Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Ai cũng biết rằng: Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống
con người, nó hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết lý.
Từ xa xưa , trong dân gian đã tổng kết thành câu tục ngữ: “Học ăn, học nói, học
gói, học mở” chủ yếu để nhắc nhở những người mới bước vào đời thì khâu đầu tiên
là “học ăn”. Ở các nước khác trên thế giới, ngoài quan niệm dân gian thì các nhà
chuyên môn, những người yêu thích,am hiểu về ẩm thực… đều bàn luận, viết những
tài liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống. Có ý kiến cho rằng: “Chính tạo
hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với
các món ăn ngon.” Đó thực sự là một niềm vui ,niềm hạnh phúc lớn lao của con
người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người. Mỗi dân tộc trong quá trình
lịch sử hình thành và phát triển của mình đều có phong cách ẩm thực với những đặc
thù nhất định, nên đã có người nhận xét: “Có thể đoán biết được phần chính yếu của
số phận một dân tộc thông qua việc quan sát họ ăn như thế nào.”.Đối với cá nhân
riêng lẻ cũng vậy, “Hãy cho tôi biết anh thường xuyên thích ăn món gì, tôi sẽ có thêm
cứ luận để nói rõ cho anh biết anh là người thế nào.” Đã có một vài nhận xét thú vị
được rút ra như sau :
-Ăn chính là nghệ thuật : “Chúng ta dựa vào trí tuệ mẫn tiệp ,tình cảm đẹp đẽ để
xây dựng cuộc sống có chất lượng cao ,ngày một hoàn thiện .Vì vậy cần phải biết
chọn thức ăn ngon – đó là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống”. Rõ ràng , biết
chọn thức ăn ngon, phù hợp với mình là cả một nghệ thuật
-Ăn là biểu hiện của văn hóa ứng xử: “Ăn thô tục là không biết ăn.”
Cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là rất ý nhị. Có quan niệm còn cho
rằng khi ăn cũng phải giữ phong độ uy vũ, mạnh mẽ, chân tình nhưng tránh thô lậu.
“Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” là muốn nhấn mạnh ý người nam ăn phải
thực tại Việt Nam,từ đó đề ra một vài giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này
tại Việt Nam trong thời gian tới
2. Mục tiêu,nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
-Chỉ ra tiềm năng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam
-Đánh giá mức độ phát triển của loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam hiện nay
-Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt
Nam trong thời gian tới
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
3
Chuyên đề tốt nghiệp
3.Đối tượng nghiên cứu
Loại hình du lịch ẩm thực
4.Phạm vi nghiên cứu
Trên lãnh thổ Việt Nam
5.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung
Phương pháp này đóng vai trò nền tảng ,là căn cứ để chọn lựa ,sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể khác
Phương pháp nghiên cứu tài liệu :
-Lược thuật tài liệu
-Thu thập ,phân tích ,tổng hợp tài liệu
6.Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ,nội dung của đề tài bao gồm :
Chương I : Cơ sở lí luận phát triển loại hình du lịch ẩm thực
Chương II : Thực trạng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam
hiện nay
Chương III : Giải pháp và kiến nghị với các chủ thể quản lí và hoạt động
sang trọng hay những chai rượu vang hảo hạng.Tuy nhiên ,đó không phải là tất
cả.Đôi khi du lịch ẩm thực chỉ là thưởng thức những chiếc bánh ngọt tại cửa hàng địa
phương hay khám phá ra một địa chỉ ẩm thực thú vị trên một con phố không tên mà
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp
chỉ người dân địa phương biết đến…Chính những trải nghiệm độc đáo và thú vị là
điều hấp dẫn ,thu hút du khách đến với loại hình du lịch này
Du lịch ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực .Nó bao gồm các
trường học nấu ăn ,sách dạy nấu ăn,các chương trình ẩm thực trên tryền hình,các cửa
hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch ẩm thực…
Như vậy ,du lịch ẩm thực qua các tour du lịch là một tập hợp con của du lịch ẩm
thực nói chung.Theo nghĩa này,du lịch ẩm thực là một loại hình du lịch với mục đích
tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến.Trong phạm vi chuyên đề thực tập ,em cũng
chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch ẩm thực như một loại hình
du lịch.
