùng, đây được coi là quan điểm
đặc thù của địa lí. Bất kỳ một đối tượng địa lí nào cũng gắn với một không gian lãnh thổ
nhất định, có sự phụ thuộc lẫn nhau trong lãnh thổ đó, nhưng đồng thời cũng có mối
quan hệ với các khu vực lãnh thổ xung quanh trên phương diện tự nhiên cũng như kinh
tế xã hội. Đề tài vận dụng quan điểm lãnh thổ để xác định phạm vi ảnh hưởng của hoạt
động khai thác khoáng sản trên địa bản tỉnh Thái Nguyên tới môi trường tự nhiên.
6.1.2. Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm cơ bản của địa lí học. Quan điểm này xem tự nhiên là một thể
thống nhất và hoàn chỉnh trong đó các thành phần và yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với
nhau. Vì thế khi xem xét hoạt động khai thác khoáng sản tỉnh Thái Nguyên đề tài đã
nghiên cứu tổng hợp các hoạt động tới tất cả các thành phần môi trường kinh tế xã hội
và tự nhiên trong địa bàn tỉnh.
6.1.3. Quan điểm hệ thống
5
Quan điểm này luôn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu địa lí. Theo quan
điểm này, mọi đối tượng nghiên cứu đều được coi là một hệ thống, mỗi hệ thống này
bao gồm nhiều phân hệ cấu tạo nên, các phân hệ đều có quan hệ mật thiết với nhau, hệ
thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn và hệ thống lớn nằm trong hệ thống lớn hơn. Chỉ cần
sự thay đổi nhỏ của một bộ phận sẽ dẫn tới sự thay đổi hoạt động chung của toàn bộ hệ
thống.
Mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ biện chứng với nhau tạo thành thể
thống nhất hoàn chỉnh gọi là một hệ thống, mỗi hệ thống lại có khả năng phân chia
kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, khảo sát thực địa còn nhằm đối chiếu số liệu thu thập
được và thực tế để rút ra những đánh giá về tác động của hoạt động khai thác khoáng
sản tới môi trường tự nhiên.
Tuy còn có những khó khăn và hạn chế nhưng đây là phương pháp cần thiết để đối
chứng, so sánh thực tế với kết quả nghiên cứu trong phòng. Vì vậy để thực hiện khóa luận,
việc khảo sát thực địa khu vực nghiên cứu được tiến hành các đợt nhằm thu thập các tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, khảo sát thực địa còn nhằm đối chiếu số
liệu thu thập được và thực tế để rút ra những đánh giá về tác động của hoạt động khai
thác khoáng sản tới môi trường tự nhiên.
6.2.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh
Phân tích tổng hợp là phương pháp thường thấy trong nghiên cứu các vấn đề địa
lý để tìm ra sự giống, khác nhau và mối liên hệ giữa các đối tượng.
Tổng hợp là phương pháp quy kết được các tài liệu đa thành phần thành hệ thống
lôgic và hướng vào chủ đề chính, cho ta cách nhìn toàn diện, khái quát hơn.
Việc phân tích, so sánh các tài kiệu khác nhau và phân loại theo từng chủ đề, từng bộ
phận để chọn lọc những thông tin cần thiết, quan trọng thích hợp với đề tài.
6.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu địa bàn
đồng thời cũng là phương pháp để thể hiện các kết quả nghiên cứu của đề tài.
Các bản đồ này được xây dựng trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin địa lý
GIS, chồng xếp và tổ hợp từng bước trên máy theo lưới Picel. Cùng với đó là các biểu
đồ, sơ đồ, bảng biểu có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
6.2.4. Phương pháp toán học
7
Phương pháp toán học là phương pháp mang tính định lượng cao do vậy nó có ý
nghĩa làm cho vấn đề nghiên cứu có sự chính xác hóa và thể hiện mối quan hệ của các
đối tượng nghiên cứu. Vì vậy với việc sử dụng phương pháp toán học, kết quả nghiên
dụng trực tiếp hoặc từ đó lấy ra những kim loại hợp chất khoáng vật dùng trong nền
kinh tế quốc dân.
Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng
đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể
rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác. Khoáng chất, khoáng vật ở
những bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản.
