skkn một số phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu sổ - Pdf 44

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất giúp con người biểu đạt
được những mong muốn, sở thích, tình cảm, cảm xúc của mình… Một đứa trẻ
bắt đầu phát triển ngôn ngữ, thậm chí trước khi có trẻ dùng tư ngữ như khóc,
hay khi muốn đòi cái gì đó khi còn nhỏ. Việc chậm phát triển kỹ năng ngôn ngữ
có thể ảnh hưởng không tốt đến trẻ cũng như thiếu hụt khả năng truyền tải thông
tin sau này. Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc
thiểu số là rất quan trọng đối với trẻ nhỏ trong việc trao đổi thông tin chính xác
với bạn bè, người thân trong gia đình và những người xung quanh theo cách có ý
nghĩa nhất, đặc biệt là đối với trẻ dân tộc thiểu số; việc phát triển ngôn ngữ sẽ
giúp trẻ dễ hòa nhập trong giao tiếp và thu nhận thông tin kiến thức. Có nhiều
cách biểu đạt ngôn ngữ, nhưng thông qua tác phẩm văn học thì việc phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ sẽ là con đường ngắn nhất và nhanh nhất.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ
làm chất liệu để chiếm lĩnh, tái hiện thế giới. Qua những tác phẩm văn học thế
giới tràn đầy âm thanh màu sắc, hình khối ngôn ngữ đã dần được hiện lên trong
trí tưởng tượng về cuộc sống gần gũi, quen thuộc của trẻ.
Ngôn ngữ chính là phương tiện quan trọng để phát triển trí tuệ, giúp cho
việc tiếp thu kiến thức học tập tốt, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mạch lạc.
Đó là nền tảng để hiểu về thế giới văn học và tiếp nhận nhiều tri thức mới. Vì
vậy, cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một trong những nội dung quan
trọng cho trẻ mẫu giáo.
Đối với trẻ mẫu giáo khi làm quen với tác phẩm văn học qua sự truyền thụ
của giáo viên, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, ngôn ngữ, phát triển tình cảm
và kỹ năng xã hội, rèn luyện được khả năng chú ý, tái tạo và đặc biệt phát triển
khả năng trí tưởng tượng sáng tạo. Ngoài ra, việc cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học còn phát triển tư duy trực quan hành động và đặc biệt phát triển ngôn
ngữ mạch lạc cho trẻ. Khi trẻ làm quen với các tác phẩm văn học tạo nền tảng để
giúp trẻ thể hiện sự tự tin, thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình trước sự vật,
hiện tượng xung quanh và diễn đạt rõ ràng, giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống

2. Mục đích nghiên cứu.
Xây dựng một số phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số thông qua việc làm quen với tác phẩm văn
học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, hòa nhập trẻ dân tộc thiểu số.
Một số vấn đề khi cho trẻ dân tộc thiểu số làm quen với tác phẩm văn học
trong trường mầm non.
Thực trạng phát triển ngôn ngữ khi cho trẻ dân tộc thiểu số 3 tuổi làm
quen với tác phẩm văn học trong trường Mầm non Quang Chiểu.
Nghiên cứu tìm ra nhiều phương pháp khác nhau phù hợp với từng chủ đề
để dạy trẻ, giúp trẻ có hứng thú trong tiết học nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số khi làm quen với tác phẩm văn học.
Đề xuất những biện pháp chỉ đạo và dạy học môn làm quen với tác phẩm
văn học cho trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số học tiếng Việt.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu 31 trẻ mẫu giáo 3 tuổi khu Pùng trường mầm non Quang
Chiểu - Thuộc vùng dân tộc thiểu số qua việc làm quen với tác phẩm văn học.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu từ Internet, tập san,
sách báo có liên quan đến đề tài;
- Phương pháp điều tra giáo dục;
- Phương pháp quan sát sư phạm;
- Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp;
- Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin;
- Phương pháp kiểm tra đánh giá;
- Phương pháp thực hành nghệ thuật.
2


