VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HẰNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN NGỌC TOÀN
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ................................................ 9
1.1. Khái niệm chung ..................................................................................... 9
1.2. Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ........ 13
1.3. Đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã ........................................................................................................... 16
1.4. Các giải pháp, công cụ chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã .................................................................................................. 17
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Cơ cấu độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã. ...................................... 30
Bảng 2.2. Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ, công chức cấp xã. ……32
Bảng 2.3. Thực trạng trình độ lý luận chính trị cán bộ, công chức cấp xã. .... 33
Bảng 2.4. Thực trạng trình độ quản lý nhà nước cán bộ, công chức cấp xã. .. 35
Bảng 2.5. Thực trạng trình độ ngoại ngữ cán bộ, công chức cấp xã. ............. 36
Bảng 2.6. Thực trạng trình độ tin học cán bộ, công chức cấp xã. ................ 378
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã. .................................. 31
Biểu đồ 2.2. Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ, công chức cấp xã. ...... 32
Biểu đồ 2.3. Thực trạng trình độ lý luận chính trị cán bộ, công chức cấp xã. 34
Biểu đồ 2.4. Thực trạng trình độ quản lý nhà nước cán bộ, công chức cấp xã
......................................................................................................................... 35
Biểu đồ 2.5. Thực trạng trình độ ngoại ngữ cán bộ, công chức cấp xã. ....... 367
Biểu đồ 2.6. Thực trạng trình độ tin học cán bộ, công chức cấp xã. .............. 38
MỞ ĐẦU
nghiệp, hiện đại, đủ phẩm chất, năng lực thực thi có hiệu quả chức trách,
nhiệm vụ, công vụ tại xã, phường, thị trấn [32]. Để đạt được mục tiêu, yêu
cầu nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, thì tất yếu đặt ra
yêu cầu nhà nước phải quản lý hoạt động này. Hiện nay bộ máy quản lý và
các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được hình thành từ trung ương đến địa phương,
chức năng, nhiệm vụ quản lý từng bước được xây dựng hoàn thiện.
Tuy nhiên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ sở là
một vấn đề có nhiều khó khăn, phức tạp. Trong quá trình quản lý, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện, chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản trở quá trình quản
lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, cụ thể như: Các văn bản
pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu, chưa đồng bộ và có nội dung quy
định thiếu sự hướng dẫn để triển khai; phân công, phân cấp quản lý và tổ chức
đào tạo, bồi dưỡng giữa cấp tỉnh và cơ sở chưa rõ; phương pháp đào tạo còn
nặng về thuyết trình, ít trao đổi thông tin hai chiều theo hướng thảo luận,
tranh luận, bài tập tình huống; có sự chồng chéo và trùng lặp giữa các nội
dung chương trình lý luận, quản lý nhà nước; tính liên thông giữa các chương
trình còn nhiều hạn chế; có sự chênh lệch lớn về trình độ văn hóa và kiến thức
chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã giữa các vùng, miền, giữa thành thị
và nông thôn trên phạm vi cả nước; công tác giám sát, đánh giá quá trình đào
tạo, bồi dưỡng để xác định hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã còn hạn chế; đội ngũ công chức quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng ở địa
phương còn thiếu kiến thức, kỹ năng để thực thi tốt chức trách, nhiệm vụ.
Với tư cách là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội đang trong
tiến trình vận động và phát triển theo xu hướng chung của Thủ đô, trong
những năm qua, Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Mê Linh rất quan tâm đến
công tác cải cách hành chính nói chung và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất
2
nhà nước; (6) Đổi mới xây dựng hệ thống các chế độ chính sách về cán bộ và
công chức nhà nước.
Tác giả Nguyễn Khắc Bộ, “Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của
chính quyền cơ sở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 3/2006 [6, tr.34);
Bài viết tập trung vào nội dung thực hiện các giải pháp nhằm xây dựng chính
quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực quản lý nhà nước,
phát huy tốt hơn, nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân.
Với công trình “Bàn về chức năng quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 5 năm 2007, tác giả Lại Đức
Vượng [38, tr.18] xuất phát từ phương diện quản lý nhà nước để bàn về 03
chức năng cơ bản của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, gồm: (1) Chức
năng là cầu nối để truyền thụ, trao đổi kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, công
chức; (2) Chức năng đánh giá hiệu quả quản lý đào tạo, bồi dưỡng, xem xét
trên những vấn đề về cơ chế chính sách, về xây dựng, tổ chức thực hiện kế
hoạch và về đánh giá kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; (3)
Chức năng phát triển, được xem xét thông qua sự tăng trưởng về số lượng,
chất lượng và những yếu tố tâm lý. Nhận thức rõ chức năng đào tạo, bồi
dưỡng là cơ sở quan trọng để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức,
hoàn thiện bộ máy quản lý đào tạo, bồi dưỡng và hệ thống thực hiện tổ chức
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam.
