ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
TIỂU LUẬN CAO HỌC
HỌC PHẦN: BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Chuyên đề: Thực trạng suy thoái đa dạng sinh học tại Việt Nam hiện nay.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Lớp:
Cao học lâm học 22C
Huế, 8/2017.
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
TIỂU LUẬN CAO HỌC
HỌC PHẦN: BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Chuyên đề: Thực trạng suy thoái đa dạng sinh học tại Việt Nam hiện nay.
Thành viên nhóm:
Lớp:
1.
Nguyễn Quốc
như điều hoà nước, chống xói mòn, đồng hóa chất thải, làm sạch môi trường, đảm bảo
vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trong tự nhiên, giảm thiểu thiên tai/các hậu quả
cực đoan về khí hậu. Và hệ quả cuối cùng là hệ thống kinh tế bị suy giảm do mất đi
các giá trị về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, nhất là ở các nước đang và chậm phát
triển, trong đó có Việt Nam. Là một nước đang trong thời kỳ đi lên theo con đường xã
hội chủ nghĩa. Việt nam đang từng bước vô tình gây ra suy thoái đa dạng sinh học một
cách nhanh chóng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như hiện nay. Nó cũng là một
vấn đề rất nan giải cho môi trường sống, cho môi trường sinh thái hiện nay. Các vấn
nạn làm đe dọa tính đa dạng sinh học của nước ta như: chiến tranh, cháy rừng, đô thị
hóa, di dân, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu toàn cầu…rất nhiều nguyên nhân khác
đang từng ngày ăn sâu và hủy hoại hành tinh xanh của chúng ta. Khi Việt Nam đã
bước vào thời đại công nghiệp là lúc phong phú về đa dạng sinh học(tổng số gen, loài
và các hệ sinh thái trên trái đất) đạt mức cao nhất, song do chưa nhận thức được sự
giới hạn của tài nguyên sinh học nên chúng ta đang khai thác vượt quá những giới hạn
cho phép, do đó đã và đang làm giảm tính đa dạng sinh học. Vì vậy, đã đến lúc phải có
sự thay đổi triệt để trong mối quan hệ giữa con người và tài nguyên sinh học mà con
người phụ thuộc vào. Bảo tồn - phát triển bền vững đa dạng sinh học và bảo vệ môi
trường là một nghĩa vụ, đồng thời cũng là quyền lợi của mọi người sống trên lãnh thổ
Việt Nam giàu đẹp của chúng ta. Nói chung về sự suy thoái mạnh về đa dạng sinh học
diễn ra như hiện nay thì chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ chuyện này được. Nó
đang từng ngày hủy hoại môi trường của chúng ta phá hủy thiên nhiên một cách tồi tệ.
Để rõ về nguyên nhân sâu xa đang từng ngày đe dọa cuộc sống của các sinh vật trên
thế giới hay cũng như chính là hiểm họa lớn nhất của nhân loại chúng ta, chúng tôi
thực hiện chuyên đề: “Thực trạng và nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học
tại Việt Nam hiện nay”.
Phần II. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học
ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, thể
Trung, giá trị lưu giữ cacbon trong khoảng 37- 91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ
cacbon là 0,5- 1,5 triệu đồng/ha/năm. Ở Miền Nam, giá trị lưu giữ cacbon là 46-91
triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,6-1,5 triệu đồng/ha/năm.
Dịch vụ hỗ trợ: Đây là yếu tố thiết yếu trong các chức năng của HST và gián tiếp
ảnh hưởng đến tất cả các loại dịch vụ khác. Có thể ví dụ về dịch vụ hỗ trợ như sự hình
thành đất hay quá trình sinh trưởng của thực vật. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới
gió mùa, hàng năm phải chịu từ 5 đến 8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa
lớn. Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu HST rừng ngập mặn (MERC) cho thấy, hệ
thống rễ dày đặc của các loài cây rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ
đất ven biển và vùng cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển
của sông, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng như giữ hoa lá, cành rụng trên mặt
bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất. Một số loài cây tiên phong như Mắm
biển, Mắm trắng, Bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ đất phù sa,
mở rộng đất liền ra phía biển như ở vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng
Tranh, Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, các bãi bồi ở cửa sông Hồng.
