Để nâng cao chất lượng giảng dạy Đại học tại Việt Nam hiện nay, biện pháp quan trọng nhất và cấp thiết nhất là phải tăng học phí ở bậc đại học - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN
MÔN KINH TẾ HỌC LAO ĐỘNG
Đề tài: Để nâng cao chất lượng giảng dạy Đại học tại
Việt Nam hiện nay, biện pháp quan trọng nhất và cấp thiết nhất
là phải tăng học phí ở bậc đại học.
Hà nội, tháng 11 năm 2010
1
Mục lục
Mở đầu 5
A/ Thực trạng nguồn cung lao động tại Việt Nam
1. Quy mô nguồn cung lao động Việt Nam 6
2. Tình trạng nguồn cung lao động Việt Nam 6
B/ Thực trạng nền giáo dục bậc đại học tại Việt Nam, khu vực và
thế giới
1. Giáo dục bậc đại học tại Việt Nam 9
2. Nền giáo dục bậc đại học trong khu vực và trên thế giới 12
C/ Vấn đề học phí
1. Đồng ý với nhận định tăng học phí để tăng chất lượng
giáo dục đại học
1.1 Tăng học phí là một xu thế tất yếu của quá trình
phát triển kinh tế 18
1.2 Nguyên nhân của việc tăng học phí
1.2.1 Do trượt giá và các chi phí đầu vào đều tăng 19
1.2.2 Do cơ sở vật chất và thiết bị giảng dạy chưa
đáp ứng được nhu cầu 21
1.2.3 Chế độ đãi ngộ giảng viên còn nhiều hạn chế 23
1.2.4 Tăng học phí sẽ thúc đẩy việc học tập của
sinh viên 25
2. Không đồng ý với nhận định tăng học phí để tăng

thác cũng còn nhiều bất cập. Vì vậy, để nghiên cứu nó, ta phải tìm hiểu xem
nguồn nhân lực ở Việt Nam xuất phát từ đâu và đang ở tình trạng nào.
1. Quy mô nguồn cung lao động Việt Nam
Trong hàng chục năm trở lại đây, nguồn cung lao động luôn chiếm tỉ
trọng cao trong dân số và có xu hướng tăng mạnh trong tương lai. Đây là
một điều vô cùng thuận lợi bởi nước ta có một nguồn lực lượng lao động dồi
dào, là tiềm lực cho nền kinh tế đất nước trong thời kỳ hội nhập.
Năm 1979 1989 1999 2009
Dân số (triệu người) 52.742 64.375 76.325 857.895
Dân số trong độ tuổi lao động
(triệu người)
26.63 34.76 44.58 56.62
Tỉ trọng (%) 50.49 53.99 58 66
2. Tình trạng nguồn cung lao động Việt Nam
Tính đến nay, số dân trong độ tuổi lao động là khoảng 56,62 triệu
người, trong đó nông dân chiếm khoảng 73% lao động cả nước và lực lượng
công nhân chiếm khoảng 6%. Số liệu trên đây phản ánh một thực tế là nông
dân nước ta chiếm tỷ lệ rất cao về lực lượng lao động trong khi lực lượng
công nhân và trí thức chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
Theo báo cáo của ngành lao động, mỗi năm nước ta có hơn 1 triệu lao
động qua đào tạo, cộng với những người tốt nghiệp trung cấp chuyên
5
nghiệp, cao đẳng và đại học (khoảng 500 ngàn người). Nếu kể cả các doanh
nghiệp cũng tham gia đào tạo người lao động nữa thì tổng số lao động qua
đào tạo đạt trên 1,5 triệu người.
Tính từ năm 2000 đến năm 2006 có khoảng 9 triệu người được đào tạo
trong tổng số 45 triệu người trong độ tuổi lao động - tức là khoảng 20% lao
động đã qua đào tạo. Nếu cộng thêm số lao động đã qua đào tạo trước năm
2000 và hiện tại vẫn đang tham gia lao động thì tỉ lệ lao động đã qua đào tạo
chiếm khoảng 37%.

