SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA TRẺ
TRONG GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN VẬN ĐỘNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
Người thực hiện: Phạm Thị Nguyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Hà Đông
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
HÀ TRUNG - NĂM 2016
TT
1
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
III. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHẦN II: NHỮNG NỘI DUNG SKKN
3
4
nhân của trẻ.
Biện pháp 3: Tập luyện thường xuyên liên tục đúng giờ (Đối
với thể dục sáng).
Biện pháp 4: Khuyến khích tính tự giác và tích cực ở trẻ.
Biện pháp 5: Lựa chọn hình thức tổ chức phong phú đa dạng
Biện pháp 6: Sử dụng các trò chơi phát triển vận động.
Biện pháp 7: Tổ chức tuần lễ sức khỏe tại nhóp lớp và tham
gia ngày hội thể dục thể thao trong trường mầm non.
Biện pháp 8: Tuyên truyền và phối kết hợp với cha mẹ và cộng
đồng cùng phối hợp thống nhất để chăm lo giáo dục phát triển
vận động cho trẻ.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo - Phụ lục
8
9
10
11
11
15
16
18
18
19
nước, không khí... không chỉ tăng cường hiệu quả luyện tập mà còn giúp trẻ
thích nghi tốt hơn với môi sống bên ngoài tăng cường sức đề kháng của cơ thể
trẻ. Thực hiện các bài tập vận động một cách khoa học giúp phát triển hệ cơ, hệ
xương tạo khả năng phát triển đúng tỉ lệ giữa các bộ phận trên cơ thể của trẻ.
Về các kỹ năng vận động và các tố chất vận động, giáo dục phát triển vận
động giúp hình thành và rèn luyện các kỹ năng vận động, đồng thời phát triển
các tố chất vận động. Nhờ đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh theo cơ chế
phản xạ nên những bài tập được lặp đi, lặp lại sẽ tạo ra các kỹ năng vận động và
dần dần hình thành thói quen vận động cho trẻ. Những thói quen này giúp trẻ
thực hiện các bài tập trong cuộc sống hàng ngày nhanh, chính xác, tiết kiệm
được sức di chuyển trong không gian: Ví dụ: đứng trước một vũng nước, trẻ biết
bật nhảy qua chứ không giẫm vào để bị ướt; để đến được đích nhanh hơn, (trẻ
chạy chứ không đi...). Các tố chất vận động như nhanh, mạnh, khéo léo, bền bỉ
được chú trọng rèn luyện một cách đồng đều thông qua nhiều bài tập vận động
khác nhau tạo nên sự hài hòa, cân bằng tương đối về tố chất cho mỗi cá nhân trẻ
Giáo dục phát triển vận động góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ mầm
non. Việc thực hiện các bài tập vận động góp phần tích cực vào giáo dục phát
triển nhân thức cho trẻ, thông qua các bài tập giúp trẻ tăng cường vốn hiểu biết
làm phong phú biểu tượng về bài tập vận động, các bộ phận trên cơ thể và tác
5
dụng của bài tập vận động đến chúng; yêu cầu luyện tập, giáo dục phát triển tình
cảm và kỹ năng xã hội (tình cảm, thái độ phù hợp với việc luyện tập vận động;
có kỹ năng thực hiện các yêu cầu vệ sinh cá nhân, môi trường và dụng cụ luyện
tập; hình thành các phẩm chất nhân cách cần thiết của con người lao động...)
giáo dục phát triển thẩm mĩ (nhận thức đúng đắn về cái đẹp trong trang phục
luyện tập, các động tác vận động; có mong ước tạo ra cái đẹp trong luyện tập
vận động...) và giáo dục lao động cho trẻ mầm non (tham gia chuẩn bị địa bàn,
các dụng cụ luyện tập; cất, đặt đồ dùng, dụng cụ luyện tập đúng nơi quy định;
động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian.
III. ĐÔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Nghiên cứu trong phạm vi phát huy tính tích cực vận động đối với trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
6
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra thực trạng
Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
PHẦN II
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương trình giáo dục mầm non (ban hành kèm theo Thông tư số
17/2009/TT-BGD&ĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo), giáo dục phát triển vận động là một nội dung thuộc lĩnh vực giáo
dục Phát triển Thể chất, có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc rèn luyện
thể lực cho trẻ Mầm non.