1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch tương tự
Du lịch ẩm thực với du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao nhận thức cho cá
nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử ,kiến trúc,hội họa ,chế độ xã hội,cuộc sống của
người dân cùng các phong tục tập quán của điểm đến…
Như vậy,du lịch văn hóa là khái niệm bao trùm cả du lịch ẩm thực và các loại
hình du lịch khác nữa dựa vào văn hóa,nó đề cập đến việc nâng cao nhận thức cá nhân
trong mọi lĩnh vực.Trong khi đó,du lịch ẩm thực chỉ là nâng cao nhận thức cá nhân
trong lĩnh vực ẩm thưc,tập quán ăn uống của người dân.Du lịch ẩm thực là tập hợp con
của du lịch văn hóa nên cũng giống như du lịch văn hóa,du lịch ẩm thực cũng phải dựa
trên những gì là giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến để phát triển
Du lịch ẩm thực với agritourism
Agritourism,theo nghĩa rộng nhất là bất kì hoạt động du lịch nào dựa trên nông
nghiệp hoặc khiến cho du khách tới thăm một trang trại hay trai chăn gia súc
Du lịch ẩm thực còn phản ánh trong đó những giá trị lịch sử của mỗi vùng
miền.Huế xưa kia từng là đất kinh kì,nơi mà lối sống của tầng lớp quý tộc và thượng
lưu trí thức luôn được đề cao nên thực đơn và cách chế biến món ăn Huế luôn mang
tính công phu, tỉ mỉ. Tư tưởng đó sau này dù khi không còn ở vị trí trung tâm của
đất nước nhưng người Huế vẫn cứ muốn tìm những cái cầu kỳ trong ăn uống để
khẳng định sắc thái của mình. Đó chính là cái không hướng đến sự ăn nhiều,ăn no,
ăn thoải mái mà hướng đến triết lý ăn để thưởng thức cái đẹp của người Huế. Đó
cũng chính là cái khung cảnh ăn uống mang đậm yếu tố thiên nhiên , hòa quyện
,gắn bó với con người. Chính đặc trưng rõ nét đó đã tạo ra một "lối nấu Huế" để
phân biệt với những nơi khác. Lối nấu mà một nhà nghiên cứu về văn hóa Huế đã
viết: “Trong bữa ăn, người Huế ưa ăn các món ăn đa dạng, hỗn hợp, dù mỗi món
chỉ dùng một ít. Trong chế biến cũng như trong ăn uống, người Huế thích phải tinh
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp
vi, tỉ mỉ, cầu kỳ, thể hiện một ý thức mỹ cảm rõ rệt, con người ăn uống không chỉ để
thỏa mãn nhu cầu sinh tồn mà còn để thưởng thức cái mà mình sáng tạo ra”
Du lịch ẩm thực hướng tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của điểm đến
Du lịch ẩm thực phát triển dựa trên nền văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc của
điểm đến,cái mà du khách tìm đến là bản sắc riêng của nền văn hóa đó.Điều đó có
nghĩa là sự lai tạp giữa nền văn hóa ẩm thực bản địa với văn hóa ẩm thực của những
vùng miền khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của du lịch ẩm thực,làm giảm tính hấp dẫn của
điểm đến với du khách.Vì vậy ,phát triển du lịch ẩm thực đặt ra yêu cầu phải bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến.
