Tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN MẬU THỊNH

Tæ CHøC Vµ HO¹T §éNG CñA ñY BAN NH¢N D¢N CÊP X·
- Tõ THùC TIÔN HUYÖN §¤NG ANH, THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN MẬU THỊNH

Tæ CHøC Vµ HO¹T §éNG CñA ñY BAN NH¢N D¢N CÊP X·
- Tõ THùC TIÔN HUYÖN §¤NG ANH, THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

1.2.

Quan niệm về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
cấp xã ................................................................................................. 13

1.2.1. Quan niệm về tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã .......................... 13
1.2.2. Hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ............................................. 19
1.3.

Những yếu tố cải cách ảnh hƣởng đến tổ chức và hoạt động
của Ủy ban nhân dân cấp xã ........................................................... 24

1.4.

Tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính cấp cơ sở ở
một số quốc gia trên thế giới và những giá trị tham khảo cho
Việt Nam............................................................................................ 26

1.4.1. Phân loại mô hình ............................................................................... 26
1.4.2. Mô hình chính quyền địa phƣơng ở một số quốc gia trên thế giới ........... 29
1.4.3. Một số khía cạnh tham khảo .............................................................. 37
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH .............. 40


2.1.

Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện Đông Anh ............................................................................... 40

3.2.2. Giải pháp đổi mới hoạt động đối với Ủy ban nhân dân xã ................ 63
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 71


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

HĐND:

Hội đồng nhân dân

TAND:

Tòa án nhân dân

UBND:

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Sau hơn 30 năm đổi mới, Hà Nội đã có những bƣớc phát triển vững
chắc, tăng trƣởng kinh tế liên tục đạt ở mức cao, chuyển dịch cơ cấu đƣợc
thúc đẩy theo hƣớng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp; quản lý đô thị có
nhiều tiến bộ, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội từng bƣớc đƣợc hiện đại hoá,
đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân Thủ đô không ngừng đƣợc cải
thiện. Việc Việt Nam trở thành thành viên WTO và ngày càng hội nhập sâu
với thế giới đã mở ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển và cả những thách

nghệ trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Đối với Đông Anh thì đây còn là
cơ hội để có thể rút ngắn thời gian phát triển để đạt trình độ phát triển cao của
một huyện ngoại thành, từng bƣớc theo kịp với các quận nội thành.
Tuy nhiên, để biến những tiềm năng, thuận lợi trên trở thành thành quả
thực tế thì Đông Anh cần có một chiến lƣợc phát triển tối ƣu nhất. Từ phƣơng
diện quản lý thì các cấp chính quyền tại đây cũng cần tối ƣu hóa năng lực
quản trị, đòi hỏi ngay từ cấp xã (cấp cơ sở). Theo lộ trình phát triển, Đông
Anh phấn đấu trở thành một quận nội thành năm 2023, đòi hỏi tổ chức, hoạt
động và năng lực quản trị ở cấp cơ sở sẽ phải thay đổi về chất, tính chất quản
lý nông thôn phải đƣợc thay thế bằng quản lý đô thị.
Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên chọn để tài “Tổ chức và hoạt động
của Ủy ban nhân dân cấp xã tại huyện Đông Anh – TP. Hà Nội” là đề tài luận
văn thạc sĩ luật học chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp xã; đánh giá đƣợc thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân
dân cấp xã Huyện Đông Anh và đƣa ra đƣợc những giải pháp hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã tại đây.

