Giao l?u văn hóa Việt Namnhật bản Trong hoạt động truyền thông vov - Pdf 44

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI MẠNH HÙNG

Giao l­u v¨n hãa ViÖt Nam-nhËt b¶n
Trong ho¹t ®éng truyÒn th«ng vov

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI MẠNH HÙNG

Giao l­u v¨n hãa ViÖt Nam-nhËt b¶n
Trong ho¹t ®éng truyÒn th«ng vov

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số:

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. TẠ NGỌC TẤN
2. PGS.TS. NGUYỄN TOÀN THẮNG

HÀ NỘI - 2017



2.4.

Khái lược lịch sử giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản
Chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam và Nhật Bản
Khái quát về VOV
Hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản với sự tham
gia của VOV
Chương 3: THỰC TRẠNG GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT
BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VOV

7
27

44
44
50
55
68
80

3.1. Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động
80
chương trình phát thanh tiếng Nhật
3.2. Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động của
website tiếng Nhật VOV
93
3.3. Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động của
Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Nhật Bản
97
3.4. Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua động hợp tác

157


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ

28

Bảng 3.1: Chương trình AM (phát trong và ngoài nước)

83

Bảng 3.2: Chương trình FM (phát trong nước)

84

Bảng 3.3: Thống kê tin liên quan tới văn hóa Nhật Bản phát tên Hệ
VOV1 (2016)

90

Bảng 3.4: Tin bài năm 2016 của Cơ quan thường trú VOV tại
Tokyo, Nhật Bản
Bảng 3.5: Bảng biểu chương trình tiếng Việt Đài NKH

99
102

Bảng 3.6: Thính giả Nhật Bản nghe các chuyên mục giới thiệu Văn


: Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí

VOV4

: Hệ Phát thanh dân tộc

VOV5

: Hệ Phát thanh đối ngoại Quốc gia

VOVTV

: Hệ Phát thanh có hình


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay,
giao lưu văn hóa có vai trò quan trọng đặc biệt trong thực hiện chính sách đối
ngoại của mỗi quốc gia.
Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 210/QĐ-TTg
phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm
nhìn 2030. Chiến lược này đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp chủ
yếu để phát triển văn hóa đối ngoại nhằm khai thông quan hệ với các nước trong
khu vực, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đã được thiết lập đi vào chiều sâu,
tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, góp phần quảng bá hình ảnh đất
nước, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè thế giới.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ

Nhật Bản biết đến Việt Nam, yêu Việt Nam qua "Tiếng nói Việt Nam". Tuy
nhiên cho đến nay, vấn đề giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam-Nhật
Bản trong hoạt động truyền thông VOV vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu
như một hệ thống chuyên biệt nhìn dưới góc độ văn hóa học.
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS), nhận thấy việc nghiên
cứu đề tài "Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền
thông VOV" là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả của giao lưu văn hóa giữa hai nước, khẳng định vai trò ngày
càng gia tăng của VOV trong việc đẩy mạnh giao lưu văn hóa trong bối cảnh
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa, luận
án đánh giá thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động
hoạt động truyền thông của VOV, từ đó dự báo xu hướng và khuyến nghị một
số giải pháp góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản vì mục
tiêu hòa bình, thịnh vượng của cả hai quốc gia.


3
2.2. Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ khái niệm giao lưu văn hóa, truyền thông và vai trò của
truyền thông trong giao lưu văn hóa.
- Tổng quan về giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản từ quá
khứ đến hiện tại.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản
thông qua hoạt động truyền thông của VOV trong những năm qua.
- Dự báo xu hướng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản và khuyến
nghị các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản
trong hoạt động truyền thông của VOV.