II : NỘI DUNG

ở vùng dân tộc thiểu số trong trường Mầm non.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a. Đối với giáo viên.
Chưa phát huy hết khả năng sáng tạo, linh hoạt trong tổ chức hoạt động
phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số, đôi khi còn
dập khuôn, máy móc, chưa có kinh nghiệm khi xây dựng kế hoạch giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm.
Chưa khai thác hết khả năng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3 tuổi ở
vùng dân tộc thiểu số, chưa chú ý đến việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của trẻ
dân tộc trong các hoạt động hằng ngày.
Giáo viên ít có thời gian làm đồ dùng, đồ chơi để phục vụ cho các hoạt
động phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số.
3


Khả năng truyền thụ tác phẩm văn học của giáo viên không đồng đều, một
số giáo viên còn hạn chế khi trò chuyện, đàm thoại, chưa tận dụng hết khả năng
phát triển kỹ năng nghe, hiểu, nói của trẻ.
b. Đối với trẻ.
Nhận thức của trẻ không đồng đều, khả năng sáng tạo của trẻ còn hạn chế.
Số trẻ đông, một số trẻ còn quá hiếu động, một số trẻ nhút nhát nên việc
rèn kỹ năng cá nhân ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức. Số trẻ 3 tuổi là
người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao (28 trẻ = 90,3%) tổng số trẻ.
Khả năng giao tiếp của trẻ còn nhiều hạn chế, vốn từ của trẻ chưa phong
phú do bất đồng ngôn ngữ; quá trình trải nghiệm, tiếp xúc với môi trường bên
ngoài còn có những hạn chế nhất định.
Sự khác biệt về văn hóa các dân tộc, trong đó, ngôn ngữ cũng ảnh hưởng
tới việc học tiếng Việt của trẻ mẫu giáo ở vùng dân tộc thiểu số.
Một số trẻ còn nói ngọng, phát âm không chuẩn (theo tiếng địa phương),
điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự tiếp thu kiến thức của trẻ.


cạnh đó, khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ rất ít giơ tay phát biểu,
chủ yếu do cô dùng biện pháp khuyến khích và gọi đích danh tên trẻ, lúc đó trẻ
mới có phản ứng, nhưng câu trả lời của trẻ thường diễn ra không theo ý nghĩa
của câu hỏi
Văn học dành cho trẻ từ lâu đã trở thành dụng cụ hữu hiệu nhất giúp trẻ
phát triển ngôn ngữ; đồng thời, qua đó giúp trẻ phát triển về cả mặt nhận thức và
tình cảm xã hội cùng với kỹ năng giao tiếp.
Dựa vào đặc điểm tình hình của lớp, đặc điểm tâm lý, nhận thức của trẻ là
người Kinh với trẻ là người dân tộc thiểu số khi tôi đưa ra bảng khảo sát, đánh
giá và so sánh, kết quả như sau:
* Đối với trẻ là dân tộc Kinh: 03 trẻ
Nội dung
Nghe hiểu nội dung tác phẩm
văn học
Nghe và làm theo từ 3 lời chỉ
dẫn liên tiếp trở lên
Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ câu,
không nói lắp, nói ngọng
Tự tin khi giao tiếp, biết kể lại
trình tự sự việc một cách mạch
lạc
Biết kể chuyện theo tranh, đọc
sách qua hình vẽ

Tốt
03 trẻ
-100%
02 trẻ 66,7%
03 trẻ 100%


0 trẻ - 0%

01 trẻ 33,3%

01 trẻ 33,3%

0 trẻ - 0%

* Đối với trẻ là dân tộc thiểu số: 28 trẻ
Nội dung
Tốt
Khá
Nghe hiểu nội dung tác phẩm 0 trẻ - 0%
02 trẻ văn học
7,1%
Nghe và làm theo từ 3 lời chỉ 0 trẻ - 0%
01 trẻ dẫn liên tiếp trở lên
3,6%
Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ câu, 0 trẻ - 0%
04 trẻ không nói lắp, nói ngọng
14,3%
Tự tin khi giao tiếp, biết kể lại
trình tự sự việc một cách mạch 0 trẻ - 0% 0 trẻ - 0%
lạc
Biết kể chuyện theo tranh, đọc
0 trẻ - 0% 0 trẻ - 0%
sách qua hình vẽ

