Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong tình hình yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ như hiện nay,
sự nghiệp của toàn dân tộc nói chung cũng như sự nghiệp phát triển ngành thủy
lợi nói riêng đã và đang tiếp tục lựa chọn các giải pháp và bước đi thích hợp để
phục vụ cho mục tiêu chung.
Dân tộc ta từ xa xưa đã biết lấy thuỷ lợi làm cơ sở cho sự tồn tại và phát
triển. Cùng với các hoạt động như đào kênh rạch, khai phá đất đai, đắp đê, ngăn
lũ lụt, xây dựng đất nước Việt Nam như ngày nay, cùng với sự phát triển chung
của nhân loại về khoa học và công nghệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Việt Nam, được nhà nước đầu tư to lớn, được nhân dân hết lòng ủng hộ đã
giành được những kỳ tích to lớn, không những thuỷ lợi mang lại hiệu quả kinh
tế mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội hết sức quan trọng và to lớn.
Đối với đặc điểm cụ thể của nước ta, trải qua thời kỳ chiến tranh khốc liệt
kéo dai, nông nghiệp vẫn phát triển với trên 80% dân số làm nghề nông, khi nào
mất mùa là khi đó mất trắng, đời sống nhân dân biết bao khổ cực, vất vả. Điều
đó gây ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới sự phát triển chung của cả
dân tộc. Chính vì vậy chúng ta thấy được tầm quan trọng to lớn như thế nào của
sự phát triển ngành thuỷ lợi.
Chính vì lý do đó mà trong chiến tranh cũng như trong giai đoạn hoà
bình, khi đất nước gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về đủ mọi mặt thì công
tác thủy lợi vẫn được Nhà nước ta tập trung đầu tư phát triển cùng với sự ủng
hộ to lớn của nhân dân nên đã giành được những thành tích quan trọng, góp
phần vào những chuyển biến và thành công của sản xuất nông nghiệp, biến đổi
nông thôn, phòng ngừa thiên tai, bảo đảm an toàn cho nhiều khu vực. Do đó mà
thuỷ lợi luôn được nhấn mạnh là “ biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp”
Tuy có nhiều thành tựu song để sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, mang lợi
ích tốt nhất thì ngành thuỷ lợi vẫn gặp phải không biết bao khó khăn. Tính đến
thời điểm này, không chỉ các nước đang phát triển như Việt Nam mà còn biết
bao quốc gia khác kể cả các nước phát triển cũng không thể giải quyết xong vấn
đề thuỷ lợi.
* Phạm vi nghiên cứu
Thu thập thông tin tư liệu, tài liệu tham khảo nghiên cứu và chọn lọc kinh
nghiệm của các nước đi trước với tư duy khoa học, khách quan và thực tiễn để
đề xuất kiến nghị những định hướng nhằm phục vụ cho hoạt động đầu tư phát
triển thuỷ lợi đem lại hiệu quả cao hơn.
Luận văn nghiên cứu tình hình hoạt động trên lĩnh vực thủy lợi và công
tác quản lý tại Việt Nam thời gian qua và xu hướng 5 năm tiếp theo. Những
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan điểm, phương hướng, một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư
phát triển thuỷ lợi của quốc gia, mang lại tác động hữu ích và cao nhất có thể
đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và riêng ngành nông nghiệp nói riêng.
* Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 phần:
CHƯƠNG I:
Lý luận về đầu tư và quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
CHƯƠNG II:
Thực trạng quản lý đầu tư phát triển ngành thủy lợi Việt Nam thời gian
qua
CHƯƠNG III:
Định hướng và giải pháp quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi Việt
Nam giai đoạn 2006-2010.
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
1. Khái niệm đầu tư và bản chất của đầu tư
lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật khác nhau vào quá trình thực hiện đầu tư theo từng
giai đoạn và toàn bộ các công cuộc đầu tư.
Hơn nữa, hoạt động đầu tư đòi hỏi một số vốn rất lớn và để nằm khê
đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá rất lớn phải trả của
hoạt động đầu tư nói chung. Bên cạnh đó, thời gian để tiến hành một công cuộc
đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng mất khá nhiều thời
gian, công sức và rất nhiều rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên, các thành quả của nó lại có giá trị sử dụng lâu dài và có ảnh
hưởng lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội nếu như hoàn thành được
các chỉ tiêu đã đề ra.