động thỏa mãn yêu cầu của thị trường hiện nay, nhiều công ty, đặc biệt là
các công ty có vốn đầu tư nước ngoài buộc phải tự đào tạo lấy người lao
động của mình. Lý do đơn giản là chất lượng đội ngũ lao động Việt Nam,
bao gồm cả đội ngũ kỹ sư và công nhân kỹ thuật, chưa đáp ứng được những
đòi hỏi về tiêu chuẩn văn hóa, chuyên môn - nghiệp vụ của thị trường.
Chúng ta trang bị cho người lao động những kiến thức mà hệ thống chính trị
cần nhưng tiếc thay, những kiến thức này không phù hợp, hay nói đúng hơn
là lạc hậu so với thời đại. Chính điều này đã giải thích tại sao người lao
động Việt Nam thường bị đánh giá thấp hơn và do đó, bị trả lương thấp hơn
trên thị trường lao động so với lao động nước ngoài có cùng trình độ chuyên
môn và cùng thời gian đào tạo.
Nói tóm lại, nguồn nhân lực từ trí thức ở Việt Nam, nhìn chung, còn
nhiều bất cập. Sự bất cập này ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế.
Trong những năm đổi mới, kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 - 8% nhưng
so với kinh tế thế giới thì còn kém xa. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới
(WB) và tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) công bố ngày 26/9/2007, kinh tế
Việt Nam xếp thứ 91/178 thế giới.
7
B/ Thực trạng nền giáo dục bậc đại học tại
Việt Nam, khu vực và thế giới
1. Giáo dục bậc đại học tại Việt Nam
Giáo dục đang là niềm hy vọng lớn lao cho đất nước ta hiện nay. Với
mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta đi lên từ nghèo
nàn lạc hậu, có được thành quả như ngày nay có thể nói là bước phát triển
thần kỳ. Tuy nhiên, ở bất cứ xã hội nào, thời đại nào cũng luôn tồn tại 2 mặt:
mặt tích cực và mặt hạn chế chưa làm được. Ở nước ta cũng vậy, việc phát
triển giáo dục ngày càng hoàn thiện đòi hỏi phát huy thế mạnh và khắc phục
khó khăn mới đạt kết quả cao.
Phải khẳng định rằng, những gì Việt Nam đã làm được trong giáo dục
là rất to lớn. Vì lợi ích "mười năm trồng cây, trăm năm trồng người" theo tư

a) Mục tiêu
Cho tới thời điểm hiện nay, các trường Đại học Việt Nam vẫn chưa
xác định được mục tiêu cụ thể để đào tạo sinh viên. GS Vũ Minh Giang -
ĐHQG Hà Nội lập luận rằng các trường Đại học trên thế giới thường hướng
đến 3 mục tiêu chính sau để đào tạo sinh viên: Trang bị kiến thức nghề
nghiệp chuyên môn, Hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đã học vào
công việc thực tế, Nâng cao trình độ nhận thức văn hóa cho sinh viên. Trong
khi đó các trường Đại học Việt Nam lại hướng đến những mục tiêu to lớn,
không cụ thể như: Trung thành với tổ quốc, Xây dựng xã hội chủ nghĩa
nên nhiều lúc chính cả thầy và trò còn lơ mơ về mục tiêu dạy và học của
mình.
b) Chương trình
Hiện nay, chương trình giáo dục bậc đại học tại Việt Nam vẫn còn kém
hiệu quả. Nguyên nhân do Bộ khống chế quá chặt về chương trình khung và
yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc.
9
Theo chuyên gia, kiến thức chuyên ngành sinh viên được học quá ít.
Ví dụ, một chương trình cử nhân, bao gồm 125 - 130 tín chỉ tất cả các môn,
trong đó có khoảng 80 - 90 tín chỉ là môn chung. Các môn chung của ngành
cũng khoảng 20 tín chỉ nữa. Cho nên những kiến thức sẽ học để sinh viên đi
làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ. Cho nên những kiến thức sẽ học để
sau này sinh viên đi làm thực tế chỉ còn khoảng 20 tín chỉ nữa, tương đương
với 4 - 5 môn.
c) Phương pháp
Hiện nay, giảng viên tại một số trường Đại học Việt Nam chủ yếu vẫn
sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống "thầy đọc, trò chép". Giảng
viên lý giải rằng biết rằng phương pháp này khiến sinh viên không hứng thú
nhưng họ phải truyền đạt hết nội dung giáo trình cho sinh viên theo số tiết
mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định. Phương pháp dạy và học hiện nay
chủ yếu chạy theo chương trình, đối phó với các kỳ thi, thi xong thì chẳng