Xếp loại

trong hoạt động giảng dạy ở trường Mầm non.
3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
a.Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ
cho bản thân.
Công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho bản
thân tôi cho rằng đó là một giải pháp rất quan trọng. Bởi vì nếu không tự bồi
dưỡng kiến thức sẽ ngày càng mai một theo thời gian. Khi bản thân có kiến thức,
kỹ năng, tổ chức hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhất là bồi
dưỡng lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở vùng dân tộc thiểu số.
Tìm hiểu đặc điểm, tâm sinh lý của trẻ dân tộc thiểu số theo lứa tuổi. Học
tập ngôn ngữ của dân tộc thiểu số để giao tiếp, hiểu được nhu cầu, mong muốn
của trẻ khi chưa biết thể hiện qua ngôn ngữ tiếng Việt nhằm giúp đỡ trẻ.
Nắm chắc mục tiêu, nội dung, kết quả mong đợi trong chương trình giáo
dục mầm non nói chung và trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi ở
vùng dân tộc thiểu số nói riêng.
Căn cứ mục tiêu, nội dung, kết quả mong đợi của từng độ tuổi trong lĩnh
động xây dựng kế hoạch hoạt động, hình thức tổ chức các hoạt động phát triển
ngôn ngữ cho trẻ, lựa chọn phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm sao cho
phù hợp, hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ
Thường xuyên nghiên cứu tài liệu, giáo trình về giáo dục Mầm non, nhất
là sách hướng dân thực hiện chương trình giáo dục các độ tuổi, bồi dưỡng
thường xuyên, đặc biệt là tài liệu (hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ Mẫu
giáo vùng dân tộc thiểu số).
Hàng tháng lên kế hoạch tự học tập, tự bồi dưỡng về những mặt còn hạn
chế như: Thiết kế một hoạt động phát triển ngôn ngữ. Bản thân tôi luôn phải đọc
kỹ tác phẩm, phân tích kỹ nội dung của tác phẩm, đưa ra bài học gì qua tác
phẩm, qua tác phẩm giáo dục trẻ những nội dung gì; từ đó tôi đưa ra mục tiêu
của hoạt động. Tôi tìm và chọn những phương tiện hỗ trợ cho việc đưa tác phẩm
đến với trẻ một cách dễ hiểu và hứng thú nhất, sau đó tiến hành làm đồ dùng, đồ
chơi phục vụ cho hoạt động

quen với tác phẩm văn học” là các kiến thức khi truyền thụ đến trẻ phải hết sức
ngắn gọn, tuyệt đối tránh hình thức, dập khuôn, luôn sáng tạo đổi mới câu từ
phù hợp. Vì thế, trước khi thực hiện một tiết dạy “Làm quen với tác phẩm văn
học” tôi phải chuẩn bị đồ dùng, soạn bài và nghiên cứu kỹ bài soạn. Nắm rõ yêu
cầu của bài dạy, chọn trò chơi phù hợp với nguyên tắc chủ đề. Chuẩn bị tâm thế
bằng cách tôi luyện đọc, kể tác phẩm văn học nhiều lần để câu từ luôn chính
xác, rõ ràng, giúp trẻ dễ hiểu, nhập tâm vào tác phẩm để truyền tình cảm của
mình tới tất cả các học sinh trong lớp, đặt ra những tình huống sư phạm và
nghiên cứu tìm ra biện pháp giải quyết hữu hiệu nhất.
Ví dụ: Với tiết thơ, tôi chuẩn bị bài thơ với tranh, hình ảnh động sáng tạo
cho trẻ làm quen. Đầu tiên tôi đọc thơ diễn cảm cho trẻ nghe nhiều lần, cho trẻ
đọc đi đọc lại nhiều lần theo tổ, nhóm, cá nhân dưới nhiều hình thức: Luân phiên
theo tổ, to, nhỏ, nối tiếp… Trong quá trình trẻ đọc thì tôi chú ý lắng nghe, quan
sát, khen ngợi, động viên trẻ. Chú ý đến trẻ dân tộc thiểu số: quan tâm trẻ, trao
đổi, cho trẻ đọc đi đọc lại nhiều lần trước lớp, sửa sai cho trẻ.