Mục tiêu chương trình giáo dục mầm non nhằm giúp trẻ phát triển toàn
diện, hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội
và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học. Trong đó giáo dục thể chất là
mục tiêu quan trọng, yêu cầu cuối cấp mầm non trẻ phải đạt các mục tiêu của
chương trình: Trẻ khỏe mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo
lứa tuổi; thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế;
có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết
định hướng trong không gian, có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo
ấm áp về mùa đông.
Lớp có đủ đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho nhu cầu hoạt động của cô và trẻ.
Đặc biệt được sự quan tâm chỉ đạo của BGH nhà trường, tổ chuyên môn
để nâng cao các biện pháp và hình thức tổ chức nhằm phát huy tính tích cực vận
động cho trẻ.
Các bậc phụ huynh luôn quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí mua đồ
dùng, đồ chơi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy và học của cô và trẻ.
2. Thực trạng đối với giáo viên.
Bản thân có trình độ trên chuẩn, yêu nghề, yêu trẻ. Tiếp thu đầy đủ các chỉ
thị nghị quyết cũng như tiếp thu nhiệm vụ năm học và tham gia đầy đủ các lớp
chuyên đề do phòng Giáo dục và nhà trường tổ chức.
Luôn tìm tòi đổi mới phương pháp trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
nói chung và giáo dục phát triển vận động cho trẻ nói riêng.
Tuy nhiên do thiếu kinh nghiệm nên khi tổ chức các hoạt động cho trẻ vận
động còn hạn chế, hoặc có tổ chức nhưng qua loa, thiếu hiệu quả.
Đối với thể dục sáng: Tập các động tác trong chương trình với bài hát
quen thuộc theo chủ đề.
Đối với giờ phát triển vận động cơ bản: Hình thức tổ chức của giáo viên
chưa linh hoạt, đồ dùng chưa sáng tạo, chưa phong phú.
Các hoạt động tự phục vụ, tham quan dã ngoại, ngày hội ngày lễ cũng
chưa thực sự hấp dẫn.
Hoạt động giao lưu thể thao chưa được thực hiện.
3. Thực trạng đối với học sinh.
Năm học 2015 - 2016 nhà trường chọn lớp 5 tuổi của tôi để xây dựng
điểm chuyên đề giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non.
Trẻ đi học chuyên cần cao, tuy nhiên nhận thức và khả năng vận động của
trẻ không đồng đều. Khi tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động, trẻ
tham gia nhưng chưa phát huy được tính tích cực, trẻ chưa tự lực, tự tin trong
vận động thường có biểu hiện mệt mỏi khi tham gia vận động. Trẻ chưa tích lũy
được nhiều thói quen vận động và sự phối hợp nhịp nhàng của cơ thể khi tham
SL
Tỷ lệ
%
Trẻ khỏe mạnh, cân nặng chiều cao 35 12 34,3 19 54,2
4
11,5
phát triển bình thường theo lứa tuổi
Thực hiện được các vận động cơ 35 10 28,6 19 54,2
6
17,1
bản một cách vững vàng đúng tư
thế.
Có khả năng phối hợp các giác 35 10 28,6 18 51,4
7
20
quan và vận động.
Vận động nhịp nhàng, biết định 35
9
25,8 19 54,2
7
20
hướng trong không gian.
Kết quả thực trạng cho thấy tỉ lệ trung bình đối với giáo dục phát triển vận
động còn khá cao. Chính vì vậy tôi đã tìm tòi nghiên cứu và đưa ra các giải pháp
và biện pháp thực hiện sau đây.
III. GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. CÁC GIẢI PHÁP.
Môi trường vận động sắp xếp hợp lý, gọn gàng, đẹp đẽ, màu sắc hài hòa, các
trang thiết bị, dụng cụ luyện tập khác nhau tạo cảm xúc tích cực cho trẻ. Các loại
môi trường giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non bao
gồm:
1.1. Môi trường vật chất.
* Môi trường cho trẻ hoạt động trong phòng nhóm/lớp.
Tôi sắp xếp thiết bị, đồ chơi đảm bảo an toàn, tận dụng mọi điều kiện phù
hợp, tạo cơ hội cho trẻ được vận động ở mọi lúc, mọi nơi, tăng cường vận động
trong thời gian trẻ ở trường mầm non.