2. Phân loại hoạt động đầu tư
2
Hoạt động đầu tư được các nhà quản lý kinh tế phân loại theo nhiều tiêu
thức khác nhau, tuỳ theo mục đích sử dụng, đáp ứng cho từng nhu cầu quản lý
khác nhau.
- Phân chia theo bản chất của các đối tượng đầu tư hoạt động đầu tư: đầu
tư cho các đối tượng vật chất, đầu tư cho các đối tượng tài chính, đầu tư cho
các đối tượng phi vật chất.
- Phân chia theo cơ cấu tái sản xuất: đầu tư theo chiều rộng, đầu tư theo
chiều sâu.
- Phân chia theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư:
đầu tư phát triển, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng…
- Phân chia theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: đầu tư cơ
bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định, đầu tư vận hành các tài sản lưu động
cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành
- Phân theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình
sản xuất xã hội: Đầu tư thương mại, đầu tư sản xuất
- Phân theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng: đầu tư ngắn hạn,
đầu tư dài hạn
tăng tài sản của chính người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao
quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và với khách hàng của
họ.
* Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: Đây là loại hình đầu tư trong
đó người có tiền bỏ ra để tiến hành các loại hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội
khác, là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người
dân trong xã hội. Ví như, bỏ tiền ra để xây dựng nhà cửa, sửa chữa nhà cửa và
các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Nói tựu chung lại, đây là loại hình đầu tư quan trọng nhất hay đầu tư phát triển.
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đầu tư phát triển này là điều kiện chủ yếu để tạo ra công ăn việc làm,
nâng cao mức sống của toàn dân trong xã hội cũng như góp phần cải tạo, phát
triển đất nước. Là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung và
của địa phương ngành, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng.
3. Vai trò của hoạt động đầu tư phát triển
3.1. Đối với nền kinh tế
3.1.1. Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của
nền kinh tế
- Về mặt cầu: Theo như số liệu của Ngân hàng thế giới ( World Bank),
đầu tư chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế ( khoảng từ
24-28%) trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đối với
tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn, với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự
tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng, kéo theo sản lượng cân bằng tăng
theo và dẫn tới giá và các đầu vào của đầu tư cũng tăng theo. Hay muốn tiến
cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả những tác động này tạo
điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, khi giảm đầu tư thì nó cũng có tác động hai mặt đến nền kinh
tế mỗi quốc gia. Một mặt, khi giảm đầu tư sản xuất của các ngành chậm phát
triển do thiếu vốn, giảm lực lượng lao động dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đời
sống của người lao động cũng giảm… Mặt khác, khi giảm đầu tư thì giá các
hàng hoá có liên quan không tăng, thậm chí còn giảm khi đó nó sẽ giảm được
tình trạng lạm phát. Chính vì sự tác động hai mặt rất phức tạp của đầu tư đối
với tình hình kinh tế của quốc gia, nên vai trò, trách nhiệm của các nhà hoạt
động kinh tế vĩ mô là hết sức khó khăn, vất vả. Làm sao để hạn chế tối đa, kiểm
soát trong tầm tay những ảnh hưởng tiêu cực, và phát huy tận lực mọi tiềm
năng, mọi cống hiến mà đầu tư đem lại cho toàn bộ nền kinh tế. Với tất cả nỗ
lực quản lý, mục tiêu cuối cùng là làm sao duy trì sự ổn định và phát triển nền
kinh tế quốc dân ngày một đi lên.
3.1.3 Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của
đất nước.
Với những đặc tính riêng biệt vốn có của mình, bất cứ một quốc gia nào
cũng mong muốn có được những tài nguyên công nghệ mới nhất, hiện đại nhất
phục vụ cho công cuộc kiến thước nước nhà. Tuy nhiên, dù là tự nghiên cứu
triển khai bằng sức lao động của các nhà nghiên cứu khoa học hay đi mua lại
của các nước phát triển đi trước thì đều phải cần có vốn để đầu tư. Do đó, ta
mới thấy được tầm quan trọng của đầu tư là to lớn đến thế nào. Mọi phương án
đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả
thi. Đất nước ta hiện nay đang trong tiến trình phát triển mạnh mẽ, trong công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng phát triển các thành phần kinh tế
thì vai trò của công nghệ lại càng cần thiết và hữu ích hơn bao giờ hết. Công
nghệ về nội dung gồm có 4 yếu tố chính: trang thiết bị , kỹ năng của con người,
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lao động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Ở
Việt Nam, tính bình quân giai đoạn 1995- 1999 thì tỷ lệ vốn đầu tư xã hội so
với GDP đạt 28.2% tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh là 7.5% và hệ số
ICOR là 3.8 lần.
