TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
MÔN : VĂN HÓA KIẾN TRÚC VIỆT NAM
TIỂU LUẬN
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TRONG
KIẾN TRÚC
TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
GV HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN BÍCH HOÀN
HỌ & TÊN: Phan Nguyễn Kim Khanh
MSSV: 0741021
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10, năm 2010
1
I/ Khái quát và phân loại kiến trúc truyền thống Việt Nam:
......................................................................................................2
1.1/ Khái quát: ..............................................................................................................................................2
c/ Kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng:...........................................................................................................5
d/ Kiến trúc dân gian ( nhà ở và công trình công cộng ):..........................................................................5
e/ Kiến trúc vườn cảnh:............................................................................................................................5
II/ Kiến trúc truyền thống Việt Nam và những giá trị văn
hoá phi vật thể:...........................................................................5
2.1/ Giá trị văn hoá qua nhận thức:..............................................................................................................5
a/ Nhận thức về âm – dương, ngũ hành trong kiến trúc truyền thống:.......................................................5
b/ Nhận thức của con người về kiến trúc truyền thống Việt Nam:..........................................................9
2.2/ Giá trị văn hoá tổ chức đời sống cá nhân trong kiến trúc truyền thống:............................................10
a/ Tín ngưỡng:.........................................................................................................................................10
b/ Phong tục:...........................................................................................................................................13
2.3/ Giá trị văn hoá trong tổ chức đời sống tập thể trong kiến trúc truyền thống:...................................16
a/ Kiến trúc truyền thống Việt Nam trong tổ chức quốc gia:.................................................................16
b/ Kiến trúc truyền thống Việt Nam trong tổ chức nông thôn:..............................................................17
có những bước tiến rất dài trong nghệ thuật kiến trúc từ thời sơ khai tiền sử khi
kiến trúc mới vừa manh nha dưới hình thức hang động . Khi con người tiến bộ và
phát triển hơn thì kéo theo đó là sự phát triển về mọi mặt đời sống, xã hội, kinh tế
và có thể nhận thấy rõ nhất trong kiến trúc, những công trình kiến trúc ngày càng
mang tính ứng dụng và thẫm mỹ cao hơn, phản ánh nền kinh tế- xã hội; mang
3
những giá trị lịch sử, văn hoá; tư duy, nhận thức của con người trong từng giai
đoạn lịch sử.
Hầu hết các công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam đều được xây
dựng vào thời phong kiến - chủ yếu là trước thế kỉ XIX nên phát triển tương đối
chậm dưới sự kiềm hãm của chế độ phong kiến tuy nhiên vẫn có nhiều công trình
kiến trúc thề hiện được tinh hoa, truyền thống văn hoá và sắc thái dân tộc đậm nét.
Mỗi triều đại phong kiến hầu hết đều có những công trình kiến trúc với những đặc
trưng riêng đặc sắc nhưng vẫn mang những nét chung truyền thống của kiến trúc
Việt Nam thể hiện tài năng, sự sáng tạo, khéo léo của ông cha ta trong việc tìm tòi,
chọn lọc những tinh hoa dân tộc để tạo ra những công trình kiến trúc độc đáo cho
đất nước.
1.2/ Phân loại:
Kiến trúc truyền thống Việt Nam có thể được chia thành 5 loại hình:
a/ Kiến trúc quân sự - quốc phòng: ( Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long, Huế…
) là các công trình kiến trúc được tạo dựng với mục đích làm căn cứ quân sự và còn
là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước. Các công trình kiến trúc
quan sự quốc phòng phản ánh trình độ kĩ thuật quân sự, chiến lược qua các thời kì
lịch sử, thể hiện cơ cấu xã hội, hoàn cảnh kinh tế và tài năng kĩ thuật của ông cha
ta.
b/ Kiến trúc cung điện – dinh thự: là các công trình kiến trúc được xây
dựng để phục vụ cho tầng lớp vua chúa, quan lại, quý tộc nên thường có quy mô
lớn, tập trung nhiều vật tư và sức người cũng như nhiều người thợ tài năng của cả
nước hay địa phương; phản ánh trình độ kinh tế, xã hội, tay nghề kĩ thuật, thẫm mỹ
của đất nước trong hoàn cảnh lịch sử đương thời.
• Triết lí âm dương chi phối rất lớn đến kiến trúc truyền thống
Việt Nam ở vị trí, hướng xây dựng, cách liên kết theo lối ghép mộng âm -
dương các bộ phận trong kiến trúc, vật liệu xây dựng với ngói âm dương;
các biểu tượng âm dương có truyền thống lâu đời như biểu tượng vuông –
6
tròn nói đến sự hoàn thiện( chùa Một Cột đặt trên cột tròn và cột tròn lại đặt
trên cái hồ vuông…)…
Chùa Một Cột
• Tư duy số lẻ cũng là nét đặc thù trong kiến trúc của người nông
nghiệp phương Nam nói chung và người Việt Nam nói riêng. Với quan niệm
số lẻ là số phát triển, phù hợp với văn hoá trọng động của nền văn hoá nông
nghiệp lúa nước nên người Việt Nam đặc biệt rất thích số lẻ. Vì thế trong
kiến trúc của người Việt Nam luôn phản ánh tư duy này, thể hiện rất rõ trong
các công trình kiến trúc như cổng tam quan ( Ngọ Môn Huế, cổng đền An
Dương Vương…), số gian trong các kiến trúc thường là số lẻ như ba gian,
năm gian, bảy gian…, bậc tam cấp với số bậc lẻ, các kiến trúc lớn thường
được xây dựng theo lối tam toà; các kiến trúc thành luỹ ( Cổ Loa, Huế…)
đều có ba vòng; số lượng các đòn dông trong các công trình kiến trúc cũng
là lẻ…
7
Cổng Ngọ Môn Huế
• Thuật phong thủy hình thành ở nền văn hóa nông nghiệp Nam-á
nên khởi đầu hoàn toàn được xây dựng trên căn bản âm dương Ngũ hành.
"Phong" và "thủy" là hai yếu tố quan trọng nhất, tạo thành vi khí hậu cho
một công trình kiến trúc.Nhà xứ nóng rất cần có gió và nước. phong là gió,
động hơn thuộc dương; không có gió thì hỏng, nhưng gió nhiều quá cũng
không tốt; gió có thể bị núi đồi, mô đất hay cây to lái di, do vậy nhà phong
thủy cần nắm vững hướng gió, biết sử dụng các bình phong để lái gió theo ý
mình. Thuỷ là nước. tĩnh hơn. thuộc âm; mặt nước trước nhà sẽ tạo nên sự
cân bằng sinh thái trong khuôn khổ của một vi khí hậu; dòng nước ngoằn
là đốt gốc ngón tay út của người chủ nhà thể hiện lối tư duy biện chứng
của nền văn hoá gốc nông nghiệp là linh hoạt bởi việc đo đạc có thể thực
9