sát cả hai nội dung này.
Quá trình giao lưu văn hóa là quá trình giải quyết mối quan hệ giữa cái
"nội sinh" và cái "ngoại sinh" để tạo nên các sản phẩm, các giá trị văn hóa
mới. Mối quan hệ giữa hai nhân tố này phải thông qua kênh "trung gian" như
văn học, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, kiến trúc hội họa, phát thanh, truyền
hình và các phương tiện truyền thông mới như internet, mạng xã hội v.v…
4. Lý thuyết nghiên cứu
Luận án sử dụng lý thuyết giao lưu văn hóa.
Thuật ngữ giao lưu văn hóa do nhà nhân học Mỹ J. W. Powell, sử dụng
từ năm 1889 khi đề cập đến sự biến đổi của lối sống và lối suy nghĩ của người
di dân khi tiếp xúc với xã hội Mỹ. Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1930,
nhận thức về hiện tượng gặp gỡ giữa các nền văn hóa mới có hệ thống và có
định nghĩa về mặt khái niệm.
Năm 1936, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ lập ra một ủy ban
để tổ chức nghiên cứu các sự kiện giao lưu văn hóa, trong đó có Robert
Redfield, Ralph Linton và Medville Herskovits. Trong Bản ghi nhớ nghiên
cứu về giao lưu văn hóa [1936] có nêu ra định nghĩa: Giao lưu văn hóa là toàn
thể các hiện tượng do việc tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm cá thể
có văn hóa khác nhau, dẫn đến những biến đổi trong các mô thức văn hóa ban
đầu của một hoặc của hai nhóm này.


5
Quá trình giao lưu văn hóa gồm có: các phương thức "chọn lọc" các
yếu tố vay mượn hoặc "phản ứng" lại sự vay mượn; các hình thức hội nhập
các yếu tố này vào mô thức văn hóa gốc; các cơ chế tâm lý tạo điều kiện dễ
dàng hay không cho việc hội nhập văn hóa; và cuối cùng là các hậu quả chủ
yếu của giao lưu văn hóa, bao gồm các phản ứng tiêu cực, đôi lúc có thể xảy
ra với các phong trào "chống lại giao lưu văn hóa ".
Tóm lại, giao lưu văn hóa là một hiện tượng động, một quá trình đang

hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình truyền thông
của VOV và của Đài Việt ngữ-NHK Nhật Bản trong quan hệ giao lưu văn hóa
Nhật-Việt và Việt-Nhật. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần tăng cường
quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và góp phần mở rộng hội
nhập quốc tế của Việt Nam.
- Luận án có thể làm dùng làm tài liệu tham khảo cho những học viên,
sinh viên… chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, truyền thông, cán bộ, biên
tập viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên của ngành phát thanh và truyền hình
Việt Nam và Nhật Bản quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động giao lưu
văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, lịch sử VOV, vai trò của VOV trong hoạt động
tăng cường hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận án chia thành 4 chương, 14 tiết.


7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt NamNhật Bản
Ở cấp độ giao lưu văn hóa,có rất nhiều cuốn sách, đề tài luận án Tiến sĩ,
công trình nghiên cứu… bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài đề cập.
Ở Việt Nam với những tác phẩm của các tác giả Trần Quốc Vượng, Trần
Ngọc Thêm, Phạm Duy Đức, Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo, Phan Ngọc… đã
đưa ra nhiều định nghĩa giao lưu văn hóa từ các cách tiếp cận khác nhau.
Ở góc độ giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, có rất nhiều tác phẩm của

Châu Trinh dịch GNKNDC giai đoạn nào?…); Mối quan hệ giữa Phan Bội
Châu và Asaba Sakirato - một ân nhân người Nhật của cụ Phan; Đóng góp
vào việc tìm hiểu thêm về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện; Tư liệu về
việc sang Nhật của Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng) những năm 1931-1933;
Văn hóa và con người Việt Nam dưới cặp mắt của Shiba Ryotaro (19231996); Vài ý kiến về vấn đề cận đại hóa ở Việt Nam và kinh nghiệm của Nhật
Bản qua quá trình Minh Trị duy tân; về nền mậu dịch Nhật-Việt với những
luân lý kinh doanh, vấn đề giáo dục… vẫn còn rất thời sự.
Qua phần 1 cuốn sách, tác giả đã kỳ công vẽ lại bức tranh với bối cảnh
chính là những tương quan thú vị và có ý nghĩa giữa hai nước Việt Nam và
Nhật Bản trước thời cận đại; mối quan hệ cổ truyền của Việt Nam và Nhật
Bản với Trung Quốc trong trật tự thế giới Đông Á cũ và sự đảo lộn giữa thế
kỷ XIX khi làn sóng Tây xâm đánh vào bờ các nước ven Thái Bình Dương.
Trong các tài liệu viết về Việt Nam thế kỷ XVII, ngoài khối lượng lớn
tài liệu phương Tây mà nổi bật là hai tác giả C. Borri (Xứ Đàng Trong năm
1621) và A. de Rhodes (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài) thì không thể
không nhắc đến 2 tập tài liệu do người Trung Quốc ghi chép: Hải ngoại kỷ