Các nghiên cứu cho thấy, các dải rừng ngập mặn ven biển Việt Nam góp phần
giảm ít nhất 20 – 50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra. Đặc biệt,
hệ thống rừng ngập mặn trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm là chắn xanh, giảm 20 –
70% năng lượng của sóng biển, đảm bảo an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm
hàng nghìn tỷ đồng cho việc duy tu, sửa chữa đê biển.
2.2. Hiện trạng đa dạng sinh học
2.2.1. Hiện trạng các hệ sinh thái ở Việt Nam
a) Các hệ sinh thái quan trọng
HST ở Việt Nam rất đa dạng, trong đó có 3 nhóm chính: HST trên cạn, HST đất
ngập nước và HST biển.
– HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các
HST thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ,
hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước; các thuỷ vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch.
Trong đó, một số kiểu có tính ĐDSH cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn với
nhiều loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện. Các HST sông, hồ ngầm
trong hang động cát tơ còn ít được nghiên cứu.
Việt Nam có 2 vùng ĐNN nội địa quan trọng là vùng cửa sông Đồng bằng sông
Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long: (i) ĐNN ở vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng
có diện tích 229.762 ha (Hội khoa học đất Việt Nam, 2009). Đây là nơi tập trung các
HST nước lợ và mặn với thành phần loài thực vật, động vật phong phú của các vùng
rừng ngập mặn, đặc biệt đây là nơi cư trú của nhiều loài chim nước; (ii) ĐNN Đồng
bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha. Đây là bãi đẻ quan
trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Kông. Những khu
rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản xuất cao.
Có 3 HST tự nhiên chính ở Đồng bằng sông Cửu Long là HST ngập mặn ven biển,
HST rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và HST cửa sông.
– HST biển: Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình. Dựa trên
kết quả những kết quả nghiên cứu và phân tích các kiểu HST biển với các đặc trung về
điều kiện tự nhiên và môi trường biển, đặc biệt tính ĐDSH của rạn san hô, có thể phân
chia vùng biển Việt Nam thành 6 vùng ĐDSH. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các
kiểu HST rạn san hô, thảm cỏ biển quanh các đảo ven bờ là nơi có mức ĐDSH biển
cao nhất đồng thời cũng rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường. Trong các
vùng biển của Việt Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô
cao nhất thế giới.
Theo dẫn liệu điều tra, nghiên cứu trong giai đoạn 2008 – 2010 của Viện Tài
nguyên và Môi trường biển, tổng diện tích thật có của rạn san hô Việt Nam chỉ còn
khoảng 14.130 ha. Hiện nay, các rạn san hô chủ yếu đang ở trong tình trạng xấu. Các
điều tra từ năm 2004 đến 2007 tại 7 vùng rạn san hô trọng điểm của Việt Nam cho thấy
chỉ có 2,9% diện tích rạn san hô được đánh giá là trong điều kiện phát triển rất tốt,
11,6% ở trong tình trạng tốt, 44,9% ở trong tình trạng xấu và rất xấu. Các rạn san hô
phân bố ở vùng ven bờ có nguy cơ suy giảm nhanh theo thời gian. Điều này thể hiện
lại 131.520 ha[3].
b) Quy hoạch các hệ sinh thái quan trọng ở Việt Nam
Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020 và định hướng
đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của
Thủ tướng Chính phủ) (sau đây gọi tắt là Quy hoạch tổng thể) đã quy hoạch các HST
tự nhiên, quan trọng trên cả nước như sau:
– Vùng Đông Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Hồng, sông Lô,
sông Gâm; HST núi đá vôi tại Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao
Bằng, Quảng Ninh; HST đất ngập nước tại Đầm Hà, Yên Hưng (Quảng Ninh).