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, thay đổi
theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong quốc gia đó.
3.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
3.2.1. Đầu tư quyết định sự ra đời của các cơ sở.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ nào thì phải có vốn đầu tư để xây dựng nhà xưởng, cơ
sở hạ tầng, trang thiết bị, lắp đặt máy móc, xây dựng cơ bản và rất nhiều các
khoản chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở
vật chất kỹ thuật vừa tạo ra.
Chính vì vậy, có thể nói rằng không thế có cơ sở sản xuất kinh doanh
dịch vụ nào muốn ra đời mà không cần đến vốn đầu tư. Do đó, đầu tư chính là
yếu tố đầu tiên, yếu tồ tiền định cho sự ra đời của bất cứ một cơ sở nào.
3.2.2. Đầu tư quyết định sự tồn tại của cơ sở.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở cần có vốn đầu tư
để tiến hành duy trì, bảo dưỡng hay thay thế các thiết bị máy móc đã hao mòn,
hỏng hóc để chúng thích ứng kịp thời với điều kiện hoạt động mới của sự phát
triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Với các cơ sở vô vị lợi đang tồn tại để duy trì sự hoạt động ngoài tiến
hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các
chi phí thường xuyên. Tất cả các hoạt động này đều là những hoạt động đầu tư.
Chính vì lẽ đó, đầu tư được coi là nhân tố duy trì sự hoạt động của mọi
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
3.2.3. Đầu tư quyết định sự phát triển của các cơ sở
năng suất thí nghiệm, nếu không sẽ chỉ đạt 30-40%. Không những thế, thuỷ
nông cũng cần dùng nước để cải tạo đất thông qua việc thâu chua, rửa mặn…
làm cơ sở để áp dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật nông nghiệp nên
đã làm cho năng suất cây trồng tăng cao.
Toàn thế giới có 14% diện tích canh tác được tưới nước và 8.2% diện
tích được tiêu, những giá trị sản phẩm nông nghiệp thu được trên diện tích này
chiếm 38% tổng giá trị nông nghiệp trên toàn thế giới, ở Việt Nam có khoảng
36.1% diện tích canh tác được tưới và 21.4% được tiêu đã cho số sản phẩm
nông nghiệp thu được trên đó chiếm tới 68% tổng sản phẩm nông nghiệp. Tuy
nhiên, sự phát triển đó là không đồng đều giữa các quốc gia, đặc biệt ở các quốc
gia đang phát triển thuỷ lợi thực sự còn yếu kém và có chăng mới phát triển từ
giữa thế kỷ 20 trở lại đây. Vì vậy, dù dân số thế giới trong hơn 40 năm qua đã
tăng trên 2 lần và mặc dù hầu hết đất đai canh tác đã được loài người sử dụng
song nhìn chung lương thực bình quân đầu người của thế giới vẫn tăng nhanh
3
Giáo trình kinh tế thuỷ nông; Đại học Thuỷ Lợi
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hơn mức tăng dân số. Trong thập kỷ 80, bình quân lương thực đầu người trên
thế giới tăng 5%.
Chính vì vậy, thủy lợi được coi là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất
trong phát triển ngành nông nghiệp. Có tồn tại và phát triển hay không phụ
thuộc rất lớn vào quá trình triển khai đầu tư hoạt động các dự án thủy lợi.
1.2.2. Góp phần phát triển trồng cây công nghiệp và cây ăn quả
Bên cạnh đó, thuỷ lợi còn góp phần tạo điều kiện cho chuyển dịch cây
trồng vật nuôi, phục vụ sản xuất muối và nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài diện tích
lúa ra, thuỷ lợi còn đảm bảo tưới tươi cho hệ thống trồng hoa màu, cây công
nghiệp. Hàng năm các công trình thuỷ lợi đã được khai thác tổng hợp phục vụ
giao thông, thuỷ sản, thuỷ điện, du lịch, góp phần tạo việc làm tại chỗ.