Để giúp trẻ 5 tuổi thuần thục trong các kỹ năng vận động tinh nên tôi sử dụng
nhiều loại đồ vật, đồ dùng, đồ chơi khác nhau như:
Giấy: Trẻ chơi với giấy như xé, dán, gấp giấy, cuộn giấy thành quả bóng,
bông hoa,con vật; Các loại hột hạt như các loại hạt đậu, sỏi, ... trẻ thực hiện công
việc với các loại hột hạt to, nhỏ khác nhau như chuyển hột, hạt từ chỗ này sang
chỗ khác, phân loại, chia hột, hạt ra thành nhiều phần khác nhau; Các dụng cụ
gia đình tập cho trẻ sử dụng xay tiêu, cốc đo nguyên liệu, dụng cụ vét bột hoặc
thìa canh; Kéo: trẻ sử dụng để tạo ra sản phẩm; Nước: Trẻ thực hiện hoạt động
với nước như đổ nước vào chai hay dùng gáo múc nước nhỏ, mức nước từ thùng
to sang các loại thùng, thau, xô, chậu, bình, chai nhỏ hơn; Rối tay trẻ sử dụng rối
tay chơi, kể chuyện.....Với cách xây dựng môi trường vật chất như trên tôi thấy
trẻ rất tích cực, hứng thú tham gia các họat động vận động một cách tích cực có
hiệu quả.
Sau khi tiếp thu chuyên đề: Giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong
trường mầm non, tôi đã xây dựng góc vận động có nhiều đồ dùng, đồ chơi, hình
ảnh cho trẻ vận động. Từ đó tôi luôn tìm tòi đổi mới phương pháp chăm sóc,
giáo dục trẻ nói chung và đặc biệt là giáo dục phát triển vận động nói riêng.
Xây dựng góc vận động, để thuận tiện cho trẻ sử dụng và tuyên truyền
đến tất cả các bậc phụ huynh, tôi chọn vị trí trước cửa lớp. Tôi sắp xếp các đồ
dùng dụng cụ để cho trẻ dễ lấy, dễ sử dụng đến mỗi hoạt động như thể dục sáng,
giờ học thể dục, hoạt động ngoài trời trẻ có thể tự lấy đồ dùng đồ chơi phù hợp
vận động. Đồ dùng, đồ chơi được kiểm tra theo định kì và sửa chữa ngay khi có
dấu hiệu mất an toàn, các khu vực vui chơi có hướng dẫn cách chơi, đu quay,
cầu trượt được lót đế xốp.
1.2. Môi trường xã hội.
Xây dựng môi trường thân thiện, trẻ tích cực, hứng thú với các hoạt động
PTVĐ. Môi trường chăm sóc, giáo dục trong trường mầm non đảm bảo an toàn
về mặt tâm lí, tạo thuận lợi giáo dục các kĩ năng xã hội cho trẻ. Muốn đạt được
điều đó thì mọi hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và
những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo.
Biện pháp 2: Xây dựng bài tập vận động đảm bảo tính khoa học và hệ
thống, đảm bảo tính vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của trẻ.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, trình độ,
khả năng tiếp thu của trẻ mầm non, giáo viên cần phải xây dựng bài tập sao cho
phù hợp, cân đối vận động giữa chân và tay, giữa cơ quan vận động và cơ quan
nội tạng, giữa các tố chất nhanh, mạnh, bền, khéo của cơ thể…Việc giảng dạy
giáo dục thể chất cần phải có hệ thống cụ thể và toàn diện như vậy, và cần nâng
dần độ khó của các bài tập để cơ thể trẻ quen dần với vận động, các cơ quan và
hệ thống trong cơ thể tăng dần khả năng thích ứng. Trong khi đưa vào giảng dạy
cũng cần lưu ý dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, khối lượng vận
động từ ít đến nhiều, và phải thường xuyên luyện tập, thường xuyên theo dõi,
cập nhật tình trạng phát triển của trẻ để làm cơ sở xây dựng các hệ thống tập
luyện về sau. Khi giảng dạy giáo dục thể chất, cần phải hiểu rõ đặc điểm cá nhân
của trẻ để từ đó xây dựng chương trình vận động, nội dung, phương pháp và
khối lượng vận động sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ. Nếu bài dạy
có nội dung quá đơn giản, khối lượng vận động quá ít sẽ khiến tác dụng rèn
luyện cơ thể không cao và cũng khiến cho người tập không hứng thú. Ngược
lại, nếu nội dung và lượng vận động quá cao có thể sẽ khiến người tập sợ hãi và
không tiếp thu được bài tập. Bên cạnh đó, trong một lớp học, trình độ và sức
khỏe của học sinh là không đồng đều, giáo viên ngoài việc quan tâm đến sức
khỏe chung của toàn lớp còn cần phải tìm cách hướng dẫn riêng và giúp đỡ từng
Hình ảnh 3: Trẻ đang tập thể dục sáng
Biện pháp 4: Khuyến khích tính tự giác và tích cực ở trẻ.