2


2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, xây dựng tiêu chí đánh giá về tổ chức và hoạt động của ủy
ban nhân dân cấp xã.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân
dân cấp xã huyện Đông Anh, tìm ra nguyên nhân của thực trạng tại đây.
Thứ ba, kiến nghị một số giải pháp về tổ chức và hoạt động của ủy ban

thuyết này vào Việt Nam. Từ đó chủ trƣơng tìm một mô hình phù hợp đối với
hiện trạng Việt Nam.
Đi vào các vấn đề cụ thể trong tổ chức chính quyền địa phƣơng ở Việt
Nam có các nghiên cứu nhƣ: “Những điểm mới trong các quy định về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương
trong Hiến pháp năm 2013” do Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tƣ
pháp thực hiện; “Tổ chức chính quyền địa phương - kinh nghiệm quốc tế và
thực tiễn Việt Nam” của Đinh Xuân Thảo; “Một số vấn đề tổ chức và hoạt
động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay” do Bùi Tiến Quý
chủ biên; “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam” do
Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên. Những nghiên cứu này tập trung vào các quy
định hiện hành của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, trong đó chỉ ra những
điểm mới trong tổ chức chính quyền địa phƣơng. Tuy nhiên, các vấn đề nêu
lên chƣa thật toàn diện hoặc chƣa giải quyết thấu đáo thiết chế Ủy ban nhân
dân cấp xã mà đề tài này hƣớng đến.
Từ góc độ luật học so sánh, có một dung lƣợng khá lớn các nghiên cứu
hiện hành của tác giả Việt Nam hoặc đã đƣợc chuyển ngữ sang tiếng Việt về
chính quyền địa phƣơng của một số quốc gia nhƣ: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật
Bản, Cộng hòa Pháp. Cụ thể: “Mô hình tổ chức chính quyền địa phương một
số nước trên thế giới” của Lê Thị Hoài Ân và Đinh Ngọc Thắng; “Chính

4


quyền địa phương tự quản trong pháp luật một số quốc gia” của Nguyễn
Hoàng Anh; “Đáp ứng sự thay đổi của nhà nước và chính quyền địa phương”
(Response to change by State and Local Government –Contemporary in the
Laboratories of Democracy, from State and Local Government: Adapting to
Change) của Ellis Katz. Về Trung Quốc có: “Tìm hiểu hệ thống chính trị của
Trung Quốc” (Understanding China’s Political System) của Susan V.

vào thiết chế Ủy ban, thiết chế trung tâm điều phối mọi hoạt động, sinh hoạt
của địa phƣơng. Có thể kể đến: Đề tài luận văn “Nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức cấp xã huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội” của Trần Kim Thanh;
“Báo cáo Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh đến năm
2020, định hướng đến năm 2030”; “Quan điểm và căn cứ xây dựng quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh”. Do đó, học viên chủ
trƣơng chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã tại
huyện Đông Anh – TP. Hà Nội” nhằm giải quyết các khía cạnh lý luận và thực
tiễn của vấn đề này.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan
điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về cải cách bộ, máy nhà nƣớc, cải cách hành
chính, để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận án, các phƣơng pháp cụ thể
đƣợc sử dụng: phƣơng pháp phân tích, diễn giải, tổng hợp, so sánh pháp luật.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn đóng góp một số khía cạnh tri thức thực tiễn sau:
Thứ nhất, tìm ra nguyên nhân của thực trạng với tổ chức và hoạt động
của Ủy ban nhân dân cấp xã tại huyện Đông Anh.
Thứ hai, kiến nghị một số giải pháp về tổ chức và hoạt động của ủy ban
nhân dân cấp xã tại Đông Anh theo những định hƣớng đƣợc huyện Đông Anh
và TP. Hà Nội đặt ra.

6


7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức, hoạt động của Ủy ban
nhân dân
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp
xã trên địa bàn huyện Đông Anh

là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp
hành Trung ƣơng Đảng (khoá VIII) ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phần III,