10
sự (Thích Đại Sán) và An Nam cung dịch kỷ sự (Chu Thuấn Thủy). An Nam
cung dịch kỷ sự có thể nói là một sử liệu độc đáo cung cấp cho chúng ta nhiều
thông tin bổ ích về tình hình ở đất Thuận-Quảng nói riêng cũng như Đàng
Trong nói chung vào thế kỷ XVII.
Qua bản dịch và phần chú thích công phu An Nam cung dịch kỷ sự của
dịch giả Vĩnh Sính, một lần nữa những điểm tương đồng và dị biệt trong cách
nhìn, cũng như trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đối với (Nho
học) Trung Quốc được khắc họa. Từ đó thấy được đặc trưng văn hóa của mỗi
nước trong quá trình giao lưu.
Với tác phẩm "大使が見た世界一親日な国・ベトナムの素顔" tạm
dịch là: "Vẻ đẹp tự nhiên của Việt Nam-đất nước thân thiết với Nhật Bản qua

hội. Như vậy, truyền thông sẽ tham gia vào thúc đẩy xã hội, thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Những công trình nghiên cứu riêng biệt về truyền thông rất nhiều. Tuy
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyền thông (cụ thể là loại hình
báo nói) trong giao lưu văn hóa (cụ thể là giao lưu văn hóa Việt-Nhật) cũng
chưa có những bài viết, chuyên đề, sách… đề cập tới. Có thể nói đây là công
trình đầu tiên đề cập tới vai trò của báo nói đối với sự phát triển giao lưu văn
hóa Việt Nam-Nhật Bản. Điều này là một thử thách lớn đối với nghiên cứu
sinh. Song cũng là động lực để nghiên cứu sinh có tư duy độc lập, sáng tạo về
một vấn đề nghiên cứu mới.
Với lý do đó, tác giả luận án ngoài việc nghiên cứu tài liệu riêng biệt
liên quan tới truyền thông, giao lưu văn hóa, lịch sử quan hệ Việt-Nhật đã
nghiên cứu một số cuốn sách xuất bản năm 2011-2013 có tính gợi mở.
Ngay từ những thập niên 70 của thế kỷ XX, vai trò của văn hóa và
truyền thông đối với hoạt động ngoại giao đã được nhiều nước quan tâm
nghiên cứu. Giáo sư Joseph. Nye, nguyên Hiệu trưởng trường John F.
Kennedy thuộc Đại học Harvard - Mỹ, đã đưa ra thuật ngữ "sức mạnh mềm".
Theo ông, "sức mạnh mềm" bắt nguồn từ sự hấp dẫn về văn hóa, từ tư tưởng
chính trị đến chính sách ngoại giao đến mức lôi cuốn nước khác đi theo mình.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đi kèm với sự bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều


13
nhà phân tích hàng đầu về quan hệ quốc tế cho rằng "sức mạnh mềm" đang tỏ
ra chiếm ưu thế hơn so với "sức mạnh cứng".
Một cách tiếp cận tương đối đầy đủ và hệ thống về lĩnh vực văn hóa
truyền thông trước hết được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của
các học giả nước ngoài, nhất là trong giai đoạn những thập kỷ cuối của thế kỷ
20. Trong số những tác giả đáng chú ý, trước hết nghiên cứu sinh muốn nhắc
đến Raymond Williams (1921-1988), là một nhà văn, nhà nghiên cứu phê