Luật khoáng sản năm 2010 được Quốc Hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm
2010 có quy định như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự
nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật,
khoáng chất ở bãi thải của nó” [13].
Trữ lượng khoáng sản là một phần của tài nguyên khoáng sản mà các tiêu chuẩn
tối thiểu về hoá lý liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến bao gồm phẩm chất, chất
lượng, kích thước, độ sâu chôn vùi đã được tính toán, điều tra xác định là có giá trị kinh
tế để khai thác sản xuất có lãi và đảm bảo tính hợp pháp tại thời điểm đánh giá.
1.1.1.2. Khai thác khoáng sản
Theo Từ điển địa chất, khoáng sản là sự tích tụ tự nhiên của các loại
khoáng vật ở trong hoặc trên bề mặt vỏ Trái Đất; có thể sử dụng trực tiếp hoặc từ
đó lấy ra những nguyên tố hoá học, khoáng vật, hay hợp chất để sử dụng trong
nền kinh tế quốc dân. Theo luật khoáng sản 2010, khai thác khoáng sản là hoạt
9
động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản, khai đào, làm già u và
các hoạt động có liên quan [13].
1.1.1.3. Phân loại khoáng sản
Có nhiều cách phân loại khoáng sản nhưng cách phân loại phổ biến nhất là dựa
vào nguồn gốc, hình thái, mục đích, diện tích.
- Dựa vào nguồn gốc hình thành chia ra khoáng sản có nguồn gốc nội sinh và
khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh.
1.1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp khai
thác khoáng sản
* Vị trí địa lí
Vị trí địa lí bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế xã hội, giao thông, các nhân tố
này có tác động to lớn đến việc xác định địa điểm các xí nghiệp cũng như phân bố các
hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Đối với ngành công nghiệp khai khoáng vị trí
địa lý mang tính chất bị động cao do chịu sự chi phối của nguồn khoáng sản. Các điểm
khai khoáng thường phân bố ở những khu vực chứa quặng, thường xa đường giao thông
và khu dân cư.
* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chất không
thể thiếu cho việc phát triển và phân bố ngành công nghiệp khai thác khoáng sản. Điều
kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu tố sau:
- Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên quan trọng hàng đầu đối với công nghiệp
khai khoáng. Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp của
chúng trên lãnh thổ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức ngành công nghiệp này. Tuy
nhiên tài nguyên khoáng sản thuộc loại không thể phục hồi được nên việc nghiên cứu
khai thác chúng phải vừa đảm bảo hiệu quả vừa mang tính bền vững, bảo vệ tài nguyên
và môi trường.
- Khí hậu và nguồn nước: Nuớc được sử dụng vào quá trình khai thác, tuyển
quặng, sàng lọc…Tuy nhiên lượng nước mưa, nước ngầm, nước thải tràn qua mỏ cũng
gây không ít khó khăn cho quá trình khai thác. Khí hậu cũng tác động to lớn đến hoạt
động khai thác, trong một số trường hợp chi phối cả kĩ thuật, công nghệ khai thác.
- Ngoài ra các nhân tố tự nhiên khác như: địa chất, địa hình, đất đai cũng có
những tác động nhất định đến sự phát triển và phân bố ngành khai khoáng [14].
* Các nhân tố kinh tế xã hội
- Dân cư và lao động: Dân cư lao động tham gia vào quá trình khai thác và quản
lý, điều hành ngành khai thác khoáng sản. Dân cư cũng là lực lượng sử dụng sản phẩm
của hoạt động khai thác.
người và các sinh vật khác. Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con
người gây ra. Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động
tới môi trường [11].