8


mục 4 về tiếp tục cải cách hành chính nhà nƣớc đối với chính quyền địa
phƣơng chỉ đề cập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân các cấp và hƣớng cải cách tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này
mà không đề cập tới các cơ quan nhà nƣớc khác trong hệ thống các cơ quan
nhà nƣớc ở địa phƣơng.
Xét về mặt tổ chức, chính quyền địa phƣơng nên là tự quản. Cấp dƣới
có quyền của cấp dƣới, cấp trên có quyền của cấp trên và đƣợc ghi nhận
trong luật. Cấp dƣới chỉ thực hiện quyết định của cấp trên trong những
trƣờng hợp pháp luật quy định và kèm theo các điều kiện về cung cấp nguồn
kinh phí và chịu sự chỉ đạo. Chính quyền, dù là ở cấp trên hay ở cấp dƣới,
thì đều phải theo luật mà thực hiện. Đó có thể xem là sự thể hiện trực tiếp
nhất quan niệm nhà nƣớc pháp quyền trong tổ chức bộ máy nhà nƣớc. Tất
nhiên, đây cũng là một trong những cơ sở cho việc xác định về sự tự chịu
trách nhiệm của các cấp chính quyền nhà nƣớc ở địa phƣơng cũng nhƣ của
nhân dân địa phƣơng. Tổ chức chính quyền nhƣ vậy, có thể sẽ dẫn tới việc
nhân dân địa phƣơng tổ chức chính quyền địa phƣơng theo ý chí của họ, từ
đó, có các cách tổ chức chính quyền địa phƣơng đa dạng. Những giới hạn
của việc lựa chọn cách tổ chức chính quyền địa phƣơng nào sẽ đƣợc ghi
nhận trong luật, nhƣng quan trọng hơn là tổ chức chính quyền địa phƣơng có
khả năng phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và quản lý bảo đảm
việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng.
1.1.2. Vị trí, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã
Ở Việt Nam, thời kỳ từ Hiến pháp năm 1946 đến năm 1960, cơ quan
hành chính có tên gọi là Ủy ban hành chính, có lúc lấy tên là Ủy ban hành

chức chính trị - xã hội của nhân dân. Ba là, quản lý tất cả các khâu diễn ra
trong hoạt động quản lý từ: xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Năng lực và hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã tác động

10


trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho khối
đại đoàn kết toàn dân đƣợc thiết lập ngay từ cơ sở. Vai trò của Ủy ban nhân
dân cấp xã trong quản lý xã hội đƣợc thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, Ủy ban nhân dân cấp xã bảo đảm sự hài hòa lợi ích nhà nƣớc
và lợi ích của ngƣời dân tại cơ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có vai trò trong
việc quản lý và tổ chức mọi mặt hoạt động đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa
- xã hội ở cơ sở. Vì vậy, mọi vấn đề của xã đều liên quan chặt chẽ với nhau và
cần đƣợc giải quyết trên cơ sở hài hòa các lợi ích nhà nƣớc với nhân dân và
giữa nhân dân với nhau. Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tổ chức, chăm lo
đời sống và bảo vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phƣơng, đáp ứng và
giải quyết các nhu cầu phát sinh từ cơ sở.
Thứ hai, Ủy ban nhân dân cấp xã là nơi tuyên truyền chủ trƣơng, đƣờng
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc. Để chủ trƣơng, đƣờng
lối, chính sách đi vào cuộc sống, Ủy ban nhân dân cấp xã phải tổ chức tuyên
truyền, giáo dục, thuyết phục để ngƣời dân hiểu rõ đƣờng lối, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc. Tuyên truyền về tất cả các lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, văn hóa - xã hội.
Thứ ba, Ủy ban nhân dân cấp xã là nơi đề xuất, thực thi các biện pháp
tổ chức thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc ở xã. Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp trực tiếp tiếp thu, lắng nghe
các ý kiến, đề xuất, kiến nghị của nhân dân, kịp thời phản ánh nguyện vọng,
mong muốn, nhu cầu đó lên các cơ quan cấp trên, đồng thời, đề xuất những

họ, mỗi thôn làng, sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống
và điều kiện của mỗi địa phƣơng, mỗi tộc ngƣời.
1.1.3. Chức năng của Ủy ban nhân dân cấp xã
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hai cơ quan có vị trí và tính
chất khác nhau, nhƣng đƣợc tổ chức và hoạt động trên cùng một địa bàn, một
cấp hành chính. Hội đồng nhân dân giữ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nƣớc