Bởi giáo dục thể chất cho trẻ là một quá trình sư phạm cho nên giáo
viên không những phải dạy cho trẻ biết bắt chước, mô phỏng, làm đúng được
các động tác vận động mà còn phải thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng cho trẻ những
phẩm chất đạo đức, mà tiêu biểu trong đó là ý thức tự giác, tích cực, khả năng
chịu đựng và tập trung ý chí trong hoạt động thể dục thể thao. Những giờ học
giáo dục thể chất thường đòi hỏi trẻ phải vận động tích cực, (đôi khi điều đó quá
dồn dập so với những hoạt động thường ngày của trẻ), bên cạnh đó, cơ thể trẻ
còn non nớt, khả năng tập trung kém, khiến trẻ khó mà theo kịp được nội dung
bài học. Nhiệm vụ của cô là phải thường xuyên bồi dưỡng cho trẻ có thói quen
lắng nghe những lời chỉ bảo trong quá trình tập luyện, đồng thời cũng khuyến
khích trẻ tự giác tích cực trong hoạt động. Kèm theo đó cô cũng cần không
ngừng cải tiến phương pháp dạy, lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho
13
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ, để trẻ có thể theo kịp bài học
một cách tự nhiên nhất. Trẻ tích cực tham gia hoạt động một cách say mê hứng
thú nhất.
Biện pháp 5: Lựa chọn hình thức tổ chức phong phú đa dạng.
Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ, giáo viên tiến hành
thông qua nhiều hình thức giáo dục như trong tiết học và ngoài tiết học, bao gồm
thể dục sáng, thể dục chống mệt mỏi, trò chơi vận động, dạo chơi, thăm quan,
hội khỏe, giáo dục cá biệt, nhưng hình thức tiết học là cơ bản vì trên tiết học thể
dục các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động được truyền thụ một cách có mục
đích, hệ thống, tổ chức và có kế hoạch. Toàn bộ nội dung giáo dục thể chất được
diễn ra trên tiết học, còn các hình thức khác chỉ rèn luyện một khía cạnh nào đó
của giáo dục thể chất. Hiệu quả của việc phát huy tính tích cực vận động không
14
trò chơi vận động có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách
trẻ. Giáo viên mầm non phải tạo cho trẻ bầu không khí thật sự hứng thú, tích cực
để trẻ bộc lộ khả năng, hạn chế trong khi thực hiện kĩ năng vận động của mình,
từ đó giáo viên sẽ có những điều chỉnh kịp thời nhằm giúp cho việc rèn luyện kĩ
năng vận động của trẻ được hiệu quả hơn.
Biện pháp trò chơi có tác dụng nhằm gây hứng thú cho trẻ đến bài tập vận
động, giúp trẻ thực hiện nhiều lần mà không nhàm chán, đánh giá được tương
đối khách quan kết quả vận động của trẻ. Khi tham gia vào trò chơi, trẻ vận
động tích cực hơn, tự nhiên, thoải mái, có tác dụng củng cố và rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo vận động phát triển tố chất vận động. Khi chơi trò chơi vận động,
hệ vận động được củng cố, các hệ cơ bắp của cơ thể trở nên rắn chắc hơn, các
khớp xương và dây chằng trở nên linh hoạt, có tác dụng củng cố, tăng cường sức
khỏe cho trẻ, tạo điều kiện cho việc rèn luyện thể lực, củng cố kĩ năng vận động
trong điều kiện thay đổi. Hoạt động trò chơi mang tính tổng hợp và được xây
dựng kết hợp với những kĩ năng vận động khác nhau như chạy, nhảy, bò…trong
khi chơi trẻ có khả năng giải quyết bài tập mới xuất hiện một cách sáng tạo, thể
hiện tính độc lập, nhanh trí trong việc lựa chọn cách thức vận động, những tình
huống biến đổi bất ngờ trong quá trình chơi, sẽ kích thích thực hiện nhanh hơn,
khéo léo hơn.
