Mối quan hệ giữa lạm phát và đầu tư. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 44

LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ đầu năm 2010, một trong những vấn đề quan trọng luôn được sự
quan tâm của rất nhiều những chuyên gia kinh tế hàng đầu của đất nước là
vấn đề lạm phát. Lạm phát đã trở thành mối quan tâm của mọi tầng lớp dân
cư. Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế là rất lớn. Rất nhiều giải pháp đã
được đưa ra nhưng do tính chất phức tạp của vấn đề mà các kết quả đạt được
vẫn còn nhiều hạn chế chưa được như mong đợi. Chính sự tác động qua lại
giữa lạm phát và các yếu tố khác như: đầu tư, tiêu dùng, thất nghiệp…nên
việc đưa ra các giải pháp luôn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng. Chính vì vậy để có
thể đưa ra được các biện pháp hợp lý thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa
lạm phát và các yếu tố khác là rất quan trọng.
Nước ta đang từng bước tiến lên trở thành nước CNH-HĐH, các hoạt động
đầu tư đóng vai trò rất quan trọng, là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, gia tăng sản lượng. Với những lợi thế của mình,việc thu hút nguồn vốn
FDI đạt được nhiều thành công.
Chính từ thực tiễn đó, nhóm em chọn vấn đề “Mối quan hệ giữa lạm phát
và đầu tư. Thực trạng và giải pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây” sẽ
phần nào giúp mọi người có cái nhìn sơ khởi về vấn đề trên.
Trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, rất
ming nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo và các bạn. Em xin chân
thành cảm ơn.
Chương 1: Những vấn đề chung về đầu tư và lạm phát
I. Lạm phát
1. Khái niệm
Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các tác phẩm, các công trình
nghiên cứu của các nhà kinh tế. Theo C.Mác: lạm phát là việc tràn đầy các
kênh, các luồng lưu thông các tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt. Ông
cho rằng lạm phát là bạn đường của chủ nghĩa tư bản.
Milton Friedmen thì quan niệm rằng :là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài. Ông cho rằng: lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền
tệ. Ý kiến đó được nhà kinh tế học của phái Keynes tán thành

đến đồng thời tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát.Đối với nền
kinh tế nhập khẩu nguyên liệu, cấu kiện cần thiết từ nước ngoài thì sự thay
đổi tỉ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lam phát trong nước.
Nếu giá của chúng tăng mạnh trên thị trường thế giới hay đồng nội tệ giảm
mạnh trên thị trường tài chính quốc tế thì chi phí sản xuất trong nước sẽ tăng
mạnh và lạm phát sẽ bùng nổ.
2.3 Lạm phát do tăng cung tiền
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuôc trường phái tiền tệ, khi cung
tiền tăng lên kéo dài sẽ làm cho mưc giá cả tăng lên kéo dài và gây ra lạm
phát.
2.4 Lạm phát do thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng
cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát. Khi NSNN ở trong tình trạng thâm hụt,
chính phủ sẽ phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường tài chính để vay vốn
dân chúng, bù đắp cho phần thiếu hụt hoặc phát hành thêm tiền.
Việc phát hành trái phiếu không làm thay đổi cơ số tiền tệ, do đó không
làm tăng cung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát
Còn khi chính phủ phát hành thêm tiền, biện pháp này trực tiếp làm
tăng thêm cơ số tiền tệ, do đó làm tăng cung ứng tiền tệ, đẩy tổng cầu lên cao
và tăng tỉ lệ lạm phát.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển do thị trường vốn bị hạn chế nên
việc phát hành trái phiếu chính phủ nhằm bù đắp thâm hụt NSNN là rất khó
khăn.Vì thế khi tỷ lệ thâm hụt NSNN tăng cao thì chính phủ chỉ còn một cách
là phát hành thêm tiền làm cung tiền tệ cũng tăng và lạm phát tăng.
2.5 Lạm phát theo tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ tăng cũng là một
nguyên nhân gây ra lạm phát. Chúng ta có thể tiếp cận điều này từ hai hướng
sau:
Thứ nhất,Khi tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và ngoại tệ tăng, đồng nội
tệ mất giá, điều đó tác động đến tâm lý của những nhà sản xuất trong nước,