ra những quan điểm cá nhân, ông Khanh có dự báo rằng những đổi mới về
phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa người học có thể sẽ gặp
khó khăn đáng kể do nếp nghĩ và các thói quen học thụ động đã định hình ở
phần lớn sinh viên hiện nay.
Như vậy, giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, tuy đã tiến được
những bước rất dài nhưng vẫn còn nhiều bất cập về cả dạy và học cần được
khắc phục trong tương lai.
2. Toàn cảnh nền giáo dục trong khu vực và trên thế
giới
Từ hơn 100 năm nay, vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính
sách, các nhà kinh tế là làm thế nào để một nước nghèo đuổi kịp nước giàu
về trình độ phát triển mà trước hết là về thu nhập bình quân đầu người. Báo
cáo phát triển công nghiệp năm 2005 của Tổ chức Phát triển Công nghiệp
Liên hợp quốc UNIDO chỉ ra rằng, cách thức mà các nước dùng để thu hẹp
khoảng cách phát triển kinh tế với các nước đi trước là rất đa dạng. Tuy
11
nhiên, vấn đề không chỉ là bắt chước các quy định, định chế, công nghệ của
các nước phát triển; cũng không thể chỉ trông cậy vào động lực của kinh tế
thị trường mà muốn phát triển lâu dài và bền vững, những nước chậm và
đang phát triển chỉ có một lựa chọn duy nhất là phát triển giáo dục.
Một thực tế là tất cả hệ thống giáo dục của các nước chậm và đang
phát triển trên thế giới đều rất lạc hậu, và hiện đang tụt hậu so với các nước
phát triển hàng thập kỷ. Hệ thống giáo dục không tương thích và tách khỏi
cuộc sống mặc dù đã tiến hành không ít các cuộc cải cách. Đầu ra các
trường đại học thường không thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, yêu
cầu của nền kinh tế chuyển đổi. Ở một số nước, do ảnh hưởng của chính trị,
người lao động được giáo dục quá nhiều về nhận thức chính trị thay vì được
giáo dục về năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng.
So sánh nền giáo dục bậc đại học tại Việt Nam với người láng giềng
Trung Quốc, có thể thấy, sau 25 năm tiến hành đổi mới về giáo dục, Trung

chuyên môn của mình. Do đó, sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều
chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất.
13
C/ Vấn đề học phí
Trong những năm gần đây, học phí đang là một vấn đề nhức nhối,
được cả xã hội quan tâm. Học phí liên tục tăng theo từng năm học. So với
mức trần tối đa trong khung học phí đại học trước đây là 240,000 đồng/
tháng, từ năm học 2010 - 2011 học phí tại các trường đại học sẽ tăng lên 2 -
3 lần tùy ngành học. Cũng trong năm học 2010 này, Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định mức trần học phí theo từng ngành như sau:
S
TT
Nhóm ngành đào
tạo
Khung học phí
(đơn vị:
đồng/tháng)
(đơn vị:
USD/năm)
1. Khoa học, xã hội,
kinh tế, luật
Từ 290.000 đến
550.000
Từ 138 đến
262
2. Kỹ thuật, công nghệ Từ 310.000 đến
650.000
Từ 147 đến
310
3. Khoa học tự nhiên Từ 310.000 đến