nước ngầm dưới đất. Hầu hết các hộ gia đình còn lại đều
dùng nước tự nhiên hoặc nước chưa được xử lý thành nước sạch. Các công trình
thuỷ lợi cung cấp trên 5 tỷ m khối nước công nghiệp và dân sinh. Các công
trình thuỷ lợi lớn sử dụng tổng hợp nguồn nước như Hoà Bình, Trị An, Thác
Bà, Thác Mơ… tham gia cắt lũ, cấp nước cho hạ du, cấp điện cho lưới điện
quốc gia trên 10 tỷ kwh/năm và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao
thông, thuỷ sản, du lịch…
Bên cạnh việc góp phần cung cấp nước cho ngành nông nghiệp, thuỷ lợi
nói chung hay cụ thể là công tác công trình thuỷ lợi nói riêng đã cung cấp một
lượng nước đầy đủ và đảm bảo yêu cầu cho các ngành công nghiệp và các
ngành khác có liên quan, nhằm phát triển một nền kinh tế xã hội chung ở nước
ta, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước để phục vụ cho nhiều
ngành kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng.
1.2.4. Củng cố hệ thống đê điều phòng chống, giảm nhẹ tác hại của thiên
tai, lũ lụt.
Như bao quốc gia khác đã tiến hành hoạt động và xem xét thì kết luận rút
ra là, nước nào có hệ thống thuỷ lợi đảm bảo thì nền sản xuất nông nghiệp của
nước đó phát triển và nâng cao. Đó chính là nhờ vai trò củng cố hệ thống đê
điều, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, do vậy mới có thể giúp ích cho phát
triển nông nghiệp và đời sống nhân dân nói chung. Thuỷ lợi tiến hành trị thuỷ
như đắp đê, đắp đập, đào sông để chỉnh trị dòng chảy, phòng chống lũ lụt, bão
nhằm khắc phục và giảm nhẹ thiên tai cũng những thiệt hại mà nó đem lại.
Các công trình thuỷ lợi được xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu
hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước và bảo vệ môi trường sinh thái, góp
phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thành quả đạt được trong nông nghiệp và
phát triển nông thôn trong nhiều năm qua là do những chuyển động mạnh mẽ
của đường lối đổi mới của Đảng, đã trở thành động lực thúc đẩy hàng triệu
nông dân hăng hái sản xuất, cùng với những tiến bộ thành công trong các lĩnh
vực khoa học kỹ thuật nông nghiệp, giống, phân bón, bảo vệ thực vật… nhưng
đảm bảo cho những chuyển động đó phải khẳng định yếu tố thuỷ lợi đóng vai
liệu, khoa học công nghệ, trả lương cho người lao động. Khi công trình thuỷ lợi
đi vào hoạt động đến một giai đoạn nào đó thì nó cần phải tu sửa nâng cấp, lúc
đó tiếp tục phải có vốn để phục vụ sự hoạt động của công trình. Việt Nam ta với
khoảng 80% dân số sống và làm việc ở nông thôn nên sản xuất nông nghiệp là
mặt trận hàng đầu trong nền kinh tế. Do đó, hệ thống công trình thuỷ lợi tương
đối phát triển do được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt và đầu tư tương đối
cao so với các ngành khác. Chính vì vai trò vô cùng quan trọng của thuỷ lợi với
sự phát triển kinh tế mà nhu cầu phát triển thuỷ lợi ngày càng trở nên quan
trọng cấp thiết. Phát triển kinh tế nói chung là sự phát triển toàn diện ở tất cả
các ngành, các lĩnh vực. Phát triển vừa phải đảm bảo bền vững về tốc độ ( cả
chiều sâu và chiều rộng) có như vậy mới đảm bảo được phát triển bền vững,
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính vì những yếu tố đó mà nền kinh tế cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng
đảm bảo đủ lớn xứng đáng là nền tảng vững chắc cho mọi ngành. Thuỷ lợi
không nằm ngoài nhiệm vụ đó. Phát triển thuỷ lợi trước hết chính là phát triển
cơ sở hạ tầng cho nông thôn thể hiện ở công tác kiên cố hoá kênh mương, cải
tạo, nâng cấp hệ thống đê điều, góp phần quan trọng phát triển giao thông nông
thôn và nước sạch nông thôn. Phát triển thuỷ lợi cùng với phát triển giao thông,
thuỷ điện, môi trường… tạo thành một sự phát triển đồng bộ.