hình: tính đa nguyên, tính hợp pháp và thị trường tự do ở Mỹ, Tây Ðức, Pháp
và Vương quốc Liên hiệp Anh" đã chỉ rõ những tác động mạnh mẽ của hệ
thống truyền thông (truyền hình) đối với toàn bộ đời sống văn hóa xã hội ở
Tây Âu trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20 (27). Liên tiếp trong những thập kỷ
80 và 90 của thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu tập trung về những vấn
đề rất đa dạng của văn hóa truyền thông.
Tác giả Ikegami Akira trong cuốn sách 心をつなぐニュース (tạm dịch
là Thông tin kết nối trái tim) xuất bản tháng 6 năm 2011 tại Tokyo là cảm xúc
của tác giả khi những bài báo, phóng sự truyền hình, phát thanh… đưa tin về
thảm họa sóng thần kép tại Nhật Bản tháng ba năm 2011. Từ những hình ảnh
truyền thông đưa tin, toàn thế giới hướng về Nhật Bản, kinh ngạc vì sức mạnh
tâm hồn của người Nhật Bản. Sức mạnh của truyền thông là sức mạnh của sự
gắn kết, trao truyền giá trị văn hóa của Nhật Bản đến với thế giới.
Chúng ta có thể kể một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như:
R.Collins, Truyền thông, văn hóa và xã hội, London, Sage Publications, 1986;
Jostenim Gripsrud, Nghề làm báo và văn hóa đại chúng, London, Sage
Publications, 1992; và Hiểu biết về văn hóa truyền thông xuất bản năm
2002…là những tài liệu đáng tham khảo cho luận án.
So với hoạt động nghiên cứu ngoài nước, hoạt động nghiên cứu trong
nước liên quan đến đề tài phong phú hơn rất nhiều. Những tư liệu này chắc
chắn đây là những tiền đề để phát triển đề tài luận án một cách toàn diện dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Gần đây, các nhà nghiên cứu trong nước đều thừa nhận rằng, ngoại giao


16
văn hóa là sự tồn tại của các dòng thông tin và tư tưởng xuyên quốc gia, và do
đó đều gắn lĩnh vực này với truyền thông quốc tế. Tư duy đó đã mở ra hướng
nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong ngoại
giao văn hóa. Vậy để có thể văn hóa trở thành sức mạnh mềm thì chúng ta sẽ

hội nhập (Phạm Thị Mỵ); Văn hoá truyền thông trong môi trường Internet Vài điều qua kinh nghiệm của hoạt động VOV online (Nguyễn Thuý Hoa…).
Nhiều tham luận đã cho rằng: văn hoá và báo chí - truyền thông có mối
quan hệ khăng khít, biện chứng. Báo chí là bộ phận của văn hoá nhưng báo
chí cũng sáng tạo ra và phổ biến văn hoá, lưu truyền văn hoá…
Trong tham luận "Báo chí - truyền bá và sáng tạo văn hóa", Vũ Duy
Thông cho thấy khả năng truyền bá và sáng tạo văn hóa của báo chí. Tham
luận nhấn mạnh: Trước đòi hỏi của xã hội và nhu cầu của bạn đọc, bên cạnh
nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu chính trị, báo chí đã trở thành một phương tiện
truyền bá văn hóa ngày càng quan trọng, không thể thiếu được và tự thân nó
đã trở thành một lĩnh vực văn hóa. Ngày nay, với sự ra đời của truyền hình,
internet, có thể nói, không có lĩnh vực nào của văn hóa, báo chí không thể
truyền tải, quảng bá được. Cùng với khả năng truyền tải và do tác động của
khả năng truyền tải, đến lượt mình, báo chí đã trở thành chủ thể sáng tạo
những giá trị mới của văn hóa và là một bộ phận của văn hóa. Chưa nói đến
tác dụng kích thích sáng tạo văn hóa của báo chí đối với các chủ thể khác, chỉ
tính đến vai trò sáng tạo văn hóa của báo chí cũng có thể thấy, báo chí đóng
vai trò là cơ quan đưa ra sáng kiến, tổ chức, hỗ trợ các hoạt động, các sân chơi
văn hóa. Báo chí đã trở thành trường học công cộng để nâng cao trình độ dân
trí, trình độ văn hóa của công chúng, đồng thời định hướng dư luận.
Trong tham luận "Một số vấn đề truyền thông đại chúng, văn hóa đại
chúng và văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên kỹ thuật số", Đặng Thị Thu
Hương khẳng định: Văn hóa truyền thông cần được xây dựng trên nền tảng
giá trị và tính liên tục lịch sử, khơi dậy các khả năng sáng tạo của công chúng
và phục vụ công chúng... Không thể đánh đồng văn hóa đại chúng với khuynh


18
hướng thương mại hóa, tầm thường hóa và dung tục hóa nền văn hóa. Do vậy,
truyền thông đại chúng phải đóng vai trò then chốt trong việc phát triển ngành
công nghiệp văn hóa Việt Nam, nâng cao tính đề kháng cho nền văn hóa dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status