7


Qua những tiết hoạt động có chủ đích như vậy: Trẻ là người dân tộc thiểu
số rất hứng thú, sôi nổi tham gia trả lời câu hỏi của tôi đưa ra, đồng thời trẻ đã
biết sử dụng câu hỏi của mình để giải quyết những thắc mắc của bản thân, thích
được thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình với tác phẩm văn học: “Con thích
nhân vật cô Út, vì cô Út có hiếu với mẹ”… trẻ đã biết kết hợp thảo luận, trao đổi
với các bạn trong nhóm của mình: “Mình thích hoặc không thích nhân vật này,
vì nhân vật này có hiếu, hay nhân vật này không yêu thương mẹ…”
c. Giải pháp 3: Vận dụng các kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc của trẻ.
Vận dụng các kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc, để có kế hoạch bổ sung,
rèn luyện cho trẻ thường xuyên trong ngày, trong các hoạt động để trẻ được
quan sát, nghe, nói, đọc một cách đầy đủ. Từ kết quả khảo sát đó, tôi có kế

Tôi thường cho trẻ đọc các bài thơ dưới nhiều hình thức: đọc đồng dao,
đọc to – nhỏ, đọc luân phiên theo tổ, từ đó trẻ nghe được các âm thanh, ngữ
điệu, giọng nói khác nhau và độ to, nhỏ, nhanh, chậm của giọng nói, giọng đọc.
Tôi thường xuyên mở rộng và liên hệ với thực tế gần gũi với cuộc sống hàng
ngày của trẻ để trẻ tăng khả năng giao tiếp với cuộc sống xã hội.

9


Tôi thường sưu tầm những bộ phim, hình ảnh, làm giáo án điện tử trên
máy tính cho trẻ xem, trẻ khám phá kích thích sự tò mò ham hiểu biết của trẻ.
* Kỹ năng nói – đọc: Giúp trẻ nói – đọc mạch lạc, rõ ràng, tròn vành, rõ
chữ, nói đủ câu, không nói lắp, nói ngọng, dạy trẻ hiểu mối quan hệ giữa lời nói
và chữ viết bằng nhiều cách khác nhau: Tôi chú ý quan sát, lắng nghe khi trẻ thể
hiện tác phẩm, nhận ra điểm sai và sửa cho trẻ bằng cách cho trẻ đọc đi đọc lại
nhiều lần.
Ví dụ: Trong lớp có cháu Kim Ngân nói ngọng, âm “v” thành “b”. Khi đó
tôi thường cho cháu đọc những bài thơ có nhiều âm “v” và mỗi lần cháu đọc sai,
tôi lại đọc lại hoặc cho bạn khác không bị ngọng đọc lại câu đó, cứ như vậy
nhiều lần cháu sẽ khắc phục được và không bị nói ngọng nữa.
Bổ sung vốn từ ngữ cho trẻ, tạo cho trẻ có thói quen nói đầy đủ câu, rõ ý.
Ví dụ: Khi học xong tác phẩm “3 cô gái”, cô hỏi trẻ: “Qua câu chuyện con
yêu quý và học tập ai?” thì trẻ sẽ trả lời “Cô Út”; như vậy vẫn chưa đủ câu, để
giúp trẻ tôi lại hỏi ngược lại lần nữa: “Ai yêu quý và học tập cô Út nhỉ?”. Lúc
này trẻ sẽ có câu trả lời đầy đủ và rõ ràng, đó là: “Con yêu quý và học tập cô Út
ạ”.
Nhờ có kỹ năng quan sát, nghe, nói đọc trẻ sẽ biết thể hiện tối đa nhất về
tình cảm của mình cho tác phẩm văn học bộc lộ lên qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,
lời nói. Đây cũng chính là những bước để tôi nắm bắt được đặc điểm tâm, sinh
lý của từng trẻ mà đặc biệt là trẻ dân tộc thiểu số trong lớp. Từ đó, tôi đưa ra