– Vùng Tây Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Đà, sông Mã; rừng
ở các đai cao trên 1.500 m tại Lào Cai, Sơn La.
– Vùng Đồng bằng sông Hồng: – Bảo vệ HST rừng ngập mặn tự nhiên tại Hải
Phòng, Thái Bình; các HST đất ngập nước quan trọng tại Ninh Bình, Nam Định.
– Vùng Bắc Trung Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh tại Nghệ An, Hà Tĩnh;
rừng tự nhiên lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Gianh; rừng ngập mặn ven biển tại
Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa; HST núi đá vôi ở Thanh Hoá và Quảng Bình; HST
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tại Thừa Thiên Huế.
– Vùng Nam Trung Bộ: Bảo vệ các hệ sinh thái rừng tự nhiên lưu vực sông Cái
(tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa), sông Côn, sông Đà Rằng, sông Ba, sông Trà
Khúc, sông Thu Bồn; HST rừng khộp tại Ninh Sơn (Ninh Thuận), Hoàn Giao (Khánh
Hòa); các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm, Ninh Hải, vịnh Vĩnh Hy, vịnh
Cam Ranh, đầm Thủy Triền, vịnh Vân Phong; HST đất ngập nước khu vực đầm Thị
Nại, Trà Ổ, Cù Mông, Ô Loan, Nha Phu.
– Vùng Tây Nguyên: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh gồm: rừng trên núi trung
bình (Ngọc Linh, Chư Yang Sin), rừng nửa rụng lá (rừng bằng lăng), rừng rụng lá cây
họ Dầu (rừng khộp); rừng tự nhiên lưu vực sông Sê San, sông Ba, sông Đồng Nai.
Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 và 47 KBT ĐNN tại Quyết định số
45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014. Tuy nhiên, đến nay chỉ có sáu (06) KBT biển được
thành lập với mục tiêu bảo tồn ĐDSH biển. Một số KBT vùng nước nội địa đã được
quy hoạch chi tiết nhưng chưa được thành lập. Các KBT ĐNN đã hình thành và nhiều
khu tồn tại dưới hình thức là KBT rừng đặc dụng như VQG Xuân Thuỷ, Mũi Cà Mau,
U Minh Thượng; KBT thiên nhiên Tiền Hải, Thạnh Phú, Láng Sen. Các KBT trên
được thành lập và quản lý theo cả Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Năm 2008, Luật ĐDSH ra đời đã bổ sung thêm hành lang pháp lý quan trọng cho công
tác quản lý ĐDSH và KBT của Việt Nam. Đây cũng là văn bản pháp lý cao nhất quy
định trực tiếp về phân cấp, phân hạng KBT thống nhất trên toàn quốc.
Căn cứ vào tiêu chí KBT theo quy định của Luật ĐDSH, Bộ Tài nguyên và Môi
trường đã xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát KBT và ban hành
danh mục KBT của Việt Nam tại Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 của
Bộ trưởng Bộ TNMT, bao gồm 166 khu được phân hạng như sau: 31 vườn quốc gia,
64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài – sinh cảnh và 55 khu bảo vệ cảnh quan.
Trong đó, đề xuất nâng cấp 01 khu dự trữ thiên nhiên Núi Phia Oắc thành Vườn quốc
gia Phia Đén – Phia Oắc; nâng cấp 01 KBT loài sinh cảnh Lung Ngọc Hoàng và 02
KBT biển Bạch Long Vĩ và Cù Lao Chàm thành khu dự trữ thiên nhiên.
b) Hiện trạng thể chế, chính sách quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam
Hệ thống thể chế chính sách về quản lý KBT ở Việt Nam đang ngày càng được
hoàn thiện và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH của Việt Nam như:
Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số
218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý
hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030 và nhiều văn bản, Nghị định hướng dẫn Luật có liên
quan. Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách và văn bản này còn gặp nhiều khó
khăn, bất cập. Nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt về quy định phân hạng, phân khu
khó áp dụng.