Học phí
(đơn vị: USD/năm)
1. Các ngành không liên quan đến phòng
thí nghiệm
7.000
2. Các ngành liên quan đến phòng thí
nghiệm
7.000
3. Y dược
18.500
4. Âm nhạc
8.100
Trong đó:
• Các ngành không liên quan tới phòng thí nghiệm gồm: kinh tế,
khoa học và xã hội, luật,
• Các ngành liên quan tới phòng thí nghiệm gồm: kiến trúc, xây
dựng, công nghệ thông tin,
 Anh
S
TT
Nhóm ngành đào tạo
Học phí
(đơn vị: USD/năm)
1.
Khoa học, kinh tế, luật
Từ 9.300 đến
13.900
2.
Y dược
Từ 10.000 đến

hạn chế. Vì vậy tăng học phí là một xu thế tất yếu.
Sau đây là một số số liệu thực tế về việc tăng học phí:
 Tại Singapore
Các trường đại học hàng đầu của Singapore là Trường đại học Quốc
gia Singapore (NUS), Trường đại học Kỹ thuật Nanyang (NTU) và Trường
đại học Quản lý Singapore (SMU) tăng học phí từ 3% đến 18% trong năm
2010. Cụ thể:
o Tại Trường NUS, sinh viên học các khóa Kiến trúc và Kinh
doanh sẽ chịu mức học phí tăng hơn 7%, còn học phí của ngành Luật và
Dược sẽ tăng hơn 10%. Học phí của tất cả các khóa học khác của Trường
16
NUS dành cho sinh viên chưa tốt nghiệp sẽ tăng 4% (áp dụng đối với sinh
viên người Singapore).
o Tại Trường NTU, học phí của các khóa học kinh doanh tăng gần
18%, còn học phí của các khóa học khác tăng khoảng 8%.
o Tại Trường SMU, những tân sinh viên người Singapore sẽ phải
chịu mức học phí tăng 3%, theo đó học phí hàng năm của các khóa học Luật
sẽ lên tới 10.920 USD, còn mức học phí năm của các khóa học khác là 9.890
USD.
(Theo StraitsTimes)
 Tại Hàn Quốc
So với năm 2009, học phí các trường đại học trên khắp cả nước Hàn
Quốc đã tăng 1,29%, đạt mức trug bình 6,85 triệu won/năm. Cao nhất là
trường đại học Yonsei, đại học Nghệ thuật Chugye với mức học phí trung
bình 8,95 triệu won. Năm 2009, các trường đại học công lập tăng học phí
trung bình 1,39% lên 4,48 triệu won, các trường đại học tư thục tăng trung
bình 1,6% so với năm trước.
(Theo Korea Time)
 Tại Việt Nam
Vào tháng 9-2009, sau khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định điều

gần ba phần tư mức cả năm 2007. Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép
9% và lạm phát năm 2008 tính đến tháng 6 là 22,3%.
18
Tỉ lệ lạm phát giai đoạn 1995 - 2007, tính theo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 hàng năm.
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Chỉ số giá tiêu dùng
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
19
Do sự mất giá của đồng tiền nên 180.000 đồng/tháng học phí đại học
là mức quy định từ hơn 10 năm trước(1998) thì nay chỉ còn tương đương giá
trị 90.000 đồng.
Chẳng hạn, trước đây một ngàn đồng mua được một ký sắt cho sinh
viên cơ khí thực tập, bây giờ với số tiền ấy chỉ mua được 1/3 ký sắt. Cách
đây 10 năm, trong một tuần thực tập của sinh viên mất 14 ngàn đồng tiền vật
tư/sinh viên nhưng hiện nay một tuần thực tập như vậy cũng phải mất 14-17
ngàn đồng và số tiền này chỉ mua được 1/3 vật liệu thực tập so với 10 năm
trước!
Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng đưa ra sự so sánh, chi phí để trở thành
kỹ sư, cử nhân mà người học phải trả hiện nay là 7,2 -9 triệu đồng. Trong
khi, ra trường năm đầu tiên đi làm thu nhập của những người này là 1,2-3
triệu đồng/tháng, khoảng 14,4-36 triệu đồng/năm. Như vậy, chỉ cần 3-8
tháng lương đã bằng toàn bộ kinh phí của quá trình đào tạo.
1.2.2 Do cơ sở vật chất và thiết bị giảng dạy chưa đáp ứng được
nhu cầu
Điều kiện học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên các trường
đại học và các trường dạy nghề ở nước ta còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu
cầu để nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục đại học.
Theo ông Trần Duy Tạo - cục trưởng Cục Cơ sở vật chất và thiết bị
trường học, đồ chơi trẻ em (Bộ Giáo dục & Đào tạo), chỉ xét riêng ở khía
cạnh đất đai, bình quân diện tích đất cho một sinh viên đại học, cao đẳng rất