khi đó người đi vay lại giảm được chi phí cơ hội cho vốn vay.Vì vậy, khi lạm
phát tăng cao thì người cho vay sẽ chịu thiệt và người đi vay sẽ được lợi tạo
nên sự phân phối thu nhập không bình đẳng giữa người đi vay và người cho
vay.
Mặt khác, lạm phát còn thúc dẩy những người kinh doanh tăng cường
thu hút tiền vay để đầu cơ kiếm lời làm tăng nhu cầu tiền vay đẩy lãi suất lên
cao. Lạm phát tăng, người có tiền sẽ dùng tiền để đầu cơ vào hàng hóa tài sản,
làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung_cầu hàng hóa trên thị trường, đẩy
giá cả càng lên cơn sốt cao hơn. Những người đầu cơ nhờ đó mà thu lợi. Cuối
cùng, những người dân nghèo càng trở nên nghèo hơn còn những người đầu
cơ lai trở nên giàu có hơn.
3.4 Lạm phát và nợ quốc gia
Lạm phát làm tỷ giá hối đoái tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên
mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ, vì vậy
nợ nước ngoài tăng.
Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán
được hay không, nghĩa là nhân dân và các thể chế có tiên chi được mức độ
lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là điều bất ngờ. Nếu tất cả các đợt
lạm phát đều hoàn toàn dự đoán trước được thì lạm phát không gây lên gánh
nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó.
Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến đầu tư sai và phân phối thu
nhập một cách ngẫu nhiễn làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.
II. Khái quát chung về đầu tư
1.Khái niệm
Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định
trong tương lai.
Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, hoạt động đầu tư
này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản suất kinh doanh, dịch vụ và
sinh hoạt đời sống của xã hội.

Quốc, Ăng Co Vát ở Cam Pu Chia….Trong suốt quá trình vận hành, các
thành quả đầu tư chịu tác động của hai mặt, cả tích cực và tiêu cực, của nhiều
yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
2.4 Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư
chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế và xã hội vùng.
Không thể dễ dàng di chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này
sang nơi khác, nên các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công
trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng
nên,do đó, công tác quản lý hoạt đông đầu tư cần phải có chủ trương đầu tư
và quyết định đầu tư đúng và phải lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý.
2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời kỳ vận hành
các kết quả đầu tư cũng kéo dài….nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu
tư phát triển thường rất cao. Để quản lý hoạt động đầu tư phát triển có hiệu
quả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro như nhận diện rủi ro,
đánh giá rủi ro và xây dựng các biện pháp phòng chống rủi ro.
3. Vai trò của đầu tư phát triển
3.1 Xét trên góc độ vĩ mô
3.1.1 Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất
lượng tăng trưởng. Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là
những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, tăng
năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH-HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…do đó, nâng cao
chất lương tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế thể hiện tập
trung ở công thức tính hệ số ICOR( tỷ số gia tăng của vốn đầu tư so với sản
lượng ).
Công thức: ICOR=I/∆Y
Trong đó, I là mức đầu tư trong kì

cũng gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế.
3.1.3 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các
chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư.Nhà nước có thể điều hành chính sách
đầu tư bằng cách can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế
hoạch hóa, xây dựng cơ chế quản lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các
công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một
cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý
hơn.
3.1.4 Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ
Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới vá cải tạo
chất lượng năng lực sản xuất, phục vụ nền kinh tế và các đơn vị cơ sở. Chính
vì vậy, đầu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao
năng lực công nghệ quốc gia.
Mặt khác, đối với đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp FDI thường gắn
liền với hoạt động chuyển giao công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có
thể là điểm đến của một số công nghệ và phương thức sản xuất mới.
3.2 Trên góc độ vi mô
Đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các
cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi. . Để ra đời
một doanh nghiệp thì cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua
sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác
và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kì. Khi cơ sở
vật chất của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn
hoặc thay mới các cơ sở vật chất kĩ thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi
mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ
thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội.
III Mối quan hệ giữa lạm phát và đầu tư
1. Lạm phát tác đông đến đầu tư
1.1 Lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất và tác động đến đầu tư