Biện pháp này tiến hành dưới hai dạng:
Dạng 1: Đưa yếu tố chơi vào bài tập. Ví dụ: “Trườn sấp” giống như các
chú bộ đội; “vươn thở” cho trẻ bắt chước gà gáy, thổi bóng, ngửi hoa; “bò” như
chuột; nhảy qua rảnh nước, nhảy như thỏ.
Dạng 2: Sử dụng trò chơi vận động để tiến hành bài tập. Ví dụ trò chơi
“đuổi bắt” vận động chạy, “chuông reo ở đâu?” rèn luyện khả năng định hướng
âm thanh, không gian cho trẻ.
Biện pháp 7: Tổ chức tuần lễ sức khỏe tại nhóm lớp và tham gia ngày hội
trẻ.
+ Trang trí lớp học theo chủ đề
nhánh: Tết và mùa xuân đẹp
+ Tổ chức tiết học theo chủ đề:
“Ngày tết và sức khỏe”: Trò chuyện
về các trò chơi ngày tết.
+ Dạo chơi buổi sáng: Tổ chức cho
trẻ vệ sinh các khu GDTC để chơi
các trò chơi ngoài trời: “Rồng rắn
lên mây” “ Bịt mắt bắt dê”, “Nhảy
bao bố”
+ Trưng bày sách tranh về: “Ngày
tết và sức khỏe”
+ Tiết học theo chủ đề: “Các món
ăn ngày tết”. Trò chuyện về các
món ăn và cách vệ sinh, bảo vệ sức
khỏe trong ngày tết. Tổ chức cho
trẻ tập các bài tập thể lực và các trò
chơi khác nhau.
+ Dạo chơi buổi sáng: Cho trẻ vận
động tự do và sáng tạo. Chơi các
trò chơi vận động: “ Nước chảy”,
“cướp cờ”
+ Trò chuyện với trẻ về phòng
chống bệnh tật và cách chăm sóc
sức khỏe trong ngày tết. Tổ chức
cho trẻ tập vận động và các trò chơi
khác nhau.
+ Dạo chơi buổi sáng: Cho trẻ chơi
các trò chơi tự do, chơi trò chơi vận
+ Chơi tự do, trò chơi vận động
theo ý thích của trẻ
+ Kể chuyện bé nghe: Các câu
truyện có nội dung: Ăn uống, vệ
sinh, luyện tập thể thao đối với
sức khỏe.
+ Tiếp tục làm các đồ dùng vận
động tinh cùng cô.
+ Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi
dân gian ngày tết: “Tập tầm
vông”, “rồng rắn lên mây”
+Chơi trò chơi lựa chọn các hành
vi đúng sai trong vận động.
+ Cho trẻ xem trên máy vi tính
về những bộ trang phục của các
vận động viên, các tiết mục nhào
lộn của các diễn viên.
+ Ôn toán, ôn thơ dưới hình các
trò chơi học tập.
+Tổ chức cho trẻ vẽ tranh theo ý
thích về tuần lê sức khỏe.
+ Làm quen các vận động mới
16
+ Dạo chơi buổi sáng: Tổ chức các cho chủ đề nhánh sắp tới.
trò chơi; “ném vòng cổ chai”, +Tổ chức cho trẻ các trò chơi
“chuyền trứng”, “cài cởi cúc áo”, vận động ở khu GDTC.
“buộc dây”.
Trong ngày hội, tất cả trẻ đều được tham gia trực tiếp vào hoạt động thể
dục, thể thao; thi đua, thi đấu thể thao một cách tích cực, hào hứng, sôi nổi. Qua
đó, thúc đẩy các hoạt động tập thể, tạo không khí náo nức cho trẻ được tham gia
“Biểu diễn”, “Thi tài” cùng tập thể lớp mình cho các bạn xem. Qúa trình hoạt
động tập thể như vậy đã phát triển ở trẻ tính linh hoạt, mạnh dạn, tinh thần tập
thể và để lại cho trẻ những cảm xúc vui tươi, phấn khởi, óc thẩm mĩ về “Những
vận động viên tí hon” khi biểu diễn.