Du lịch ẩm thực mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương
Du lịch ẩm thực không có nghĩa là chỉ dẫn du khách đi ăn tại các nhà hàng sang
trọng ,mà đó có thể chỉ là tìm đến những quán ăn bình dân ,thưởng thức những món
ăn ở đó ,để du khách có thể hòa mình với lối sống của người dân bản địa.Du khách
cũng có thể tới tham quan các làng nghề ẩm thực truyền thống của địa phương ,tham
vũ của khách sạn Sofitel…Đối với du lịch ẩm thực thì đó là sự trải nghiệm mùi vị của
những món ăn ,trải nghiệm không gian của nhà hàng mang đậm phong cách của vùng
miền hay trải nghiệm được tự tay chế biến món ăn và thưởng thức chúng theo cách
của người bản địa….Những trải nghiệm đó càng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng
du khách khi nền văn hóa ẩm thực của điểm đến càng độc đáo ,khác lại so với những
vùng miền khác
1.3. Điều kiện phát triển loại hình du lịch ẩm thực
1.3.1.Điều kiện chung phát triển du lịch
1.3.1.1. Thời gian rỗi
Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời
gian. Do vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con
người tham gia vảo hoạt động du lịch.Thời gian rỗi của nhân dân ở từng nước được
quy định trong Bộ luật lao động hoặc theo hợp đồng lao động được kí kết.Hiện nay
các ấn phẩm kinh tế, quỹ thời gian trong năm được chia làm hai phần: thời gian làm
việc và thời gian ngoài giờ làm việc.
Hiện nay, trên thế giới mức thời gian lao động tối đa trong ngày ít khi vượt qua 8
giờ .( chỉ còn một số ít các nước có thời gian làm việc trong ngày quá 8 tiếng ). Điều
này có nghĩa là thời gian ngoài giờ làm việc (16 tiếng) chiếm phần lớn hơn trong quỹ
thời gian một ngày.
Nhờ các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại, ngày nay năng suất lao động
ngày càng cao, kinh tế ngày một phát triển và mức sống của con người ngày một cảI
thiện. Xu hướng chung bây giờ làm giảm bớt thời gian làm việc và tăng số thời gian
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp
rỗi. Đã có nhiều nước trên thế giới chuyển chế độ làm việc sang còn năm ngày một
tuần. Như vậy, thời gian ngoài giờ làm việc ngày càng chiếm ưu thế trong quỹ thời
gian và đang trở thành vấn đề quan trọng đặc biệt của xã hội.Vì lẽ đó ,nhiều chuyên
gia kinh tế lao động đã cố gắng đưa ra cách phân chia đúng nhất cho quỹ thời gian
ngoài giờ làm việc.Sự phân chia đó như sau :
mình. Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý. Các cơ
sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho việc kéo
dài thời gian rỗi của nhân dân lao động. Các cơ sở ấy đóng vai trò trung tâm trong
việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu cầu thể chất
và tinh thần cho toàn dân.
1.3.1.2. Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao.
Mức sống về vật chất cao
Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có
thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời
gian mà còn phảicó đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó. Khi đi du lịch
và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu ding của nhiều
loại dịch vụ, hàng hoá. Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có phương
tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung
thành có khả năng thanh toán,vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản tiền cho
các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm các khoản khác
như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan…và xu hướng của con người khi đi
du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn. Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có
nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Và mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng
thì sự tiêu dùng của du lịch tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu của tiêu
dùng du lịch. Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó. Vì nguyên nhân đó, những nước có
nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một mặt,có điều kiện sản
xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước và mặt
khác có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài, nhưng vì kinh tế lạc hậu, chậm phát
triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều khách du lịch ra
nước ngoài được.
Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao
Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch
của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và
mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen đi
khi phảiđổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch..
1.3.1.4. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ
lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó. Theo ý kiến của một số chuyên
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
12
Chuyên đề tốt nghiệp
gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất nước có thể
phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết
cho du lịch. Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hoá để trang bị cho cơ
sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo phục vu khách du lịch thì việc cung ứng vật tư hàng
hóa sẽ hết sức khó khăn.
Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và
đánh giá chủ yếu theo các hướng:
Thực trạng và xu hướng phát triển của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản
phẩm quốc nội tình theo đầu người.
Tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng
và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất. Sự phát triển của ngành công nghiệp nhẹ,
nông nghiệp và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng
đỗi với việc phát triển du lịch. Vì ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực,
thực phẩm.
Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương
Tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số. Đặc biệt
đối với ngành du lịch là ngành cần có hàm lượng lao động sống lớn thì yếu tố này
đặc biệt quan trọng trong giúp cho hoạt động du lịch phát triển
1.3.1.5. Tình hình chính trị hoà bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an
toàn đối với du khách.
Tình hình chính trị, hoà bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc dù điều kiện tài nguyên phong phú
cũng không thể phát triển du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc thiên tai
hỏi .Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm thực,nó tạo
ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác.Sự độc đáo có thể thể hiện ở cách
thức chế biến món ăn,mùi vị đặc trưng ,lợi ích của món ăn hay ở kiến trúc nhà
hàng,quán ăn…Tuy nhiên,khi đưa vào để phát triển thành một sản phẩm du lịch thì
tình độc đáo cũng chỉ là một khái niệm tương đối vì trong du lịch,các sản phẩm du
lịch rất dễ bị bắt chước.Vì vậy,luôn tìm tòi ,sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc
riêng là yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển du lịch nói chung,du lịch ẩm
thực nói riêng
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ thống cơ sở vật chất,đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất,chế biến thực
phẩm,kinh doanh ăn uống phát triển
Đối với loại hình du lịch ẩm thực ,sự phát triển của hệ thống cơ sở vật chất
trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống,sản xuất chế biến thực phẩm là điều kiện hết sức
cần thiết.Tại đây ,du khách không chỉ được thưởng thức các món ăn ,đồ uống mà còn
được ngắm nhìn khung cảnh,bài trí của nhà hàng,quán ăn.Những nhà hàng ,quán ăn
mang đậm phong cách truyền thống cuả địa phương,dân tộc thì càng có sức thu hút
cao đối với du khách.Từ việc thiết kế, trang trí nhà hàng đến các trang thiết bị phục
vụ như bàn ghế,bát,đĩa,chén,nậm rượu hay ấm tích đựng nước chè,các tranh ảnh,các
dụng cụ sản xuất như cối xay giã gạo,dần,sàng,nong,nia đến các dụng cụ săn bắt thú
và thủy hải sản như nơm,vó ,lưới…Bên cạnh đó,các bản nhạc dân tộc và các dụng cụ
chiếu sáng được sử dụng như đèn dầu,nến…cũng góp phần tác động mạnh mẽ đến
các giác quan của du khách,tạo nên ấn tượng mạnh mẽ và hấp dẫn để du khách có thể
nhớ mãi rồi kể lại cho bạn bè,người thân.Đây là hình thức tuyên truyền,quảng cáo rất
hữu hiệu.Không những thế ,du khách còn có thể tham quan các quy trình sản xuất,chế
biến thực phẩm tại các làng nghề ẩm thực hay xưởng sản xuất như làm bún,bánh
tráng,giò chả…Du khách cũng có thể được học cách nấu ăn tại nhà hàng hay lớp dạy
nấu ăn.Còn gì thú vị hơn khi được tự tay mình thực hiện một công đoạn sản xuất tại
làng nghề hay tự nấu một món ăn và thưởng thức thành quả tự mình làm ra.