– Hệ thống các văn bản điều chỉnh các KBT thiếu, chưa đồng bộ và có những
quy định chưa rõ ràng, khó khả thi và việc phân công, phân cấp quản lý KBT thiên
nhiên còn chia cắt, chưa rõ về quyền hạn, trách nhiệm.
– Việc thành lập các KBT còn nặng về quy mô diện tích mà chưa cân đối được
khả năng quản lý, đáp ứng các nguồn lực tương ứng.
– Tổ chức bộ máy quản lý KBT còn nhiều bất cập, đây là một trong những
nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả quản lý các KBT hiện nay ở Việt Nam.
– Việc quản lý, vận hành các KBT chưa hoặc ít tiếp cận phương pháp, kỹ thuật
bảo tồn hiện đại.
– Nhận thức về tầm quan trọng của các KBT chưa thực sự đầy đủ do thiếu thông
tin về giá trị của ĐDSH và dịch vụ HST của KBT.
– Nguồn lực đầu tư cho KBT hạn chế.
2.2.3. Hiện trạng loài tại Việt Nam
a) Nơi cư trú của động vật hoang dã vẫn bị thu hẹp do thay đổi phương thức sử dụng
đất và số lượng cá thể các loài quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng giảm
Trên cạn, các HST rừng tự nhiên, trong đó, các loại rừng giàu, trung bình thường
xanh là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã do vậy ĐDSH ở đây cao. Nếu
hoạt động chặt phá rừng tự nhiên còn tiếp tục cho các mục đích khác thì nơi cư trú của
động vật hoang dã càng bị thu hẹp hoặc mất đi. Hiện tượng quần thể voi rừng hung dữ
phá hoại nhà cửa, mùa màng và nghiêm trọng hơn là giết hại dân ở một số địa phương
miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có thể xem là phản ứng tự nhiên của bầy voi
hoang dã khi nơi cư trú của chúng đã bị xâm hại và thu hẹp. Hầu hết các loài thú
hoang dã khác như hổ chỉ còn thấy dấu vết phân bố ở các khu bảo tồn. Theo một số
nguồn thông tin, hiện Việt Nam chỉ còn khoảng 30 cá thể hổ trong tự nhiên.
Tổng số các loại động-thực vật được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 là 882 loài
(418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với giai đoạn 1992-1996
(Lần xuất bản thứ nhất của các tập Sách Đỏ Việt Nam). Trong giai đoạn này mức độ bị
sự sửa đổi năm 2009; Thực hiện rà soát hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý, bảo
tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm nhằm xác định lộ trình chỉnh sửa và kiện toàn khung
pháp lý và chính sách về bảo tồn các loài hoang dã, đặc biệt là loài nguy cấp, quý,
hiếm.
Tổng cục Môi trường đã tích cực huy động sự hợp tác, hỗ trợ về tài chính và kỹ
thuật từ các tổ chức quốc tế và các tổ chức bảo tồn trong công tác bảo tồn các loài
nguy cấp, quý, hiếm, cụ thể: từ năm 2012-2015, Tổng cục Môi trường đã xây dựng,
trình phê duyệt và triển khai thành công dự án “Tăng cường công tác bảo tồn ĐDSH
thông qua cải cách chính sách và thay đổi thực trạng tiêu thụ các loài động vật hoang
dã ở Việt Nam”. Dự án đã huy động được sự tham gia của nhiều Bộ, ngành, cơ quan
đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, phi chính phủ thông qua việc thành lập diễn
đàn hợp tác vì động vật hoang dã (Vietnam- BCA- Wildlife Partnership). Trong khuôn
khổ dự án, Tổng cục Môi trường đã phối hợp, hỗ trợ các Bộ, ngành liên quan ban hành
nhiều văn bản chỉ đạo nhằm tăng cường bảo tồn các loài hoang dã như Công văn số
79/YDCT-QLHN ngày 31 tháng 3 năm 2015 của Cục Quản lý Y dược, cổ truyền, Bộ Y
tế về tăng cường bảo vệ động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trong y học
cổ truyền và Hướng dẫn số 98-HD/BTGTW của Ban tuyên giáo Trung ương về tăng
cường công tác tuyên truyền không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp các loài động vật
hoang dã; đồng thời tổ chức nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý các loài
nguy cấp đã nêu trên.