Hình ảnh 5 Trẻ lớp tôi đang thể hiện phần thi tự chọn
Hình ảnh 6: Bà Vũ Thị Viên chuyên viên Phòng GD&ĐT trao phần thưởng cho
lớp tôi đạt giải nhất trong hội thi.
18
Sau khi tham gia hội thi và đạt kết quả cao nhất trẻ trong lớp tôi mạnh
dạn, tự tin, khéo léo, tinh thần phấn chấn. Trẻ yêu thích vận động, tích cực tự
giác tham gia vận động cùng cô và các bạn.
Giải pháp 8: Tuyên truyền và phối kết hợp với cha mẹ và cộng đồng
cùng phối hợp thống nhất để chăm lo giáo dục phát triển vận động cho trẻ.
Công tác tuyên truyền đến phụ huynh cũng vô cùng quan trọng. Tôi tham
gia hướng dẫn nội dung giáo dục phát triển vận động tới toàn thể các bậc phụ
huynh trong lớp thông qua trao đổi hàng ngày, qua các góc tuyên truyền.
Tuyên truyền sâu rộng tới cộng đồng để phối hợp với nhà trường trong
việc hình thành một số thói quen tốt trong ăn uống, vệ sinh cá nhân, giữ gìn sức
khỏe và an toàn, những thói quen vận động cần thiết cho trẻ ngay từ khi còn
nhỏ.
Tuyên truyền các nội dung về sự phát triển toàn diện của trẻ, sức khỏe thể
chất và tinh thần, vai trò và nội dung của phát triển thể chất, nhu cầu dinh
dưỡng, thói quen vệ sinh, mốc phát triển thể chất, các bài tập cần dạy trẻ hàng
Hình ảnh 7: Phụ huynh lớp tôi đang tham gia trò chơi cùng con mình
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Qua một năm nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm cũng như tiến hành sửa
đổi theo nhiều cách khác nhau để tìm ra những hướng tốt nhất để phát huy tính
tích cực vận động của trẻ tôi đã đạt được một số kết quả khả quan.
* Về cở sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng.
Ngoài đồ dùng đồ chơi sẵn có tôi đã tự làm một số đồ dùng như: Sử dụng
từ lốp ô tô cũ làm 2 bập bênh, 2 nhún, cổng chui, xích đu, ném; 10 bộ tập tạ, 40
bơm tay, 50 que múa dải lụa, 30 bộ kéo tay, 3 bộ chơi đánh gôn…Và các đồ
dùng phục vụ cho các tiết dạy vận động.
Môi trường trong lớp được sắp xếp theo hướng mở, làm thêm nhiều đồ
chơi kích thích trẻ hoạt động và phát triển toàn diện các nhóm cơ.
Môi trường bên ngoài, sân vườn được quy hoạch lại bố trí khoa học, có
các khu chuyên biệt cho từng vận động như khu vực ném, khu vực bò, khu vực
phát triển vận động tinh khéo léo, có khu vực chơi liên hoàn kết hợp các vận
động bố trí từ dễ đến khó tăng dần yêu cầu chơi.
* Về chất lượng tổ chức giáo dục phát triển vận động.
Thể dục sáng: Sưu tầm được các bài hát thiếu nhi vui nhộn, lựa chọn động
tác phát triển các nhóm cơ phù hợp tạo hứng thú cho trẻ trong giờ thể dục sáng.
Giờ dạy phát triển vận động: Đạt kết quả cao hơn vì tôi đã tìm tòi đổi mới
phương pháp và tiến hành nhiều hình thức linh hoạt sáng tạo.
Hoạt động tham quan dã ngoại, ngày hội ngày lễ được tổ chức đổi mới cả
nội dung và hình thức, các trò chơi vận động trẻ được tham gia cùng bố mẹ đã
tạo mối gắn kết giữa nhà trường và gia đình.