- ∑ C
i
/(1+ r )
n- i
Từ công thức trên ta có thể thấy được khi lạm phát xảy ra, lãi suất tăng
cao dẫn đến NPV giảm. NPV cho chủ đầu tư đưa ra quyết định chính xác nhất
và để chủ đầu tư sử dụng để đánh giá và lựa chọn các phương án đầu tư.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư(T) là thời gian cần thiết mà dự án phải hoạt
động để thu hối đủ số vốn đầu tư ban đầu.lạm phát của nền kinh tế cao thi thơi
gian thu hồi vốn dài làm giảm hiệu quả của dự án và không đem lại được lợi
nhuận như mong đợi cho chủ đầu tư.
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR) là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ
suất chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án đến cùng một thời
điểm hiện tại thì tổng thu cân bằng với tổng chi.
IRR phản ánh mức độ hấp dẫn của dự án đầu tư và trong trường hợp dự
án vay vốn thì IRR sẽ cho biết mức lãi suất cao nhất mà dự án có thể chấp
nhận được. Lạm phát kéo theo lãi suất tăng cao làm IRR giảm và khoảng
chênh lệch với lãi suất vốn vay của dự án càng thấp dẫn đến hiệu quả của dự
án giảm.
Để minh họa mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, các nhà kinh tế sử
dụng một đồ thị gọi là đường cầu đầu tư
Giả sử trong một nền kinh tế được đơn giản hóa, các công ty có thể đầu
tư vào các dự án khác nhau A, B, C…cho tới H. Đây là các khoản đầu tư lâu
bền (như nhà máy điện hay nhà cửa nên có thể không cần tính đên sự cần thiết
để thay thế chúng. Hơn nữa các dự án này đem lại nguồn thu nhập ròng ổn
định hàng năm và nền kinh tế không có lạm phát
Dự án Tổng đầu tư
mỗi dự
án(triệu
đôla)

Tuy nhiên, nếu giả sử lãi suất tăng lên đến 10% chi phí trang trải cho các
khoản dự án tăng gấp đôi cho thấy dự án F và G không sinh lời nữa; nhu cầu
về vốn đầu tư giảm xuống còn 30 triệu đôla
Chúng ta trình bày kết quả phân tích này trên đồ thị
Lợi tức trên khoản đầu tư, lãi suất(phần trăm một năm)
20 Biểu cầu về đầu tư
M’
10
5 M

0 10 20 30 40 50 60 70
Chỉ tiêu đầu tư (triệu đôla)
Đây là đồ thị về cầu đầu tư phản ánh một hàm hình bậc thang đi xuống
của lãi suất. Đồ thị này cho biết mức đầu tư có thể thực hiện ứng với mỗi lãi
suất. đồ thị này được xây dựng theo cách cộng tất cả các mức đầu tư có khả
năng sinh lợi ở mỗi lãi suất.
Vì vậy, nếu lãi suất là 5% thì mức đầu tư mong muốn sẽ ở điểm M, với
tổng đầu tư là 55 triệu đôla. Với lãi suất này các dự án từ A đến G sẽ được
thực hiện. Nếu lãi suất là 10% thì các dự án F và G sẽ bị bác bỏ trong trường
hợp này, cầu đầu tư sẽ đạt tại điểm M’ và tổng mức đầu tư là 30 triệu đôla.
Đường cầu đầu tư có dạng bậc thang đi xuống thể hiện lượng vốn các
doanh nghiệp muốn đầu tư tại mỗi mức lãi suất. Mỗi bậc thang phản ánh một
tổng mức đầu tư.
1.2 Lạm phát tác động đến tiến độ thực hiên dự án
Khi lạm phát xảy ra, lãi suất tăng, ngân hàng khắt khe hơn trong việc cho
vay , việc vay vốn của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, giá cả
của nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào đều tăng lên theo phản ứng dây
chuyền, nhiều doanh nghiệp không thể vay được, nếu có cũng chỉ là số lượng
ít, chia cắt làm nhiều giai đoạn. Qua đó, làm chậm tiến độ thực hiện dự án và
vận hành các kết quả đầu tư trên thị trường.