Tổng cục Môi trường cũng triển khai nhiều chương trình hội thảo tập huấn, nâng
cao kiến thức cho các cán bộ quản lý địa phương, vườn quốc gia, khu BTTN trong
công tác quản lý các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ tại 03 miền và các
chiến dịch truyền thông giảm tiêu thụ trái phép các loài hoang dã nguy cấp với quy mô
lớn nhân các dịp đặc biệt như ngày quốc tế ĐDSH, ngày hội tình nguyện viên quốc tế
và các đợt trọng điểm như nghỉ lễ, tết v.v.
Những vướng mắc, tồn tại: Việc khai thác, buôn bán, tiêu thụ động, thực vật
hoang dã nguy cấp vẫn diễn ra chưa kiểm soát được.Các loài hoang dã tiếp tục bị suy
Theo Luật ĐDSH (2008), nội dung kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại được quy
định tại Mục 3 trong đó gồm các nội dung như: Điều tra và lập Danh mục loài ngoại
lai xâm hại; Kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại, sự xâm nhập từ bên
ngoài của loài ngoại lai; Kiểm soát việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại;
Kiểm soát sự lây lan, phát triển của loài ngoại lai xâm hại; Công khai thông tin về loài
ngoại lai xâm hại.
Thực hiện quy định của Luật ĐDSH, Tổng cục Môi trường đã tiến hành xây
dựng và trình ban hành các văn bản chính sách, pháp lý trong lĩnh vực quản lý sinh vật
ngoại lai xâm hại như Quyết định số 1896/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2012 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm
hại ở Việt Nam đến năm 2020; Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMTBNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban
hành danh mục loài ngoại lai xâm hại; Quyết định số 200/QĐ-BTNMT ngày 20 tháng
01 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình truyền
thông nâng cao nhận thức về ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt
Nam giai đoạn 2015-2020.
Trong giai đoạn 2012-2015, trong khuôn khổ Dự án “Ngăn ngừa và quản lý sinh
vật rừng ngoại lai xâm hại ở rừng sản xuất và rừng được bảo vệ khu vực Đông Nam
Á”, Tổng cục Môi trường đã xây dựng tài liệu tập huấn, ấn phẩm và phim tài liệu về
tuyền truyên, nâng cao nhận thức cũng như tiến hành nhiều hoạt động tập huấn, nâng
cao kiến thức cho các cán bộ quản lý địa phương, ban quản lý vườn quốc gia, khu
BTTN trong công tác quản lý các loài ngoại lai xâm hại; tiến hành điều tra và xây
dựng cơ sở dữ liệu về sinh vật ngoại lai xâm hại tại một số khu bảo tồn, vườn quốc gia
trên cả nước; thí điểm diệt trừ loài Trinh nữ móc Mimosa diplotrica tại Vườn quốc gia
Cúc Phương.
Những vướng mắc, tồn tại: Luật ĐDSH có nhiều quy định về quản lý sinh vật
ngoại lai xâm hại chưa triển khai xây dựng do chưa có sự thống nhất giữa hai Bộ Tài
nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như quy định về
khảo nghiệm loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại. Một số quy định về đánh giá rủi ro của
đối với các loài ngoại lai nhập khẩu, hệ thống phát hiện sớm và phản ứng nhanh các
định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi Giấy chứng nhận ATSH đối với cây trồng biến đổi
gen; Thông tư số 13/2013/TT-BTNMT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định quy trình kỹ thuật và định mức kinh tế-kỹ thuật
trong phát hiện sinh vật biến đổi gen bằng phương pháp phân tích định tính, định
lượng axit deoxyribonucleic.