Theo một cuộc khảo sát thực trạng cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo
tại các trường đại học, cao đẳng công lập được Bộ Giáo dục & Đào tạo tiến
hành trên toàn quốc cho thấy:
Tỉ lệ bình quân diện tích sử dụng học tập của sinh viên chỉ đạt
3,6m2/sinh viên, trong khi quy định chung ở Việt Nam là 6m2/sinh viên và
ở các nước phát triển là 9-15m
2
/sinh viên. Nhiều trường vẫn còn trong tình
trạng đi thuê mướn cơ sở bên ngoài làm nơi học tập.
Số lượng thư viện và phòng thí nghiệm tại các trường đại học ở nước
ta quá ít, không thể đáp ứng được nhu cầu giảng dạy của giảng viên và nhu
cầu nghiên cứu của sinh viên.
Trong tổng số 196 trường đại học, cao đẳng, chỉ có 172 trường có thư
viện truyền thống, chiếm 87%. Như vậy, có tới khoảng 13% số trường
không có thư viện. Không chỉ vậy, mức độ đáp ứng nhu cầu đọc của sinh
viên còn rất thấp. Tính trung bình 21,2 sinh viên mới có 1 chỗ ngồi. Bên
cạnh đó, diện tích sử dụng trung bình của thư viện cho 1 sinh viên rất thấp
(0,18m
2
), so với tiêu chuẩn thiết kế hiện hành là 0,5m
2
. Trong tổng số 196
trường đại học, cao đẳng chỉ có 77 trường, chiếm 39,3 % số trường có thư
viện điện tử, 16.9% thư viện điện tử có kết nối với các thư viện khác.Trung
bình 175 sinh viên mới có một máy tính truy cập, và số bản sách,tài liệu cho
sinh viên rất thấp(khoảng 9 bản/sinh viên).
Số lượng phòng thí nghiệm thiếu rất nhiều so với yêu cầu, diện tích
sử dụng trung bình của phòng thí nghiệm cho 1 sinh viên là rất thấp, khoảng
0,53m
2

trở thành "cực hình" đối với các lớp học gần đó.
1.2.3 Chế độ đãi ngộ giảng viên còn nhiều hạn chế
Theo thông tin được cung cấp từ Vụ Kế hoạch- Tài chính (Bộ Giáo
dục & Đào tạo), từ năm 2006 đến 2012, Chính phủ đã có lộ trình tăng mức
lương tối thiểu. Từ năm 2006 đến tháng 5/2010, mức lương tối thiểu tăng từ
350.000 đồng/tháng lên 730.000 đồng/tháng. Lương tối thiểu tăng, thu nhập
giảng viên hàng tháng đã tăng gấp 2,08 lần.Mức lạm phát từ sau năm 2006
đến năm 2009 là 44,6%. Như vậy, thu nhập thực tế của giảng viên đã tăng
1,44 lần (2,085/1,446). Tuy nhiên hiện nay là lương cán bộ công chức nói
22
chung, cán bộ giảng dạy nói riêng, mặc dù đã được tăng cơ bản nhưng vẫn
chưa thể đảm bảo cuộc sống. Theo tính toán, một phó giáo sư có hệ số lương
cao nhất trong ngạch giảng viên chính, lương căn bản khoảng 2 triệu
đồng/tháng.
Hiện các trường vẫn áp dụng quy định về giờ giảng nghĩa vụ do Bộ
Giáo dục - Đào tạo ban hành từ năm 1978. Theo đó, số giờ giảng nghĩa vụ
của giáo sư: 290 tiết, phó giáo sư: 270, giảng viên: 260, trợ giảng: 200
Hơn số giờ quy định này, các giảng viên sẽ được lĩnh thêm tiền tùy theo giờ
dạy, và tùy theo định mức từng trường( thường ở mức 30-50 ngàn
đồng/giờ/giảng viên).
Trung bình một giảng viên đại học ở Việt Nam hiện tại có giá trị sức
lao động tương đương 30.000 USD mỗi năm, và phải được hưởng thu nhập
trung bình 10.000 USD mỗi năm mới xứng đáng, thay vì không đến 3.000
USD mỗi năm tính cả phụ cấp như hiện nay. Hay một giảng viên học vị tiến
sĩ học từ nước ngoài về, có ngoại ngữ giỏi mức lương khoảng 500 USD
trong khi với học vị này, giảng viên bỏ ra ngoài làm cho các công ty nước
ngoài thì mức lương đến 3.000-4.000 USD.
Trong nhiều năm qua, rất nhiều giảng viên giỏi bỏ ra ngoài làm
việc.Vấn đề đặt ra là nếu không nâng cao chế độ lương cho giảng viên thì
chất lượng đào tạo sẽ hạn chế.Không những không giữ được những giảng