hào hứng, phấn khởi, gần gũi, thân quen.
e. Giải pháp 5: Tích hợp qua các hoạt động khác.
Theo yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay, việc tổ chức cho trẻ
vùng dân tộc thiểu số làm quen với tác phẩm văn học cần phải đặc trong mối
liên hệ với các hoạt động khác cùng chủ đề; phải tổ chức theo tính tích hợp
nhằm kích thích tính tích cực và huy động được nhiều kinh nghiệm sống của trẻ.
Để thực hiện được yêu cầu này, tôi dựa trên khả năng, đặc điểm tâm lý,
sinh lý của trẻ vùng dân tộc thiểu số, khả năng của chính mình và những điều
kiện cụ thể của trường, lớp, địa phương để lựa chọn hướng tích hợp mang lại
hiệu quả nhất.
Tích hợp môn âm nhạc: Tôi thường chọn những bài thơ, câu chuyện ngắn
phù hợp với nội dung bài hát. Cho trẻ đọc thơ, kể cho trẻ nghe những mẩu
chuyện ngắn trong phần tạo hứng thú và cũng có thể ở phần kết thúc nếu phù
hợp. Ví dụ như khi cho trẻ hát theo nhạc bài hát “Màu hoa” cho trẻ làm quen với
tác phẩm thơ “Bó hoa tặng cô”.
Tích hợp môn khám phá khoa học: Môi trường xung quanh trẻ rất đa dạng
và phong phú. Ví dụ khi cho trẻ “Tìm hiểu về một số con vật nuôi trong gia
đình”, tôi sử dụng câu đố về con vật đó cho trẻ đoán, qua đó trẻ cũng được phát
triển vốn từ của mình…
Tích hợp môn làm quen với Toán: Trong khi cho trẻ làm quen với Toán,
tôi sử dụng các nhân vật trong tác phẩm, gắn số thẻ tương ứng. Hoặc trong câu
truyện đó. Đặt ra các câu hỏi khác nhau như: Trong truyện có mấy nhân vật, có
mấy người con, có mấy anh em? Như vậy trẻ sẽ phải nhẩm và đếm số người
trong tác phẩm đó và trả lời.
Tích hợp môn Tạo hình: Sau khi trẻ đã hoạt động nhiều thì môn tạo hình
rất phù hợp với trạng thái tĩnh. Tôi cho trẻ tô màu các nhân vật đó theo yêu cầu
của cô. Tôi dùng câu hỏi gợi mở yêu cầu trẻ nhẹ nhàng hình dung tưởng tượng
và tô màu các nhân vật trong tác phẩm.