Chúng ta đều biết rằng, đầu tư chính là chìa khoá trong chiến lược phát
triển của mỗi quốc gia, một nền kinh tế muốn giữ được tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất nhất thiết phải đầu tư thoả đáng. Điều đó càng đúng với các quốc
gia có xuất phát điểm thấp, phát triển kinh tế từ nông nghiệp như nước ta. Do
vậy nhu cầu cấp thiết của đầu tư cho thuỷ lợi là không còn phải bàn cãi. Đây
chính là bước đi chiến lược trong tổng thể các chương trình phát triển kinh tế
xã hội của quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
3. Đặc điểm của đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
- Đầu tư phát triển thuỷ lợi đòi hỏi người và khối lượng vốn lớn. Hàng
lợi của hệ thống công trình thuỷ lợi làm tăng hiệu quả công trình và tăng thêm
sản phẩm cho xã hội.
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi: Vốn do Ngân sách Nhà
nước cấp, vốn vay ngân hàng, vốn đóng góp của nhân dân, vỗn từ quỹ thuỷ
nông của tỉnh, vốn tự có, vốn huy động, vốn tài trợ của các tổ chức trong và
ngoài nước, vốn thu từ việc bán sản phẩm…
4.2. Cơ cấu vốn phân theo ngành và vùng
4.2.1. Cơ cấu vốn theo ngành: Đầu tư vào thuỷ nông và đê điều, đầu tư
vào khoa học và công nghệ, đầu tư vào nguồn nhân lực
4.2.2. Cơ cấu vốn theo vùng: Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu
Long, miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ.
4.3. Đầu tư, quản lý, khai thác vốn theo quá trình đầu tư
4.3.1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Điều tra, khảo sát trước khi tiến hành
xây dựng công trình về các vấn đề sau: điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện khí
hậu địa hình, thổ nhưỡng, địa chất; điều kiện xã hội và dân sinh kinh tê; nguồn
nguyên liệu là nước trong thiên nhiên.
Sau khi điều tra, khảo sát thì tiến hành lập dự án khả thi và thiết kế kỹ
thuật công trình. Khi dự án có thể đi vào sử dụng thiết kế địa hình thì cần phải
xác định sơ bộ tổng mức đầu tư nguồn vốn, chi phí xây dựng, khả năng hoàn
vốn, xác định sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội. Đây là giai đoạn quan
trọng trong quá trình hình thành một dự án đầu tư, trong giai đoạn này công
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc của người quản lý đầu tư các công trình thuỷ lợi là phải: xác định danh
mục các công trình cần được đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, nguồn vốn, địa
phương cần tăng cường đầu tư phát triển thuỷ lợi…thẩm định, và quyết định
duyệt dự án đầu tư phát triển. Trong thời gian qua, Nhà nước đã có sự ưu tiên
bố trí vốn lớn cho các công trình trọng điểm. Đã có sự phối hợp giữa trung
nền kinh tế nước nhà. Đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm của nhân dân
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và nhu cầu xuất khẩu sang các nền kinh tế khác bằng việc hàng năm gia tăng
sản lượng lương thực. Đáp ứng quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thông
theo hướng tiến bộ, trọng điểm, xây dựng và ban hành nhiều văn bản khuyến
khích đầu tư; áp dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học trên thế giới vào thuỷ
lợi và công tác quản lý dự án đầu tư phát triển ngành. Công tác chuẩn bị đầu
tư: trong lĩnh vực khảo sát, thiết kế đã ứng dụng công nghệ mới nhất là các
phần mềm tin học trong tính toán, đánh giá tài nguyên nước, lập bản vẽ, quy
hoạch thiết kế…công tác đầu tư: trong lĩnh vực xây dựng, thi công đã sử dụng
thiết bị mới, công nghệ tiên tiến như sử dụng công nghệ mới chống thấm, công
nghệ chế tạo vật liệu PVC…công tác vận hành kết quả đầu tư: vận dụng phần
mềm vi tính để điều hành hệ thống công trình thủy lợi…
III. QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ LỢI
1. Khái niệm
Quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi là sự tác động liên tục, có tổ
chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bị
đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng
một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện
pháp khác nhằm nâng cao tính hiệu quả của công tác thuỷ lợi trong các ngành
kinh tế quốc dân.