12


ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã có sự gắn kết chặt chẽ trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã. Điều 112 Hiến pháp
năm 2013 quy định chính quyền địa phƣơng có hai nhiệm vụ đƣợc phân biệt
với nhau đó là: tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa
phƣơng và quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định, chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Vì vậy, chức năng của Ủy ban
nhân dân xã trong chính quyền xã đồng thời thể hiện trên hai phƣơng diện:
Một là, chức năng công quyền: thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc
trong việc thực thi chính sách, pháp luật của tổ chức và công dân trong phát
triển các lĩnh vực trên địa bàn xã, bảo đảm cho sự phát triển xã hội đúng mục
tiêu, đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc và
phù hợp với điều kiện cụ thể của xã. Ủy ban nhân dân xã trực tiếp xây dựng, cụ
thể hóa và tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển xã hội
của xã trên từng ngành, từng lĩnh vực; đồng thời, quyết định, hƣớng dẫn, tổ
chức thực hiện và giám sát, thanh tra, kiểm tra tình hình, kết quả việc thực thi
chiến lƣợc, kế hoạch, chính sách, pháp luật về phát triển xã hội trên địa bàn xã.
Hai là, chức năng dịch vụ công: Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tổ
chức thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể trong phát triển xã hội trên địa bàn xã.
Ủy ban nhân dân cấp xã vừa đóng vai trò là trung tâm điều phối các hoạt động

phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá và lịch sử. Đó là các cộng đồng
dân cƣ bền vững, nhà nƣớc buộc phải thừa nhận trong quá trình thực hiện sự
cai trị - quản lý của mình trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Ví dụ nhƣ các
commun của các nƣớc phƣơng Tây; xã, làng ở các nƣớc phƣơng Đông (Việt
Nam, Trung Quốc), các thành phố, cho dù những thành phố rất lớn, rất đông
dân, cũng nhƣ những thành phố rất nhỏ cả về mặt dân cƣ đến lãnh thổ trực
thuộc. Đối với các lãnh thổ hành chính nhân tạo, việc tổ chức và hoạt động của
các cơ quan địa phƣơng chủ yếu để thực hiện chức năng quản lý [28, tr.624].

14


Nhiều nền hành chính hiện nay đã bỏ qua những ranh giới “cổ truyền”, kể cả
những ranh giới chính trị, trong việc thi hành các nhiệm vụ mới. Một số các
khu vực lãnh thổ hành chính đƣợc thành lập để thực hiện các công việc hành
chính đƣợc thuận lợi hơn. Ví dụ, nhƣ các khu bầu cử, khu tƣ pháp, khu thu
thuế, khu cảnh sát, khu phòng hoả, khu học đƣờng. Các khu vực nói trên hoàn
toàn có tính chất hành chính, việc tổ chức các cơ quan nhà nƣớc ở đây rất đơn
giản, chỉ cần những cơ quan hành chính để đảm nhiệm chức năng hành chính
nhƣ mục tiêu đề ra. Khác với các lãnh thổ đƣợc hình thành một cách tự nhiên,
chúng thƣờng đƣợc gọi là cấp chính quyền không hoàn chỉnh. Theo đó, các
nhân viên đảm nhiệm các công việc hành chính của khu vực đƣợc cấp trên bổ
nhiệm mà không cần có sự lựa chọn bằng phƣơng pháp bầu cử từ cử tri địa
phƣơng [28, tr.630]. Ở đây không nhất thiết phải thành lập hay tổ chức ra các
cơ quan đại diện dân cử. Sự không hoàn chỉnh của các đơn vị này là cơ sở cho
việc không tổ chức ra các cơ cấu đầy đủ để thực hiện các chức năng “lập
pháp, hành pháp và tƣ pháp” nhƣ ở trung ƣơng, và càng không nên tổ chức ra
các tổ chức đoàn thể xã hội đi kèm.
Mọi nhà nƣớc trong quá khứ và hiện tại đều có sự quan hệ với địa
phƣơng thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng và các cơ