làm cho lạm phát trong nước giảm thấp thế nhưng đồng nội tệ lên giá sẽ thấp
vì những hàng hóa đó dều được tính vào trong chỉ số giá cả trong nước. Thế
nhưng đồng nội tệ lên giá sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu,thu hẹp sản xuất
trong nước và thất nghiệp gia tăng.
Tóm lại,tỉ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến quan hệ
kinh tế đối ngoại và cán cân thanh toán ,tăng trưởng kinh tế,lạm phát và thất
nghiệp.Điều chỉnh tỉ giá theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu và cán cân thanh
toán,thì trong đó lại chứa đựng nguy cơ lạm phát.Còn trong trường hợp cố
định tỉ giá để kiềm chế lạm phát thì làm cho đồng nội tệ lên giá quá cao,có
nguy cơ không khuyến khích xuât khẩu mà trái lại khuyến khích nhập khẩu
làm cho cán cân thanh toán bị thâm hụt,dự trữ ngoại tệ quốc gia giảm.
Lạm phát tác động trực tiếp làm tăng lãi suất. Lãi suất và tỷ giá là hai
yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là các công cụ hữu hiệu của chính sách
tiền tệ. Lãi suất là công cụ được các ngân hàng trung ương sử dụng để điều
chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Nếu lãi suất trong nước cao hơn so với
lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ sẽ hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài
chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong
nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao.Kết quả là cung ngoại tệ trên thị
trường trong nước tăng lên từ đó làm cho đồng ngọai tệ có xu hướng giảm giá
hay đồng nội tệ lên giá.Ngược lại nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất
ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường quốc tế thì sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên
giá và đồng nội tệ mất giá
Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu ngoại tệ trên thị trường, khi
lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất
trên thị trường. Từ đó, tác động đến xu hướng dịch chuyển của các dòng vốn
quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn (trong cán cân thanh toán quốc tế) hoặc ít
nhất cũng làm những người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của
mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối
đoái. Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồng vốn vay ngắn
hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốn

quả thì dự án phải đạt được hiệu suất cao làm tăng gánh nặng cho các nhà đầu
tư. Hình dưới cho thấy cảm nhận bi quan về kinh doanh sẽ làm cho đường cầu
đầu tư dịch chuyển như thế nào.
Lợi tức trên khoản đầu tư, lãi suất'
Sự bi quan

D
2
D
1
Chi tiêu đầu tư
2. Tác động của đầu tư đến lạm phát
2.1 Tăng quy mô vốn đầu tư là nhân tố trưc tiếp tác động đến lạm phát
Đứng trên góc độ hoạt động đầu tư phát triển thì tổng vốn đầu tư là
những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản
tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên,
vật liệu, hàng hoá, cầu cống, đường xá); tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực
(trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật). Vốn đầu
tư phát triển gồm: vốn đầu tư XDCB và sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn lưu
động bổ sung; vốn đầu tư phát triển khác.Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm:
chi phí thăm dò, khảo sát và qui hoạch ngành, vùng lãnh thổ; chi phí thực hiện
các chương trình mục tiêu quốc gia.
Công thức AD=C+I+G+NX
Khi tổng vốn đầu tư (I) tăng làm tổng cầu AD của nền kinh tế tăng.
Trong ngắn hạn, đường cầu dịch sang phải, kéo sản lượng của nền kinh tế
tăng và đẩy giá lên cao.
Mặt khác, khi tăng tổng vốn đầu tư đồng nghĩa với việc bơm thêm một
lượng tiền vào lưu thông, làm tăng cung tiền, kích thích tăng trưởng tạo áp
lực lạm phát.
2.2 Hiệu quả của dự án đầu tư ảnh hưởng đến lạm phát