5
Quản lý đầu tư là hoạt động có tính liên ngành, do đó, quản
lý hoạt động đầu tư phát triển của ngành thuỷ lợi là yêu cầu khách quan nhằm
nâng cao hiệu quả đầu tư. Quản lý, theo nghĩa chung, là sự tác động có mục
đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý
đã đề ra.
2. Mục tiêu quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
3. Công cụ quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
6
Để quản lý thành công và mang lại hiệu quả tối ưu nhất đối với các dự án
đầu tư phát triển thuỷ lợi, Nhà nước cần phải tiến hành sử dụng hàng loạt các
công cụ quản lý khác nhau. Một mặt, phát huy tối đa mọi ưu thế sẵn có của
công cụ đó, mặt khác biết kết hợp để tạo sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ nhau của hệ
thống các công cụ trong tiến trình phát triển ngành.
- Các công cụ định hướng cho quản lý dự án: Chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách về đầu tư và quản lý dự án. Trong đó quy hoạch là công cụ
quan trọng nhất, đây là quá trình hoạt động có trọng điểm cho từng thời kỳ, là
dự báo kế hoạch, là chiến lược quyết định các hoạt động đạt tới mục tiêu qua
đó quyết định mục tiêu mới, biện pháp mới. Quy hoạch phát triển ngành thuỷ
lợi là hình thức định hướng phát triển dài hạn. Trong đó xác định rõ quy mô và
giới hạn cho sự phát triển toàn ngành. Nó là biện pháp giải quyết các mâu thuẫn
6
Giáo trình Hiệu quả & quản lý dự án Nhà nước, NXB Khoa học & Kỹ thuật, tr 219
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
về thời gian và không gian, tạo ra sự phát triển một cách hài hoà, hợp lý, có
hiệu quả.
- Các công cụ pháp luật: đây là hệ thống các quy phạm đối với các hoạt
động đầu tư vào dự án. Các quy phạm này được thể hiện trong các văn bản
quản lý nhà nước về đầu tư và quản lý dự án đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và quản lý dự án, bao gồm cả
cơ cấu tổ chức và con người trong các cơ quan này. Đội ngũ cán bộ thực hiện
và quản lý dự án: Thiếu công cụ này, nhà quản lý dự án không thể hoàn thành
được công việc của mình. Nhiều dự án đầu tư, do đội ngũ cán bộ còn yếu kém,
năng lực chuyên môn chưa sâu nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác triển
khai dự án.
chế kích thích này.
- Cơ chế cưỡng chế: Cơ chế cưỡng chế là phương thức tác động trực tiếp
nhất, nhanh nhất và có hiệu quả nhất vì nó sử dụng quyền hạn và chức năng của
các nhà quản lý. Ở đây, các nhà quản lý đầu tư phát triển ngành can thiệp một
cách cưỡng chế đối với các hoạt động trong ngành nhằm mục tiêu đầu tư phát
triển tổng thể thuỷ lợi quốc gia.
5. Tổ chức quản lý
- Tổ chức quản lý theo hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án: Chủ
đầu tư tuyển chọn và trực tiếp ký hợp đồng với một hoặc nhiều tổ chức tư vấn
để thực hiện các công việc của dự án mà ở đây cụ thể là các địa phương được
tham gia triển khai quy hoạch phát triển ngành thuỷ lợi. Tổ chức quản lý theo
hình thức này thường được áp dụng cho các dự án nhỏ, đơn giản tại các địa
phương quy mô đầu tư vừa phải, vốn ít. Sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng với
các nhà thầu, thì nhiệm vụ còn lại gồm giám sát, quản lý quá trình thực hiện
hợp đồng bảo đảm tiến độ vẫn do tổ chức tư vấn đã được lựa chọn đảm nhiệm.
- Tổ chức quản lý theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án: Ở đây, chủ
đầu tư thành lập một bộ phận chuyên trách, đại diện việc thực hiện quản lý dự
án đầu tư phát triển. Chủ nhiệm này phải có năng lực chuyên môn về lĩnh vực
thuỷ lợi tiêu chuẩn cao, có đầy đủ quyền hạn và chịu trách nhiệm về mọi vấn đề
xảy ra xung quanh tiến trình thực hiện triển khai dự án. Yêu cầu rất cao đối với
chủ nhiệm vì người này có trách nhiệm trực tiếp ký kết hợp đồng, giám sát các
chủ thầu, phân bổ nhân lực, thời gian hoàn thành dự án…Trong tình hình hiện
nay, những dự án lớn, quan trọng được đầu tư ở các khu vực trọng yếu của cả
nước như Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long…hầu như đều áp
dụng hình thức tổ chức quản lý này vì những thiết thực mà nó đem lại không
những cho chủ đầu tư, chủ nhiệm mà cả bên thụ hưởng hiệu suất thành quả của
dự án đầu tư.