định điểm đến cho chuyến hành trình du lịch của mình.Theo lý thuyết Maslow về nhu
cầu của con người,nhu cầu an ninh,an toàn cho tính mạng được xếp ở vị trí thứ hai
trong thang bậc các nhu cầu,chỉ sau nhu cầu sinh lí.Với loại hình du lịch ẩm thực,du
khách dường như luôn tiếp xúc với thức ăn,đồ uống của điểm đến.Nếu không được
đảm bảo về vệ sinh thì đó chính là nguồn khiến mầm bệnh xâm nhập trực tiếp và
nhanh nhất vào cơ thể con người.Do đó ,cần chú trọng đặc biệt đến vấn đề vệ sinh,cả
ở khu vực bên trong các nhà hàng,quán ăn,các làng nghề và môi trường xung
quanh..Đối với bên trong,phải đảm bảo sự sạch sẽ ở mức cao nhất các trang thiết
bị,dụng cụ nấu nướng,ăn uống.Nguồn nguyên liệu phải rõ ràng xuất xứ,đảm bảo các
yêu cầu về vệ sinh…Đối với bên ngoài,cần thực hiện tốt các điều kiện vệ sinh môi
trường và các biện pháp xử lí chất thải…
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Có hệ thống chính sách quản lí và nguyên tắc đảm bảo sự phát triển lâu dài
hoạt động kinh doanh du lịch ẩm thực của các chủ thể quản lí nhà nước,các đơn
vị kinh doanh du lịch cùng các bộ,ban ngành liên quan
Hệ thống chính sách quản lí của các cơ quan chủ quản là cần thiết để có thể
định hướng cho sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch ẩm thực nói riêng trên
địa bàn.Vai trò của chính quyền địa phương và cơ quan quản lí thể hiện qua việc:
-Đảm bảo chính quyền địa phương cùng các cấp quản lí nắm vững khái niệm
,đặc điểm,ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với địa phươnng
-Thực hiện công tác nghiên cứu đặc trưng ẩm thực của vùng ,tư vấn cho cấp
quản lí cao hơn và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ẩm thực trên địa bàn quản lí
-Xây dựng kế hoạch phát triển hoạt động du lịch ẩm thực trên địa bàn
-Thiết kế ,thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư
Giữa các cá nhân tổ chức như chính quyền địa phương,cơ quan quản lí,nhà kinh
doanh ,dân cư địa phương cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc trên cơ sở trao đổi
,bàn bạc thống nhất cách thức thực hiện,kiểm soát.Hệ thống này là cơ sở đánh giá
chất lượng,mức độ phù hợp của những tổ chức ,cá nhân tham gia kinh doanh du lịch
ngành khác phát triển như giao thông vận tải,tài chính,bưu điện…Chính du lịch giúp
nền kinh tế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.Với du lịch ẩm thực thì
khách du lịch cũng không thể ăn uống liên tục cả ngày.Theo điều tra của hiệp hội nhà
hàng quốc gia Hoa Kì,hiệp hội công nghiệp du lịch của Mỹ và ủy ban du lịch
Canada,khách du lịch,người quan tâm đến rượu vang/ẩm thực cũng cho thấy một ái
lực đối với các viện bảo tàng,nhà hát,mua sắm,âm nhạc,liên hoan phim và giải trí
ngoài trời.Thực tế là chi tiêu cho các hoạt động này nhiều khi còn lớn hơn cả tổng
hóa đơn bữa tối.Như vậy ,không chỉ ngành kinh doanh ăn uống tăng doanh thu mà
doanh thu của các doanh nghiệp khác cũng tăng lên đáng kể nhờ phát triển hoạt động
kinh doanh du lịch ẩm thực.