những ngày sắp tới. Điều đó ai cũng có thể nghĩ đến khi hầu hết các sinh
viên đều xuất thân từ những gia đình nghèo, công chức với đồng lương eo
hẹp. Một năm học, một sinh viên phải cần 8,1 triệu đóng học phí. Đó là một
số tiền lớn đối với sinh viên ở tỉnh. Nhiều gia đình ở các tỉnh đang phải lao
đao với học phí hiện nay, nhiều sinh viên đang phải nỗ lực hết mình để vừa
học, vừa làm mong cho sau khi ra trường tìm được một công việc phù hợp.
Nhà nước có thể điều chỉnh linh hoạt mức tăng học phí sao cho phù
hợp với hoàn cảnh đời sống của người dân, khoảng cách giữa người có thu
nhập cao và người có thu nhập thấp. Ví dụ, với những gia đình nghèo khó,
ta cho họ vay vốn học tập từ những ngày đầu bước chân vào cổng trường đại
24
học hay tạo cho họ việc làm bán thời gian Đối với gia đình khá giả, chúng
ta thu học phí theo quy định của Chính phủ - khung giá học phí nên để chính
phủ phê chuẩn là hơn, tránh trường hợp trường A thu học phí cao hơn
trường B.
Hơn nữa, để tránh lãng phí công sức và tiền học của sinh viên, chúng
ta nên đưa vào học phần và thu học phí những bộ môn thiết thực, có những
môn học nên để sinh viên tự nghiên cứu chứ không bắt buộc. Nếu sinh viên
nào không đủ tiền học môn đó, họ có thể tự học và nhà trường tổ chức cho
họ thi chứ không đòi hỏi họ phải học từ A - Z.
Nếu so sánh với mức học phí của các trường dân lập thì mức học phí
chiếm 6% thu nhập của gia đình là hợp lý. Tuy nhiên, điều gây nhiều tranh
cãi là không phải đối tượng học sinh, sinh viên nào cũng dễ dàng đóng
khoản học phí đó, nhất là với học sinh, sinh viên nghèo. Mức học phí mới
phải phù hợp với đa số người dân.Phải phù hợp với những sinh viên nghèo
yên tâm học hành và có một cuộc sống ổn định không gây tâm lý, ảnh
hưởng từ việc tăng học phí. Học đại học, sinh viên còn phải lo hàng trăm
khoản khác ngoài học phí như tiền ăn, tiền ở, tiền đi lại, sinh hoạt phí, mua
sách vở Dù Nhà nước cho vay vốn ưu đãi nhưng với mức chi phí hiện tại
cộng với mức học phí trong đề án thì trung bình 1 sinh viên phải chi từ 1,2–


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status