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2009 đã
tăng 0,37% so với tháng 9/2009, tăng 2,99 % so với tháng 10/2008 và tăng
4,49% so với tháng 12/2008. Như vậy, tốc độ tăng CPI trong tháng 10 đã
thấp hơn rõ rệt so với tốc độ tăng của tháng 9 (tháng 9 tăng 0,62%), đưa CPI
10 tháng qua tăng 7,17% so với cùng kỳ 2008. Mặc dù tốc độ tăng giá đã
chậm lại nhưng CPI tháng 10 vẫn tiếp tục tăng ở cả 10 nhóm hàng trong rổ
hàng hóa chung với mức tăng từ 0,02-0,77%. Tăng mạnh nhất là nhóm
phương tiện đi lại và bưu điện với mức tăng là 0,77% do tác động của tăng
giá của xăng dầu trong tháng 9. Tiếp đến là nhóm giáo dục với mức tăng
0,73%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có mức tăng cao thứ 3 là 0,55% do
sức nóng của thị trường bất động sản. Đáng chú ý, với giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam tăng cao, cộng với ảnh hưởng của thiên tai nặng nề ở miền Trung,
giá lương thực đã quay đầu tăng 0,03% và thực phẩm cũng đã tăng 0,49%.
Tăng thấp nhất là nhóm văn hoá, thể thao và giải trí với mứctăng0,02%.
Trong tháng 10, hai thành phố lớn của cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh đều có mức tăng CPI thấp hơn mức tăng bình quân cả nước; trong
đó, Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm trọng số 20% trong 63 tỉnh thành) chỉ
tăng 0,15% và Hà Nội (chiếm trọng số tới 10%) tăng tới 0,26% kéo tốc độ
tăng CPI cả nước chậm lại.
Với tốc độ tăng CPI như hiện nay, cho thấy: Chính sách kích cầu kinh tế
của Chính phủ đã phát huy tác dụng, giúp nền kinh tế Việt Nam đứng bên bờ
của suy thoái đã được phục hồi và tăng trưởng rõ rệt.
Tuy nhiên, Trong khi nền kinh tế vẫn tồn tại nhiều đặc điểm bất lợi (cán
cân thanh toán quốc tế chưa bền vững, thâm hụt ngân sách cao, dự trữ ngoại
tệ thấp, giám sát hệ thống tài chính yếu), để kiểm soát mặt bằng giá cuối năm
2009 và năm 2010 (với dự báo là sẽ cao), các cân đối cung cầu cần phải được
giữ vững
1. Lạm phát tác động đến đầu tư qua lãi suất và tỷ giá hối đoái
Qua kết quả nghiên cứu trên có thể thấy, nhìn chung, lãi suất có tác động
ngược chiều với đầu tư, trong đó tác động của lãi suất đến đầu tư của khu vực

2. Lạm phát ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn đầu tư
Khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có lạm phát thấp
hơn, như Trung Quốc và Thái Lan, đó là tốc độ tăng cung tiền. Tính tới cuối
tháng 6 năm 2007, lượng tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở
Việt Nam đã tăng tới 21,1% so với đầu năm. Con số tương ứng của Trung
Quốc và Thái Lan lần lượt là 10,0% và 1,4%.
Tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi lượng tiền đưa vào lưu
thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng
cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực
lạm phát sẽ nảy sinh.
Về mặt nguyên tắc, giá trị tính theo tiền của một mặt hàng luôn bằng
lượng nhân với giá. Nếu giá trị tính theo tiền tăng lên, nhưng lượng hàng
không tăng hay tăng chậm hơn, thì giá buộc phải tăng. Ta có thể hình dung
GDP (sau khi loại bỏ yếu tố trượt giá) là tổng sản lượng sản xuất ra trong năm
để phục vụ tiêu dùng cuối cùng, đầu tư hay ngoại thương. Còn mức cung tiền
là tổng giá trị tính theo tiền. Mức cung tiền vượt GDP nhiều lần thì lạm phát
cao là điều không tránh khỏi.
Như đã được đề cập, cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là
do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến, từ đó buộc Ngân hàng Nhà nước
phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào
lưu thông. Nhưng lạm phát bùng lên trong năm nay có thể còn bắt nguồn từ
mức chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam đã
ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua.
Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối
tháng 6 năm 2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho
lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110%. Trong cùng giai đoạn
này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%.
Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không
đáng kể. Việt Nam tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với Trung Quốc, nhưng
tăng cung tiền lại cao hơn rất nhiều. Đó chính là lý do chính để giải thích tại

hoạch như cầu Vĩnh Tuy, đường vành đai 3, quốc lộ 80 đoạn Mỹ Thuận-Vàm
Cống, tuyến N2 đoạn Đức Hòa-Thạnh Hóa, tuyến đường Nam sông Hậu,
đường cao tốc TPHCM-Trung Lương…
Nhiều doanh nghiệp từ cuối năm ngoái đến nay không dám đi đấu thầu
dự án, vì lo ngại rằng càng nhận được nhiều công trình thi công thì càng lỗ.
Điều lo ngại này xuất phát từ lý do các dự án hạ tầng đều là những dự án cần

Trích đoạn Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư Đầu tư theo trọng tâm trọng điểm, tránh tình trạng đầu tư giàn trải, kéo dài gây thất thoát lãng phí các nguồn lực kinh tế đối với đầu tư sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status