Mặt khác,du lịch ẩm thực dựa trên nguồn tài nguyên chính là ẩm thực,nguồn tài
nguyên hấp dẫn có sẵn quanh năm.Phát triển loại hình du lịch ẩm thực nhờ vậy sẽ kéo
dài thời gian lưu trú của khách ,góp phần khắc phục tính mùa vụ trong du lịch
Du lịch ẩm thực giúp tăng sản lượng tiêu thụ và gia tăng giá trị cho các sản
phẩm nông nghiệp,chăn nuôi,thủy hải sản,công nghiệp chế biến thực phẩm
Ta thử làm phép tính đơn giản sau:Giá của một kg cà chua bán trên thị trường
chưa được 1USD nhưng khi đem bán vào nhà hàng ,khách sạn làm món salat trộn sẽ
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
18
Chuyên đề tốt nghiệp
tăng gấp chục lần.Báo chí cũng đã viết rằng:1kg cà phê hạt là 1USD nhưng chế biến
1kg cà phê để bán cho người tiêu dùng cho vào cốc cà phê thì giá sẽ lên tới
600USD.Như vậy ,có thể thấy dịch vụ phục vụ ăn uống sẽ làm tăng giá trị các sản
phẩm nông nghiệp,chăn nuôi,thủy hải sản,công nghiệp chế biến thực phẩm lên gấp
nhiều lần,theo kết quả nghiên cứu là trên 300%,và thu được lợi nhuận từ 40-50%
trong tổng doanh thu
Du lịch ẩm thực thúc đẩy sự phát triển của du lịch quốc tế,tạo nên sự phát
triển đường lối giao thông quốc tế,góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ
kinh tế quốc tế
Du lịch ẩm thực thu hút những đối tượng khách từ những vùng miền ,quốc gia
doanh du lịch ẩm thực cũng như cộng đồng dân cư địa phương sẽ là những đối tượng
gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa đó
Phát triển du lịch ẩm thực góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam trong mắt
bạn bè quốc tế
Ẩm thực Việt Nam qua việc lựa chọn nguyên liệu,chế biến cho đến việc trình
bày,trang trí,cách thức thưởng thức món ăn …sẽ thể hiện được bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam.Vì vậy,quảng bá,giới thiệu về ẩm thực Việt Nam là phương pháp hữu
hiệu để quảng bá hình ảnh dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Bên cạnh đó,thông qua du lịch,Việt Nam còn có thể giới thiệu về các thành tựu
của mình về các mặt kinh tế,chính trị ,văn hóa,xã hội,về con người và phong tục tập
quán Việt Nam.
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
20
Chuyên đề tốt nghiệp
TỔNG KẾT CHƯƠNG I
Với mục tiêu làm rõ hệ thống cơ sở lí luận,làm cơ sở cho việc phân tích thực
trạng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ẩm thực tại một vùng, một địa
phương,chương này đã thể hiện các nội dung sau:
1.Chương I liệt kê các khái niệm làm công cụ phục vụ việc nghiên cứu.Đó là các
khái niệm :Văn hóa ẩm thực,du lịch ẩm thực,du lịch văn hóa,Agritourism.Những khái
niệm này không chỉ để hiểu rõ hơn các khái niệm trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn
phân tích để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
2.Bên cạnh đó,chương I còn nêu ra và phân tích 4 đặc trưng của loại hình du lịch
ẩm thực cùng 7 điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch ẩm thực trên một địa bàn
3. Ngoài ra,chương I đã nêu lên ý nghĩa của việc phát triển du lịch ẩm thực đối
với một vùng,miền,địa phương
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
21
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
Chuyên đề tốt nghiệp
trình bày,trang trí món ăn ra sao…Tất cả những điều đó sẽ mang đến cho du khách cả
một sự khám phá khi tìm hiểu về văn hóa ẩm thực Việt Nam.
Ẩm thực Việt Nam còn được biết đến như một loại “ẩm thực sức khỏe”,theo
đánh giá của nhiều chuyên gia về ẩm thực.Đặc trưng của ẩm thực Việt Nam là lấy tự
nhiên làm gốc,nguyên vật liệu chủ yếu từ lúa gạo,rau,củ,quả,cá tươi sống…không ăn
nhiều thịt như các nước phương tây.Món ăn Việt cũng ít xào,chiên, quay nhiều dầu
mỡ như Trung Hoa,ít cay hơn món Thái.
Món ăn Việt còn là tổng hòa của nhiều chất như thịt,cá,tôm,cua,đặc biệt sử
dụng rất nhiều rau xanh và hoa quả.Chính vì vậy,món ăn Việt ngon,bổ nhưng không
nặng bụng,tốt cho sức khỏe.Bên cạnh đó,trong cách chế biến món ăn của người Việt
còn sử dụng nhiều loại gia vị từ thiên nhiên như gừng ,nghệ,hành,tỏi,sả và các loại
rau thơm…Nhiều gia vị có tác dụng như vị thuốc. “Chính gia vi và hương vị từ rau
thiên nhiên đã tạo nên nét riêng trong món ăn của Việt Nam và đây là sự đặc sắc
hiếm có”-Bếp trưởng khách sạn Sofitel Metropole,ông Didier Corlou,nhận xét.