Với vai trò là Đầu mối quốc gia về thực hiện Nghị định thư Cartagena về an toàn
sinh học, Tổng cục Môi trường đã tham mưu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường báo
cáo Chính phủ về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung Nagoya-Kuala Lumpur về
Nghĩa vụ pháp lý và bồi thường trong khuôn khổ Nghị định thư Cartagena về an toàn
sinh học. Ngày 12 tháng 2 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP
về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung. Việc gia nhập Nghị định thư bổ sung sẽ tạo
cho Việt Nam một cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc hơn trong việc yêu cầu các tổ
chức, cá nhân khi vận chuyển xuyên biên giới sinh vật biến đổi gen qua lãnh thổ Việt
Nam nếu để xảy ra thiệt hại phải có trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, thông qua đó
sẽ hạn chế các rủi ro đến môi trường, ĐDSH và sức khỏe con người.
Thực hiện chức năng được giao, trong thời gian qua, Tổng cục Môi trường cũng
đã tiến hành tiếp nhận, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với cây
trồng biến đổi gen: đến nay, Tổng cục Môi trường đã tiếp nhận 05 hồ sơ đăng ký cấp
Giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với các sự kiện ngô biến đổi gen mang đặc tính
kháng sâu hại bộ cánh vảy và chống chịu thuốc trừ cỏ gốc glyphosate. Sau khi tiếp
nhận các hồ sơ nêu trên, Tổng cục Môi trường đã triển khai các hoạt động thẩm định
theo đúng trình tự quy định tại Thông tư số 08/2013/TT-BTNMT: (i) Thành lập Tổ
chuyên gia bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan; (ii)
Thành lập Hội đồng ATSH với các thành viên là đại diện cho các Bộ, ngành liên quan;
(iii) Đăng tải báo cáo đánh giá rủi ro của giống ngô biến đổi gen đăng ký trên trang
thông tin điện tử về ATSH để lấy ý kiến công chúng; (iv) Tổ chức các phiên họp thẩm
định hồ sơ của Tổ chuyên gia và Hội đồng ATSH. Việc đánh giá các hồ sơ đăng ký cấp
Giấy chứng nhận ATSH kỹ lưỡng, khoa học của Hội đồng ATSH và Tổ chuyên gia,
thiếu ý thức, thiên tai, thói quen canh tác lạc hậu, gia tăng dân số và đô thị hóa. Đặc
biệt, hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã đe dọa tới tài nguyên di truyền.
Thực tế cho thấy, hiện nay có một số giống đang còn rất ít như lợn Ỉ, lợn Ba Xuyên, gà
Hồ… Một trong những nguyên nhân gây suy giảm nguồn gen tại Việt Nam là do giá trị
về nguồn gen chưa được nhận thức đầy đủ. Đặc biệt tại khu vực miền núi và ven biển,
nơi sở hữu nguồn gen phong phú và quý hiếm nhưng do trình độ dân trí còn hạn chế
nên người dân chưa nhận thức đầy đủ giá trị nguồn tài nguyên đang nắm giữ. Trong
khi đó, các tổ chức, cá nhân khai thác nguồn gen không ý thức được trách nhiệm phải
chia sẻ lợi ích với bên cung cấp tài nguyên, khiến cho quyền lợi của cộng đồng không
được đảm bảo. Hơn nữa, một nguyên nhân khác dẫn tới sự suy giảm nguồn gen là do
hiện nay Việt Nam chưa kiểm soát được hoạt động khai thác nguồn gen của các tổ
chức, cá nhân nước ngoài tiến hành thông qua hợp tác nghiên cứu khoa học, liên
doanh, sưu tầm, du lịch…
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen,