Bài viết “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, góp
phần xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh” của tác giả Đoàn Văn
Tình - Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 12 năm 2013; Bài viết cũng đi sâu vào
việc thu hút nguồn nhân lực có trình độ, có đủ năng lực đảm bảo hiệu quả làm
việc của cán bộ, công chức cấp xã. Tuy nhiên, việc áp dụng ở mỗi địa
phương, mỗi đơn vị lại đòi hỏi nhiều yếu tố thiết thực, phù hợp với từng địa
phương hơn.
4
thế cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020; Nghị quyết của Chính phủ ban
hành phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của đất nước trong thời đại ngày
nay, góp phần đẩy nhanh quá trình đổi mới đất nước ta. Quyết định số
1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án
đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức”; Quyết định số 1956/QĐ-TTg
ngày 27/11/2009 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt đề án “Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
Ngoài ra còn có các báo cáo hàng năm về công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức làm việc ở các xã, thị trấn của UBND huyện Mê Linh,
thành phố Hà Nội.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào về “Chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội”. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạch định chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là rất cần thiết, đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ chung đặt ra trong thời kỳ mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã huyện Mê Linh, từ đó đề xuất một số
phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác này tại địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, tìm ra những ưu
điểm, hạn chế và nguyên nhân;
6
quy định, bảo đảm chất lượng.
Phương pháp đánh giá: Đánh giá quá trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ở huyện Mê Linh từ năm 2011 đến nay. Xem lại những kết
quả đã đạt và chưa đạt được trong thời gian qua, đề ra những giài pháp nhằm
khắc phục những tồn tại, bất cập.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về chính
sách công nói chung, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn: Giúp chính quyền các cấp tại huyện Mê Linh nhận
thức đầy đủ hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã để tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức có hiệu quả góp phần nâng cao trình độ, năng lực của cán
bộ, công chức cấp xã.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu
giảng dạy môn học chính sách công trong các trường Đại học, Học viện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ cái viết tắt,
danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức ở cấp xã tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
8
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội;
Bên cạnh đó, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tại Điều 61 Luật Cán bộ, công chức có quy định chức vụ, chức danh
CBCC cấp xã:
“Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
b, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
d, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g, Chủ tịch Hội Nông dân Việt nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a, Trưởng công an;
b, Chỉ huy trưởng Quân sự;
c, Văn phòng - Thống kê;
d, Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã);
đ, Tài chính - Kế toán;
e, Tư pháp - Hộ tịch;
g, Văn hóa - Xã hội.
10
thực hiện dự định đó. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những
kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi.
Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong đời sống kinh tếxã hội theo những mục tiêu xác định.
Trong giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học
viện Hành chính Quốc gia xuất bản năm 2013 cũng đưa ra định nghĩa chính
sách công: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với
các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình
thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”[21]
Theo tác giả Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu
cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể
đã xác định” [19]
Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều có tính hợp lý nhất định, xuất
phát từ góc nhìn vấn đề của các tác giả. Tổng hợp lại các khái niệm nếu trên,
chúng ta có thể hiểu: Chính sách công là chính sách của Nhà nước bao gồm
các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau với những mục tiêu và giải
pháp cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo ý chí của đảng cầm quyền,
phù hợp với thực tiễn xã hội và nguyện vọng của nhân dân.
Khái niệm chính sách ĐTBD CBCC cấp xã:
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của
Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/05/2010), tại Điều 5 giải thích:“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp
nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc
học” và “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ
năng làm việc”.
Như vậy, theo quan điểm của chính sách công nói chung ở trên và
12
13
Cán bộ, công chức cấp xã là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố
“động” nhất của bộ máy chính quyền cấp xã; là người tổ chức và điều hành
hoạt động của chính quyền cấp xã . Song đến lượt mình, cán bộ, công chức
cấp xã lại chịu sự chi phối, ràng buộc bởi quy định của tổ chức. Tổ chức bộ
máy chính quyền cấp xã buộc người cán bộ, công chức cấp xã phải làm việc
theo những nguyên tắc và khuân khổ nhất định. Cán bộ, công chức cấp xã chỉ
có sức mạnh khi gắn với tổ chức chính quyền và nhân dân. Nếu tách rời khỏi
tổ chức chính quyền thì cán bộ, công chức chính quyền cấp xã không có sức
mạnh quyền lực và hiệu lực do nhân dân tạo nên.