*Về nhận thức:
Đối với giáo viên: Nhận thức được nâng lên, giáo viên không còn lúng
túng khi lựa chọn bài tập, biện pháp tác động, hình thức tổ chức hoạt động phát
20
%
SL
Tỷ lệ
%
SL
Tỷ lệ
%
Trẻ khỏe mạnh, cân nặng chiều cao 35
15 42,9 18 51,4 2
5,7
phát triển bình thường theo lứa tuổi
Thực hiện được các vận động cơ 35
12 34,3 19 54,3 4 11,4
bản một cách vững vàng đúng tư
thế.
Có khả năng phối hợp các giác 35
12 34,3 18 51,4 5 14,2
quan và vận động.
Vận động nhịp nhàng, biết định 35
12 34,3 19 54,3 4 11,4
hướng trong không gian.
Qua một một năm thực hiện chuyên đề: Giáo dục phát triển vận động cho
trẻ trong trường mầm non và phối hợp nhiều biện pháp để phát huy tính tích cực
vận động của trẻ, kết quả đã thể hiện qua bảng khảo sát đó là: Tố chất của trẻ
phát triển tốt hơn, kênh sức khỏe chuyển biến rõ rệt (Trẻ phát triển bình thường
truyền nhiễm không có, trẻ đến trường chuyên cần hơn. Tôi nhận thấy trẻ trở
nên thông minh, nhanh nhẹn rõ rệt, tích cực và chủ động trong mọi hoạt động
tìm tòi và khám phá thế giới xung quanh. Trẻ biết suy nghĩ và đặt ra nhiều câu
hỏi suy luận lý thú cho cả cô và trẻ khác cũng suy nghĩ trả lời. Bên cạnh đó,
ngôn ngữ của trẻ trở nên mạch lạc hơn, trẻ mạnh dạn và tự tin hơn trong giao
tiếp rất nhiều, thói quen lao động tự phục vụ ở trẻ tốt hơn. Không những thế ở
trẻ cũng hình thành những phẩm chất tốt như khả năng phối hợp hoạt động tốt
với các bạn, khả năng tự kềm chế, nhường nhịn bạn, biết chơi cùng bạn và giúp
đỡ bạn. Đó là niềm vui kông chỉ dành cho các bậc cha mẹ mà cũng là niềm vui
lớn của cô giáo mầm non, của những người làm công tác giáo dục.
Vì vậy mỗi giáo viên luôn luôn học hỏi đổi mới phương pháp, hình thức
tổ chức giáo dục trẻ nói chung và giáo dục phát triển vận động nói riêng, xây
dựng kế hoạch tổ chức phát triển vận động cho trẻ phù hợp với tình hình của lớp
và yêu cầu của độ tuổi.
Để trẻ thực hiện tốt bài vận động cần xây dựng bài tập vận động đảm bảo
tính khoa học và hệ thống, đảm bảo tính vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân
của trẻ.
Để phát huy được tính tích cực vận động của trẻ cần xây dựng môi trường
kích thích trẻ vận động.
Khi tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động cần có những hình
thức phong phú, đa dạng và sáng tạo để lôi cuốn trẻ tham gia hoạt động và
22
sử dụng nhiều trò chơi để trẻ vận động.
Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí trẻ khi tổ chức các hoạt động vận động
cần khuyến khích tính tích cực, tự giác ở trẻ.
Tổ chức thể dục sáng cho trẻ tổ chức thường xuyên liên tục, đều đặn và đúng giờ
kết hợp dụng cụ như: Qậy thể dục, nơ, vòng ,.. để trẻ tập tích cực hơn.
Vận động mang yếu tố thi đua để từ đó trẻ cố gắng vì vậy giáo viên cần tổ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình: Hướng dẫn tổ chức các hoạt động Giáo dục phát triển vận
động cho trẻ trong trường Mầm non - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
2. Giáo trình: Chương trình giáo dục mầm non - Nhà Xuất bản giáo dục
Việt Nam.
3. Giáo trình: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non
- Đặng Hồng Phương - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
4. Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em - Đặng Hồng Phương - Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm.
5. Phát triển tính tích cực vận động cho trẻ mầm non - Đặng Hồng
Phương - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
6. Tài liệu tập huấn chuyên đề: Giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong
trường Mầm non tháng 8 năm 2014 do phòng GD&ĐT Hà Trung tổ chức.
24
PHỤ LỤC
NỘI DUNG
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9