từ năm 2011 đến 2013, Tổng cục Môi trường đã phối hợp với các cơ quan có liên quan
nghiên cứu các nội dung và điều khoản quy định của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận
nguồn gen, chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen theo Công
ước ĐDSH (gọi tắt là Nghị định thư Nagoya về ABS) và tham mưu cho Bộ Tài nguyên
và Môi trường trình Chính phủ xem xét, gia nhập Nghị định thư. Ngày 17 tháng 3 năm
2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về việc gia nhập Nghị định thư
Nagoya về ABS. Ngày 23 tháng 4 năm 2014, Việt Nam chính thức gia nhập và trở
thành thành viên thứ 31 của Nghị định thư Nagoya về ABS. Việc gia nhập Nghị định
thư Nagoya về ABS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong một số hoạt động,
như (i) tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc trong bảo vệ quyền và lợi ích công bằng của
bên cung cấp nguồn gen và tri thức truyền thống về nguồn gen ở Việt Nam; (ii) góp
phần thực hiện nghĩa vụ đối với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc
biệt là Công ước ĐDSH và Tuyên bố Rio về Phát triển bền vững; (iii) tạo cơ hội để
Việt Nam tiếp cận các nguồn lực quốc tế trong hỗ trợ xây dựng năng lực về vấn đề
này; (iv) nâng cao nhận thức về quản lý nguồn gen, thúc đẩy các hoạt động ứng dụng
nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen, góp phần nâng cao đời sống của cộng
ven biển các tỉnh Đông và Tây Nam Bộ vẫn tiếp tục bị xâm hại, diện tích rừng ngập
mặn trồng không bù lại diện tích rừng đã bị mất.
Trong những năm gần đây, do có kế hoạch trồng mới rừng nên độ che phủ của
rừng tăng nên đáng kể. Tuy nhiên, diện tích rừng có chất lượng (rừng gỗ nhiệt đới tự
nhiên nhiều tầng) vẫn có xu hướng suy giảm. Điều đó gây suy giảm ĐDSH. Theo các
dẫn liệu thống kê (Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2001), đến năm 1999, vùng Tây
Nguyên chiếm 33,1%, vùng Bắc Trung Bộ chiếm 19,4% và vùng duyên hải Nam
Trung Bộ chiếm 17,3% tổng diện tích rừng của cả nước. Đây là những vùng còn nhiều
rừng nhất đồng thời cũng là những vùng có độ ĐDSH cao nhất ở Việt Nam.
Bảng 3.1. Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (ĐV: triệu ha)
Năm 1943
1976
1980
1985
1990
1995
1999
2003
14,3
11,168
1,524
1,919
tự
14,3
11,076
10,18
6
9,30
8
8,431
8,25
2
9,421
9,865
Độ che phủ
43,0
33,8
Hình 3.2.. Độ che phủ rừng toàn quốc tại các thời điểm
3.1.2. Số lượng cá thể giảm
Các nghiên cứu, thống kê cho thấy số lượng một số loài quý hiếm đang bị giảm
rõ rệt (bảng 3.2)
Bảng 3.2. Tình trạng diễn biến số lượng một số loài động vật, thực vật quý hiếm, có
giá trị kinh tế ở Việt Nam.
T
T
Loài
Thời gian
Trước 1970 (cá thể)
Số liệu 1999 (cá thể)
1
Tê giác một sừng
15 - 17
5-7
2
Voi
1500 - 2000
2000 - 3000
150 - 200
7
Hươu xạ
2500 - 3000
150 - 170
8
Hươu cà toong
700 - 1000
60-80
9
Hươu vàng
300 - 800
rất hiếm gặp
10
14
Vượn đen tuyền
-
350 - 400
15
Vượn Hải nam
100
Không rõ (hiếm gặp)
16
Vượn Bạc má
Hàng nghìn
350 - 400
17
Vượn má hung
Hàng nghìn
-
80-100
22
Công
Hàng nghìn
rất hiếm
23
Gà lôi lam mào đen
-
Rất hiếm
24
Gà lôi lam mào trắng
Rất hiếm
25
100-150kg/
Nguồn: Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, 2002.