11

Ví dụ: Góc khám phá khoa học - thiên nhiên, tôi cùng trẻ tạo hình ảnh bà,
Tích Chu bằng cách xếp hình từ cây, que, lá khô, sỏi. Vẽ hình ảnh, chân dung
bà, Tích Chu, Cô Tiên trên cát. Khi thực hiện xong tôi cho trẻ kể lại truyện theo
trình tự diễn biến, miêu tả các nhân vật bằng ngôn ngữ.
Hoạt động ngoài trời, tôi cho trẻ quan sát và kể lại hoặc đọc các tác phẩm
văn học thông qua hoạt động quan sát, đàm thoại, nhận xét. Muốn trẻ học được
bài hiệu quả, tiếp thu nhanh và nhớ lâu, nếu trẻ được trực tiếp tham gia vào các
hoạt động đó; tôi sưu tầm, sáng tác một số trò chơi khi cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học tăng hứng thú, cung cấp, củng cố kiến thức, kỹ năng cho trẻ.
Tôi đóng vai trò là người hướng dẫn trẻ, hoặc có thể cũng là một trong
những vai chơi trong nhóm để chơi cùng trẻ.
Trò chơi “Kể chuyện theo tranh”. Cách chơi: Khi cô đưa tranh của đoạn
nào trong tác phẩm thì trẻ phải kể lại diễn biến của đoạn đó. Vì vậy bản thân tôi
luôn chịu khó tìm tòi sưu tầm và sáng tạo, sáng tác ra các trò chơi và biết vận
dụng hợp lý các trò chơi đó vào các giờ học ở mọi lúc, mọi nơi một cách phù
hợp sẽ kích thích trẻ ham tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, trẻ sẽ hứng thú hơn khi đến
lớp và sẽ sôi nổi khi tham gia các hoạt động.
Đặc biệt hơn nữa là các trò chơi dân gian, với trò chơi dân gian có đặc
điểm thường là các trò chơi có lời: Hò, vè, đồng dao… trẻ vừa chơi vừa đọc lời
trong trò chơi bằng tiếng Việt. Qua đó vốn từ của trẻ ngày càng phát triển phong
phú hơn.
Hoạt động chiều, cho trẻ múa hát những bài thơ được phổ nhạc sang thành
bài hát hoặc đồng dao hay tổ chức cho trẻ đóng kịch: Trẻ sẽ được trực tiếp nhập
vai và trở thành nhân vật trong tác phẩm văn học; như vậy trẻ sẽ phát triển toàn
diện hơn.
Mọi hoạt động trong ngày của trẻ đều được lồng ghép các tác phẩm văn
học, mọi lúc mọi nơi trẻ ở vùng dân tộc thiểu số đều được thể hiện bằng ngôn
ngữ tiếng Việt sẽ giúp trẻ tạm thời quên đi tiếng mẹ đẻ khi đến lớp, đến trường,
từ đó vốn từ ngữ của trẻ càng được mở rộng và phong phú hơn, trẻ dần hòa nhập
mình vào ngôn ngữ tiếng Việt. Trẻ nói chính xác câu từ, vành tròn, rõ chữ,

hay gọi trẻ phát biểu, dùng nhiều hình thức hấp dẫn thu hút trẻ chú ý hơn. Sau
khi thực hiện được một thời gian thì thấy trẻ ít nghịch và ham học hơn, thích
giúp đỡ bạn và thích tham gia các trò chơi học tập, nhớ được nội dung và chủ để
của tác phẩm và thích các nhân vật trong tác phẩm văn học.
Sự gần gũi, yêu thương của cô và hòa đồng với các trẻ sẽ giúp trẻ yên tâm
cả về thể chất và tinh thần; tự tin, mạnh dạn giao tiếp, trao đổi ý kiến của mình
với mọi người bằng ngôn ngữ tiếng Việt.
h. Giải pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin.
Trong giai đoạn đổi mới, việc ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin
vào công tác giảng dạy là vô cùng quan trọng, sử dụng công nghệ thông tin giúp
cho trẻ có tư duy trực tiếp để phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ hứng thú bao
nhiêu thì kết quả đạt được càng lớn. Nếu lựa chọn đề tài để dạy trẻ trên mọi tiết
học mà chỉ có tranh ảnh không thì trẻ rất dễ bị nhàm chán, chất lượng trẻ chắc
chắn sẽ không cao; hơn nữa sẽ không phát huy được tính tích cực, chủ động,
ham hiểu biết của trẻ. Chính vì vậy mà tôi luôn tìm tòi các trò chơi trên máy tính
với những hình ảnh sinh động và ngộ nghĩnh; đồng thời, tôi cũng khám phá
những trò chơi trong phần mềm Kidsmart, kixpix và happykids đưa ra cho trẻ
chơi và khám phá thêm về cuộc sống xung quanh trẻ.
Tôi cho trẻ trực tiếp lên thực hiện thao tác như: Vẽ, tô màu chân dung
nhân vật nào đó trong tác phẩm văn học trên phần mềm kixpix và đánh dấu bài
của mình bằng kí hiệu riêng, khi trẻ thực hiện xong tôi in ra và treo tranh lên góc
“Tranh đẹp của bé” để trẻ có cơ hội quan sát, ngắm lại những ý tưởng riêng của
mình, đồng thời cũng thông báo tới các bậc phụ huynh về khả năng cảm nhận
tác phẩm văn học và trí tái tạo, tưởng tượng, sáng tạo của con em mình.
Tôi thường xuyên sưu tầm những tài liệu về các tác phẩm văn học, những
bộ phim hoạt hình được chuyển thể từ các tác phẩm văn học, những bài thơ, bài
14