12
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm kiếm
thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong
công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã
phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Kết quả của công tác điều tra,
khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú,
đa dạng. Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít…,
chủng loại khoáng sản đa dạng, đây chính là điều kiện thuận lợi chohoạt động khai thác
và chế biến các loại khoáng sản:
* Nhóm khoáng sản nhiên liệu
- Dầu khí: Đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau
năm 1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, đóng góp
nhiều vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Dầu khí được tập trung ở các bể
trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư
Chính, Vũng Mây, Trường Sa. Qua kết quả thăm dò cho thấy: Bể Sông Hồng chủ yếu là
khí, bể Cửu Long chủ yếu phát hiện dầu, hai bể còn lại là Nam Côn Sơn và Malay- Thổ
Chu phát hiện cả dầu và khí, bể Phú Khánh và Tư Chính- Vũng Mây mới chỉ dự báo
triển vọng trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc địa chất. Khoáng sản dầu khí đang được thăm
dò với cường độ cao, trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 tỷ tấn và khí đốt
vào khoảng 835 tỷ m3, trữ lượng dầu được dự báo vào khoảng 6 tỷ tấn và trữ lượng khí
vào khoảng 4.000 tỷ m3. Trong những năm gần đây, sản lượng khai thác dầu và khí đều
tăng cao, năm 1999 đã khai thác 15,2 triệu tấn dầu và 1.439 triệu m3 khí. Tính đến cuối
mỏ trung bình có trữ lượng hơn 100.000 tấn, 45 mỏ nhỏ và điểm quặng.
Xét về tổng thể, quặng titan Việt Nam không nhiều, nhưng đủ điều kiện để phát
triển ngành titan đồng bộ từ khâu khai thác và chế biến sâu với quy mô công nghiệp
không lớn, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay nhập khẩu.
Hiện nay, giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu USD/năm, có hiệu quả
kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương suốt dọc ven
biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Tài nguyên trữ lượng quặng titan – zircon của Việt
Nam không nhiều, chiếm khoảng 0,5% của thế giới.
- Quặng thiếc: Ở nước ta, thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao
Bằng khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn
tinh quặng SnO2. Sau hoà bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ)
thiết kế và trang bị bắt đầu hoạt động từ 1954. Đây cũng là mỏ thiếc lớn đầu tiên khai thác,
chế biến có quy mô công nghiệp. Công nghệ khai thác ở các mỏ quy mô công nghiệp chủ
yếu là khai thác bằng ôtô, máy xúc, tuyển trọng lực, tuyển từ, tuyển điện và công nghệ
luyện kim bằng lò phản xạ, lò điện hồ quang.
14
- Quặng Đồng: phát hiện ở Việt Nam cho tới nay đáng kể nhất là ở mỏ đồng Sinh
Quyền – Lào Cai, sau đó là mỏ đồng Niken – Bản Phúc tuy nhiên sản lượng khai thác
không đáng kể. Công nghệ khai thác chủ yếu hiện nay là khai thác lộ thiên kết hợp với
hầm lò.
- Quặng kẽm chì: Các mỏ kẽm chì ở nước ta đã được phát hiện và khai thác, chế
biến từ hàng trăm năm nay. Hiện nay, Công ty Kim loại mầu Thái Nguyên đã xây dựng
xong nhà máy điện phân kẽm kim loại tại khu Công nghiệp Sông Công Thái Nguyên
với công nghệ, thiết bị của Trung Quốc công suất kẽm điện phân là: 10.000 tấn/năm.
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng hệ thống khai
thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc. Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ
giới đã tác động xấu đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên.
Đá biến chất phân bố ở các vùng núi cao ở phía bắc và miền Trung, tổng trữ lượng
đá xây dựng 41.800 triệu m3. Ngoài những khoáng sản chủ yếu nói trên Việt Nam
còn nhiều loại khoáng sản khác như: kaolin, secpentin, graphit, bentonit.
1.2.2. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Thái Nguyên
Trên địa phận của tỉnh Thái Nguyên hiện nay có khá nhiều mỏ, điểm quặng
đã và đang được tiến hành khai thác, sử dụng ở quy mô khác nhau góp phần đáp
ứng nhu cầu nguyên nhiên liệu của địa phương trong nhiều năm qua. Tuy nhiên,
tuỳ thuộc vào mỗi khu vực và vào từng giai đoạn cụ thể mà mức độ khai thác có
sự khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu phụ thuộc vào thị trường nguồn nguyên liệu,
phương thức tổ chức quản lý và mức độ phát triển của các hoạt động khoáng sản.
Trong những năm gần đây, nhờ luật khoáng sản ra đời, công tác quản lý tài
nguyên, khai thác khoáng sản trên địa bàn của tỉnh đã được củng cố, nhiều nơi đã thành
17