- Tổ chức quản lý theo hình thức chìa khoá trao tay: Hình thức này hoàn
toàn phù hợp với các dự án thuỷ lợi quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản ví dụ như
dự án phát triển hệ thống cống tiêu huyện; dự án đầu tư nâng cấp dòng chảy
quyết định hành động hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự
án. Với vai trò và tính chất quan trọng của mình, nó đòi hỏi một đội ngũ chuyên
gia về lĩnh vực thuỷ lợi phải thực sự giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao. Qua đó,
mới có thể nắm bắt các nhu cầu thực tế từ các ngành, các cấp trong vấn đề thuỷ
lợi hoá, đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến những ý tưởng thành
thực tế dự án cụ thể phục vụ cho sản xuất và phát triển xã hội. Chính vì vậy mà
các nội dung quản lý mà Nhà nước phải tiến hành trong giai đoạn này là:
7
Giáo trình Hiệu quả &quản lý dự án Nhà nước, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr 241
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Lựa chọn và quyết định chủ đầu tư cho từng dự án cụ thể, từng dự án
phát triển vùng, miền chuyên biệt. Vì vai trò của chủ đầu tư trong các dự án
thuỷ lợi này là cực kỳ quan trọng, do đó, nhằm nâng cao khả năng tác động của
các chủ thể quản lý tới các đặc tính cuối cùng sản phẩm dự án là cao nhất Nhà
nước cần thực sự quan tâm lựa chọn hợp lý và chính xác.
+ Hướng dẫn chủ đầu tư thực hiện công tác nghiên cứu và lập dự án đầu
tư.
+ Thẩm định dự án và ra quyết định đầu tư. Trên cơ sở thẩm định dự án,
Nhà nước đưa ra quyết định đầu tư. Quyết định đầu tư được người có thẩm
quyền quyết định đầu tư thực hiện. Nội dung quyết định đầu tư bao gồm: xác
định chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án thuỷ lợi cụ thể; xác định địa điểm,
diện tích sử dụng công trình; xác định công suất thiết kế; xác định tổng mức
đầu tư và nguồn vốn huy động; xác định phương thức thực hiện dự án; thời gian
thực hiện và các mốc tiến độ chính của toàn dự án.
- Giai đoạn 2: Triển khai thực hiện dự án
Triển khai thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân
tích kỹ lưỡng. Trong giai đoạn này các nguồn lực được sử dụng, các chi phí
phát sinh, đối tượng dự án từng bước được hình thành. Yêu cầu đặt ra trong giai
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN THUỶ LỢI VIỆT NAM THỜI
GIAN QUA
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THUỶ LỢI
1. Tiềm năng của ngành
Việt Nam hiện có một nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên nước có ý
nghĩa quyết định trong sự phát triển bền vững của đất nước. Lịch sử hình thành
và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự hình thành của hệ thống đê
điều chống lũ hàng ngàn năm với hệ thống kênh rạch để mở mang vùng đất
mới, phát huy mặt lợi của nước, hạn chế mặt hại của nước để tồn tại và phát
triển. Cũng chính nhờ lợi thế đó, một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ
nghìn năm ở Đồng bằng sông Hồng và di cư vào đồng bằng sông Cửu Long 300
năm trước đây.
Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, thuỷ lợi mới thực
sự trở thành một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu
tư, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước và
nâng cao đời sống nhân dân.
- Ngành thuỷ lợi được sự quan tâm đúng đắn của Đảng và Nhà nước
- Điều kiện kinh tế, kỹ thuật của nước ta ngày càng phát triển khá, có khả
năng đầu tư và giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp trong lĩnh
vực nghiên cứu, thiết kế, xây dựng các công trình thuỷ lợi
- Sự phát triển hợp tác quốc tế ngày càng mạnh, điển hình là sự hợp tác
của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á… trong việc hỗ trợ đầu
tư cho thuỷ lợi của nước ta.
SV: Nguyễn Mai Dương Lớp Quản lý Kinh tế 44B
25