hát, vè, đồng dao… hợp với lứa tuổi, phù hợp với sức của tiếp thu của trẻ để

Trẻ nói – đọc mạch lạc, rõ ràng, rõ chữ, nói đủ câu, không bị nói lắp, nói
ngọng, trẻ đã hiểu được mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết. Đặc biệt và bất
ngờ hơn, đó là trẻ nhập tâm vào trong các nhân vật của tác phẩm văn học và đã
biết dùng lời nói, cử chỉ, hành động, điệu bộ để thể hiện rõ ràng cảm xúc. Quan
sát được các cử chỉ, điệu bộ, sắc thái: Vui, buồn, đồng ý hoặc không đồng ý của
người khác theo từng tình huống khác nhau.
Trẻ nghe và phân biệt được các âm thanh, ngữ điệu, giọng nói khác nhau
và độ to, nhỏ, nhanh, chậm của giọng nói, giọng đọc. Biết trả lời những câu hỏi
về nguyên nhân, kết quả, so sánh và đã biết đặt câu hỏi, tại sao, như thế nào, để
làm gì?... cho người khác. Dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để thể hiện cảm xúc
của mình, phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh giao tiếp.
Phụ huynh của trẻ ở vùng dân tộc thiểu số đã nhận thức rõ tầm quan trọng
15


của ngôn ngữ tiếng Việt, qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, đặc
biệt hơn nữa là rất phấn khởi khi thấy con em mình biết thể hiện một tác phẩm
văn học có trình tự, thể hiện tình cảm, cảm xúc của mình vào trong tác phẩm.
Qua việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên, tôi đã thu được một
số thành quả cụ thể như sau:
* Đối với trẻ dân tộc Kinh: 03 trẻ
Nội dung
Nghe hiểu nội dung tác
phẩm văn học
Nghe và làm theo từ 3 lời
chỉ dẫn liên tiếp trở lên
Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ
câu, không nói lắp, nói
ngọng
Tự tin khi giao tiếp, biết

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

03 trẻ 100%

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

03 trẻ 100%

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

0 trẻ - 0%

* Đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số: 28 trẻ
Nội dung
Nghe hiểu nội dung tác
phẩm văn học
Nghe và làm theo từ 3 lời chỉ
dẫn liên tiếp trở lên
Mạch lạc, rõ ràng, nói đủ
câu, không nói lắp, nói

08 trẻ 28,6%

10 trẻ 35,7%

07 trẻ - 25%

03 trẻ 10,7%

07 trẻ 25%

08 trẻ 28,6%

10 trẻ 35,7%

03 trẻ 10,7%

0 trẻ - 0%
0 trẻ - 0%

Nhìn vào bảng đánh giá, so sánh trên, tôi nhận thấy sau khi áp dụng
những biện pháp trên vào việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3 tuổi ở
vùng dân tộc thiểu số. Tôi thấy nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ ở vùng dân
tộc thiểu số có tỷ lệ tương đương với nội dung phát triển ngôn ngữ của trẻ em
dân tộc Kinh.
16


Bảng so sánh kết quả đánh giá trẻ ở vùng dân tộc thiểu số đầu năm và
cuối năm:
Các nội