Không những thế,trong cách chế biến cũng như cách ăn của người Việt cũng rất
khoa học.Các nguyên liệu,gia vị được phối trộn một cách hòa hợp,cân bằng âm
dương như món ăn dễ gây lạnh bụng buộc phải có gia vị cay nóng đi kèm. Các món
ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không
ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe.Đó là những kinh nghiệm dân gian đã
được đúc kết và lưu truyền qua nhiều thế hệ .Ví dụ như gà luộc thì phải có lá chanh,
chấm muối tiêu chanh. Lòng lợn phải chấm mắm tôm. Món ăn mát như ốc, thịt vịt, cá
trê… thì phải ăn kèm với gia vị nóng như gừng, ớt. Món thịt chó nóng vì riềng, mẻ,
mắm tôm thì phải có lá mơ...Chính cách tổng hòa nhiều chất,nhiều vị đó cũng là cách
hóa giải những độc tố,có tác dụng như những vị thuốc đông y.Nhiều món ăn Việt
Nam có thể chữa những căn bệnh thời đại như béo phì,gút,bệnh tiểu đường,mỡ trong
máu…Nói chung,ẩm thực Việt Nam đáp ứng được sự mong đợi của những ai mong
muốn có một sự cân bằng giữa đồ ăn và sức khỏe thân thể.
Nghệ thuật ẩm thực Việt Nam còn hấp dẫn trong cách thức ăn uống.Không chỉ
ăn khoa học,người Việt còn “ăn toàn diện”và “ăn dân chủ.”. “Ăn toàn diện” là ăn
Vòng, bánh cuốn Thanh Trì … và các gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rau húng
Láng
Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó , thể hiện qua hương vị
riêng biệt, nhiều món ăn cay hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu sắc được phối
trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm. Các tỉnh thành miền Trung như
Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua và các loại mắm ruốc. Đặc
biệt, do ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực hoàng gia, ẩm thực Huế không chỉ rất cay,
nhiều màu sắc mà còn chú trọng vào số lượng các món ăn, tuy mỗi món chỉ được bày
Nguyễn Thị Ngà Du lịch 48
24
Chuyên đề tốt nghiệp
một ít lên trên đĩa nhỏ
Ẩm thực miền Nam, nơi chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc,
Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thường gia thêm đường và hay sử dụng sữa dừa
(nước cốt và nước dão của dừa). Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vô số loại mắm
khô như mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía … Ẩm thực miền Nam cũng dùng
nhiều đồ hản sản nước mặn và nước lợ hơn miền Bắc (các loại cá, tôm, cua, ốc biển),
và rất đặc biệt với những món ăn dân dã, đặc thù của một thời đi mở cõi, hiện nay đã
trở thành những đặc sản của vùng Nam Bộ như : chuột đồng khìa nước dừa, dơi quạ
hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, đuông đất hoặc đuông chà là,
vọp chong, cá lóc nướng trui …
Ẩm thực các dân tộc thiểu số :Với 54 dân tộc sống trên nhiều vùng địa lý đa
dạng khắp toàn quốc, ẩm thực của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
đều có những bản sắc riêng biệt. Rất nhiều món trong số đó ít được biết đến tại các
dân tộc khác, như các món thịt lợn sống trộn phèo non của các dân tộc Tây Nguyên.
Tuy nhiên, cũng có nhiều món ăn đã trở thành đặc sản trên đất nước Việt Nam và
được nhiều người biết đến, như mắm bò hóc miền Nam, bánh cuốn trứng (Cao Bằng,
Lạng Sơn), bánh coóng phù (dân tộc Tày), lợn sữa và vịt quay móc mật, khau nhục
Lạng Sơn, phở chua, cháo nhộng ong, phở cốn sủi, thắng cố, các món xôi nếp nương
của người Thái, thịt chua Thanh Sơn Phú Thọ …