có quyền của cấp dƣới, cấp trên có quyền của cấp trên và đƣợc ghi nhận trong
luật. Cấp dƣới chỉ thực hiện quyết định của cấp trên trong những trƣờng hợp
pháp luật quy định và kèm theo các điều kiện về cung cấp nguồn kinh phí và
chịu sự chỉ đạo. Chính quyền, dù là ở cấp trên hay ở cấp dƣới, thì đều phải
theo luật mà thực hiện. Đó có thể xem là sự thể hiện trực tiếp nhất quan
niệm nhà nƣớc pháp quyền trong tổ chức bộ máy nhà nƣớc. Tất nhiên, đây
cũng là một trong những cơ sở cho việc xác định về sự tự chịu trách nhiệm
của các cấp chính quyền nhà nƣớc ở địa phƣơng cũng nhƣ của nhân dân địa
phƣơng. Tổ chức chính quyền nhƣ vậy, có thể sẽ dẫn tới việc nhân dân địa
phƣơng tổ chức chính quyền địa phƣơng theo ý chí của họ, từ đó, có các

16


cách tổ chức chính quyền địa phƣơng đa dạng. Những giới hạn của việc lựa
chọn cách tổ chức Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ đƣợc ghi nhận trong luật,
nhƣng quan trọng hơn là tổ chức Ủy ban nhân dân cấp xã có khả năng phản
ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và quản lý bảo đảm việc phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Ngƣời dân địa phƣơng sẽ quyết định nên tổ
chức chính quyền nhƣ thế nào.
Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của các đơn vị hành chính lãnh thổ và chính quyền địa phƣơng ở nƣớc ta từ khi nƣớc Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời (Từ năm 1976 là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho
thấy, chính quyền địa phƣơng luôn gắn với một đơn vị hành chính - lãnh thổ
nhất định và đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính - lãnh thổ đó. Nghĩa là
không có chính quyền địa phƣơng nào nằm ngoài đơn vị hành chính lãnh thổ.
Các đơn vị hành chính lãnh thổ đƣợc chia thành nhiều cấp, ngày càng đa dạng
hơn các loại hình trong cùng một cấp. Về chính quyền địa phƣơng ở các đơn
vị hành chính lãnh thổ: Hiến pháp năm 1946 quy định: Hội đồng nhân dân,
Ủy ban hành chính đƣợc tổ chức ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã; ở cấp bộ và
huyện chỉ có Ủy ban hành chính do các Hội đồng nhân dân cấp dƣới trực tiếp

nhà nƣớc ở địa phƣơng (Hội đồng nhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhà
nƣớc ở địa phƣơng (Uỷ ban nhân dân các cấp), cơ quan tƣ pháp (Toà án nhân
dân các cấp) và cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp).
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính
quyền địa phƣơng năm 2015, chính quyền địa phƣơng đƣợc tổ chức ở ba cấp
tƣơng ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là cấp tỉnh - có thể
bao gồm cả “Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt” do Quốc hội thành lập –
Điều 110 Hiến pháp 2013);
- Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và Đơn vị hành chính
tƣơng đƣơng (gọi chung là cấp huyện);

18


- Xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Từ những phân tích trên, tác giả đi đến quan niệm về tổ chức ủy ban
nhân dân cấp xã nhƣ sau: Tổ chức là cách sắp xếp để xác định cơ cấu, guồng
máy của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ
phận và giao phó các bộ phận cho các nhà quản trị hay ngƣời chỉ huy với
chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao.
Việc tổ chức này gọi là tổ chức bộ máy. Nhƣ vậy, tổ chức của ủy ban nhân
dân cấp xã là hoạt động xác định cơ cấu của ủy ban nhân dân xã, xác định vai
trò, chức năng, công việc cụ thể cho từng bộ phận và cá nhân trong ủy ban
nhân dân xã.
1.2.2. Hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã
Quan niệm về hoạt động của ủy ban nhân dân: Hoạt động của ủy ban
nhân dân cấp xã là hoạt động chấp hành và điều hành diễn ra trong một phạm
vi khá rộng các vấn đề của địa phƣơng, tuy nhiên không vƣợt qua nhiệm vụ,
thẩm quyền luật định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status