Yếu

0 trẻ
0%

02 trẻ
7,1%

08 trẻ
28,6%

18 trẻ 16 trẻ
64,3% 57%

0 trẻ
0%

01 trẻ
3,6%

06 trẻ
21,4%

21 trẻ
75%

Tốt

12 trẻ
42,8%

14 trẻ
50%

20 trẻ
71,4%

07 trẻ
25%

01 trẻ
3,6%

0 trẻ
0%

0 trẻ
0%

0 trẻ
0%

4 trẻ
14,3%

24 trẻ 08 trẻ
85,7% 28,6%

10 trẻ
35,7%


Nhìn vào bảng so sánh trẻ, tôi thấy sau khi áp dụng giải pháp vào thực
tiễn chăm sóc giáo dục trẻ, đến cuối năm các nội dung đánh giá tỷ lệ % trẻ ở
vùng dân tộc thiểu số đạt tốt và khá nâng lên rõ rệt, tỷ lệ yếu kém giảm xuống
đáng kể tăng tỷ lệ “Tốt”, “Khá” gần tương đương với trẻ dân tộc Kinh.
Với những giải pháp đã sử dụng trong quá trình giảng dạy, tôi xin rút ra
một số kinh nghiệm như sau:
Luôn không ngừng trau dồi kiến thức, sáng tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ. Nắm vững yêu cầu phương pháp bộ môn khi cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học. Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi sáng tạo, sinh động,
phù hợp đối với trẻ. Tổ chức tốt các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân
tộc thiểu số; có khả năng truyền thụ tác phẩm văn học đến với trẻ, khai thác hết
khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói chung và trẻ 3 tuổi ở vùng dân tộc
thiểu số nói riêng

17


III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Trong môi trường hoạt động ngôn ngữ thì các kỹ năng nghe, hiểu, nói của
trẻ được phát triển tốt nhất. Mỗi hoạt động có những đặc thù riêng, nhưng đều
có tác dụng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Để giúp trẻ mẫu giáo 3 tuổi ở vùng
dân tộc thiểu số phát triển mạch lạc ngôn ngữ tiếng Việt, cảm thụ tốt nhất khi
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, bản thân tôi cũng không ngừng trau dồi
kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, tìm hiểu ngôn ngữ tiếng dân tộc, tìm hiểu đặc
điểm riêng của từng trẻ mẫu giáo là người dân tộc thiểu số bằng cách khảo sát
trẻ thường xuyên, theo dõi trẻ qua các hoạt động trong ngày để tìm ra nguyên
nhân, để từ đó có biện pháp phù hợp giúp đỡ, gần gũi trong ngôi nhà của mình,
đồng thời cảm thấy được sự mới lạ mà gần gũi yêu thương, thích đến lớp hơn ở
nhà. Tạo môi trường trong và ngoài lớp đa dạng, phong phú cho trẻ hoạt động,

18


Làm quen với tác phẩm văn học để giáo viên được trao đổi những vướng mắc
trong chuyên môn. Xây dựng khu vườn cổ tích ngoài trời chung cho toàn trường
để trẻ được vui chơi, học tập, trải nghiệm và giao lưu, trao đổi, giao tiếp.
Đề nghị Phòng Giáo dục và đào tạo chọn những sáng kiến kinh nghiệm có
chất lượng để phổ biến rộng rãi cho chúng tôi được tham khảo, học tập. Tạo điều
kiện cho giáo viên đi học tập các trường bạn, được tham gia các giờ dạy mẫu.
Đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học: Máy in, máy chiếu,
tranh ảnh, trang phục cho trẻ để trẻ biểu diễn, đóng kịch lại một tác phẩm văn
học.
Trên đây là một số phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 3
tuổi ở vùng dân tộc thiểu số khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học mà tôi
đã rút ra được trong quá trình giảng dạy. Với khuôn khổ một bài viết nhỏ, vấn đề
chỉ dừng lại ở một phạm vi hạn chế. Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề
tài không thể tránh khỏi những thiếu xót nhất định; Bản thân tôi rất mong nhận
được các ý kiến đóng góp của Ban Giám hiệu, lãnh đạo, bộ phận chuyên môn
Phòng Giáo dục và đào tạo, các đồng chí đồng nghiệp góp thêm ý kiến để tôi
chỉnh sửa, bổ sung trong thời gian tới, để sáng kiến kinh nghiệm được chất
lượng hơn cả về nội dung và hình thức, gắn với triển khai thực hiện có hiệu quả
trong công tác giảng dạy trẻ ở vùng dân tộc thiểu số./.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 06 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status