Với vai trò là lực lượng “nòng cốt” trong quản lý và tổ chức công việc
của chính quyền cấp xã, mỗi cán bộ, công chức cấp xã có tác động, ảnh
hưởng quan trọng đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân. Nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã là thực thi
công vụ theo quy định của pháp luật và bảo đảm tính thống nhất trong thực thi
quyền lực nhà nước ở cơ sở. Đồng thời cán bộ, công chức cấp xã còn có khả
năng góp ý, đề xuất với cơ quan nhà nước cấp trên để xây dựng hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, phù hợp, hướng tới Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân.[28, tr.24-27]
1.2.2. Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chính sách là do con người tạo ra nhưng đồng thời chính sách lại tác
động mạnh mẽ đến hoạt động của con người. Chính sách có thể mở đường, là
động lực thúc đẩy tính tích cực, khả năng sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của
mỗi con người nhưng cũng có thể kìm hãm những hoạt động, làm thui chột tài
năng, sáng tạo của họ. Vấn đề ĐTBD CBCC cấp xã là một vấn đề quan trọng
và cấp bách trong giai đoạn hiện nay và cần phải được giải quyết bằng chính
sách của Nhà nước, bởi các lý do sau:
15
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, xây dựng đội ngũ giảng
viên chuyên giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, tăng
cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở làm công tác giảng dạy, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Xuất phát từ thực tiễn công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở,
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI xác định đào tạo, xây dựng phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là khâu đột phá
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020. Để thực hiện
thành công khâu đột phá chiến lược này cũng cần phải có chính sách ĐTBD
CBCC cấp xã đúng, hợp lý và đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nước ta
trong thời kỳ mới.
Với những lý do nêu trên chúng ta có thể thấy ĐTBD CBCC cấp xã trở
thành vấn đề cần thiết và bức xúc hiện nay. Và để giải quyết vấn đề này nhà
nước cần có những cơ chế, chính sách thích hợp để khuyến khích, hỗ trợ và
đào tạo trực tiếp đội ngũ cán bộ này vì mục tiêu phát triển chung của quốc
gia.
1.3. Đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã
* Đối tượng trực tiếp
Đối tượng trực tiếp được thụ hưởng của chính sách đào ĐTBD CBCC
cấp xã bao gồm tất cả các cán bộ, công chức cấp xã đang làm việc trong các cơ
quan Đảng, nhà nước và đoàn thể ở cấp xã nằm trong quy hoạch của cả nước,
trong đó có huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
* Đối tượng gián tiếp
Đội ngũ giáo viên tham gia chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức chức chính là những đối tượng gián tiếp thụ hưởng chính sách
quy định về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức quy định:
“Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm: ngân sách nhà nước, kinh
17
phí của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng cử công chức, của công chức và tài
trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài”. Cụ thể:
Đầu tư kinh phí xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cho cán bộ, công chức ở cấp xã.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấp hành Trung ương khóa X về
đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ
máy nhà nước trong thời kỳ mới, khi đề cập tới công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức đã chỉ ra đổi mới phương thức và nội dung các chương
trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn
đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành
chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành
chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của các cơ quan hành chính,
nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp…
Chương trình ĐTBD phải đạt được yêu cầu thiết thực, phù hợp với đối
tượng theo các vùng, miền khác nhau, điều này sẽ phát huy được công việc hàng
ngày. Giáo trình, tài liệu không những là tài liệu học tập mà còn là cẩm nang để
cán bộ, công chức tra cứu khi cần thiết. Đó chính là hiệu quả của chính sách
ĐTBD CBCC ở cấp xã phản ánh thông qua nội dung, chương trình đào tạo.
Đầu tư kinh phí xây dựng chương trình ĐTBD cho CBCC câp xã cần
phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu người học là các cán bộ, công chức;
nội dung phải sát thực đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc, nhất là
chú trọng việc bồi dưỡng những kỹ năng cụ thể cho mỗi loại đối tượng cán
bộ, công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng; thời gian cho mỗi khóa ĐTBD
phải hợp lý, không quá dài gây ảnh hưởng đến thời gian cho công việc của
Về phía bản thân các giảng viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cũng không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn
thiện kỹ năng giảng dạy; tiếp cận và ứng dụng những phương pháp mới hiệu
19
quả, ứng dụng công nghệ trong quá trình giảng dạy nhằm rút ngắn thời gian
hơn mà vẫn đảm bảo hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất ĐTBD CBCC ở cấp xã
Cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy là những công cụ cơ bản có ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. Nó bao
gồm các yếu tố như: Diện tích mặt bằng, ánh sáng, hội trường, phòng học,
phòng thư viện, ký túc xá, phòng làm việc và các khu sinh hoạt khác phục vụ
cho hoạt động học tập và giảng dạy.
1.4.2. Công cụ thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã
Công cụ dựa vào quyền lực: Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát về việc xây dựng, thực hiện chính sách ĐTBD CBCC ở cấp
xã.
Công cụ dựa vào tổ chức: Thực hiện việc ĐTBD CBCC ở cấp xã đảm
bảo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao và sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính
sách ĐTBD CBCC cấp xã để phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất
nước giai đoạn hiện nay.
Công cụ dựa vào tài chính: Cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đối với
CBCC, tăng cường bố trí ngân sách cho công tác ĐTBD CBCC ở cấp xã.
Công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền: Các cơ quan truyền thông có
tránh nhiệm phổ biến tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của nhà
nước đối với công tác ĐTBD CBCC cấp cơ sở để đông đảo quần chúng nhân
dân biết và hiểu rõ hơn về chính sách này.
21