Tây Nguyên là nơi có truyền thống thuần dưỡng voi rừng. Các số liệu thống kê ở
tỉnh Đắc Lắc cho thấy : năm 1980 có 500 con voi được thuần dưỡng, năm 1996 - 299
con, năm 1997 chỉ còn 169 con. Từ năm 1991 đến 1997 số lượng voi thuần dưỡng
giảm 56,8%.
Loài Sao la P. nghetinhensis từ khi phát hiện năm 1994 đến nay đã có 16 con bị
bắt để nuôi thử nghiệm nhưng đã chết hết, chưa kể số lượng cá thể loài này đã bị mắc
bẫy và bị dân địa phương bắt làm thịt. Loài này phân bố dọc dãy Trường Sơn nhưng
chưa rõ số lượng cá thể hiện nay là bao nhiêu. Gần đây (27/7/2004), WWF đã tổ chức
hội thảo về Sao la ở vườn quốc gia Pù Mát để cảnh báo nguy cơ giảm số lượng của
loài mới phát hiện này.
Nguồn thuỷ sản nước ngọt tự nhiên nhiều nơi bị giảm sút nghiêm trọng. Vùng
đồng bằng sông Cửu Long, năm 1970 có sản lượng 85.000 tấn/năm, chỉ còn 66.000 tấn
trong năm 1990. Sản lượng cá đánh bắt ở sông Hồng năm 1960 là 4.685 tấn, năm 1970
: 2.645 tấn, và năm 1990 ước tính khoảng 500 tấn (Nguyễn Văn Hảo, 1970,1995). Như
vậy, sản lượng khai thác các tự nhiên đã giảm 9,5 lần. Số lượng các loài cá có tập tính
di cư đẻ trứng ở thượng nguồn các sông Hồng như các mòi, cá cháy hoặc cá tra ở sông
Mê Kông đã giảm hẳn.
Tại vùng ven biển, tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên sinh vật vùng
nước ven bờ cũng đang gia tăng mạnh mẽ, làm cạn kiệt sinh vật trong các HST ven bờ
và nguồn thuỷ sinh vật giai đoạn con non cư trú ở đây. Các kết quả thống kê trong 10
năm trở lại đây, năng xuất mẻ lưới khai thác tôm chỉ bằng 45% -78% so với năng xuất
thời kỳ 1975-1985.
3.1.3. Số lượng các loài trong Sách Đỏ tăng
Sau một quá trình điều tra nghiên cứu lâu dài, các nhà sinh học đã công bố 2 tập
“Sách đỏ Việt Nam” : Phần Động vật (1992, 2000) và phần Thực vật (1995). Những
14
6
32
31
Bó sát - Lưỡng cư 8
19
16
11
Cá
24
13
29
3
24
9
Nguồn: Bộ KHCN&MT, 1992, 1996, 2000. (biodivn.blogspot.com).
3.2. Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam
Những nghiên cứu gần đây đã xác định những mối đe doạ chính đồng thời cũng
là những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH Việt Nam bao gồm:
1. Khai thác quá mức tài nguyên sinh vật
Nhiều cộng đồng dân cư ở Việt Nam có truyền thống lâu đời về sử dụng tài
nguyên thiên nhiên và đời sống vẫn phụ thuộc nhiều vào rừng như thu hái, khai thác
thực phẩm, chất đốt và vật liệu xây dựng. Do có sự thay đổi nhanh về kinh tế, xã hội
và tăng trưởng dân số ở Việt Nam, nên mô hình tiêu thụ của người dân thành thị cũng
đã thay đổi và mạng lưới giao thông đã xâm nhập tới các vùng xa xôi hẻo lánh nhất,
làm cho các vùng này trở nên dễ tiếp cận hơn đối với các thị trường bên ngoài. Những
thay đổi to lớn đó đã dẫn tới việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên tới mức độ
nguy hiểm tại nhiều vùng trên cả nước như khai thác trầm, săn bắt động vật quý hiếm,
khai thác sâm Ngọc Linh.