Khắc phục một số lỗi cho học sinh khi giải dạng bài toán bài toán liên quan đến việc rút về đơn vị dạng a b x c - Pdf 44

TT
1

Nội Dung
I. MỞ ĐẦU

Trang
2

2

Lý do chọn đề tài

2

3

Mục đích nghiên cứu

2

4
5

Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

2
2

6


4

12

2.3. Các giải pháp thực hiện

4

13

* Các biện pháp tổ chức thực hiện

4

14
15

1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài nhận dạng bài toán

5-9

2. Giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ
chức dạy trong từng tiết học để hướng dẫn học sinh học tập một
cách chủ động, tích cực

9-10

16


ra qui tắc ở dạng khái quát nhất định hay nói một cách khác dạy học giải toán sẽ
phát triển khả năng suy luận, lập luận và trình bày các kết quả theo một trình tự hợp
lý làm cơ sở cho quá trình dạy học toán ở các lớp cao hơn sau này.
Đối với học sinh lớp 3, là lớp kết thúc giai đoạn I của bậc tiểu học. Đây là giai
đoạn quan trọng giúp các em hình thành các kĩ năng giải toán có lời văn. Ở lớp 3
các em được làm quen với các dạng toán có lời văn như tìm một trong các phần
bằng nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần,…và đặc biệt là
học sinh biết giải toán có lời văn bằng hai phép tính như dạng bài toán liên quan
đến việc rút về đơn vị. Việc các em nắm vững các kĩ năng giải toán có lời văn ở lớp
3 sẽ là tiền đề, là cơ sở vững chắc để các em giải tốt các dạng toán có lời văn ở giai
đoạn II bậc tiểu học.
Qua thực tế giảng dạy lớp 3, tôi thấy khả năng giải toán có lời văn của học
sinh còn nhiều hạn chế nhất là những bài toán hợp giải bằng hai phép tính. Nguyên
nhân chính là do các em còn nhầm lẫn giữa các dạng bài toán giống nhau, rập
khuôn theo mẫu hoặc công thức mà không hiểu được bản chất của dạng toán nên
không giải thích được cách làm; khả năng tư duy của các em còn kém…
Xác định được vị trí, tầm quan trọng trong việc dạy học giải toán có lời văn, tôi xét
thấy cần phải tìm hiểu, trao đổi với đồng nghiệp nội dung “Bài toán liên quan đến
việc rút về đơn vị dạng a : b x c”, nhằm khắc phục một số lỗi cho học sinh lớp 3B
trường tiểu học Yên Thọ 1 khi học dạng toán này.
- Mục đích nghiên cứu:
Để nâng cao hiệu quả dạy học môn toán nói chung và dạng toán “Bài toán
liên quan đến việc rút về đơn vị dạng a : b x c”. Từ đó giáo viên hiểu rõ hơn về
các bước tiến hành dạy nhằm khắc phục một số lỗi cho học sinh khi giải dạng toán
này. Hình thành cho các em kĩ năng khi giải dạng bài toán này.
- Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 3B, trường tiểu học Yên Thọ 1, huyện Như Thanh
- Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp dạy học đổi mới

* Đối với bài hình thành kiến thức mới (tiết 122 trang 128 SGK Toán 3)
Bài toán 1: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu đề, phân tích bài toán, lựa
chọn phép tính thích hợp và ghi bài giải như sách giáo khoa.
Bài toán 2: Giáo viên tiến hành tương tự như bài toán 1 và rút ra các bước giải của
dạng toán.
Phần bài tập giáo viên tổ chức cho học sinh làm lần lượt các bài tập trong
sách giáo khoa sau đó chữa bài và nêu cách làm đúng.
Qua dự giờ tiết này tôi thấy: Khi hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức
mới qua hai bài toán mẫu giáo viên:
+ Chưa giải thích cho học sinh rõ các thuật ngữ, các khái niệm toán học có
trong bài toán.
+ Chưa khắc sâu được đặc điểm dạng toán thông qua các thuật ngữ toán học
có trong bài .
+ Hình thức tổ chức dạy học còn chưa linh hoạt, gây nhàm chán trong tiết
học, học sinh chưa hứng thú học tập.
* Dự giờ tiết luyện tập ( tiết 123 trang129 SGK Toán 3)
Giáo viên đã tổ chức cho các làm các bài tập theo các hình thức phong phú
hơn nhưng học sinh còn làm sai nhiều do chưa hiểu được bản chất của dạng toán và
sau mỗi bài tập giáo viên chưa củng cố và khắc sâu đặc điểm của từng bài cụ thể.
* Thực trạng của học sinh:
Qua thực tế giảng dạy và qua dự giờ thăm lớp tôi thấy:
3


+ Khi tìm hiểu đề toán các em còn lúng túng trước những khái niệm, những
thuật ngữ toán học.
+ Các em chưa nắm được bản chất của dạng toán nên đưa ra cách giải sai
hoặc rập khuôn máy móc theo bài mẫu.
+ Học sinh còn lúng túng khi gặp những bài toán có cấu trúc giống nhau về


TL%
68

SL
5

TL%
20

Nhận xét kết quả khảo sát:
Chất lượng làm bài của học sinh còn thấp. Cụ thể nhiều em còn chưa xác
định được cái cần tìm nên giải sai phép tính, sai câu lời giải hoặc câu lời giải chưa
chính xác, chưa phù hợp với phép tính.
2.3 Các giải pháp thực hiện
Từ thực trạng, nguyên nhân của thực trạng nói trên, soi rọi vào cơ sở lí luận
để dạy các “Bài toán liên quan đến việc rút về đơn vị”. Để dạy học có hiệu quả, tôi
xin đề xuất các giải pháp sau:
* Giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để hiểu được dụng ý của
sách giáo khoa, nội dung và yêu cầu trọng tâm của tiết học. Từ đó tìm ra được
phương pháp dạy học phù hợp để giờ học đạt hiệu quả cao.
* Giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết tìm hiểu đề, tóm tắt nội dung bài
toán từ đó nắm được đặc điểm bản chất của dạng toán cũng như nắm được các
bước giải của dạng toán “Bài toán liên quan đến việc rút về đơn vị”.
* Giáo viên cần có những hình thức tổ chức dạy học phù hợp để hướng dẫn
học sinh giải dạng toán “Bài toán liên quan đến việc rút về đơn vị” một cách chủ
động, sáng tạo.
* Các biên pháp tổ chức thực hiện:
Để giúp học sinh nắm vững dạng toán và biết cách giải các bài toán dạng
“Bài toán liên quan đến việc rút về đơn vị” người giáo viên cần nắm được mối quan

+ Hãy gạch hai gạch dưới yêu cầu của bài.
Sau đó tôi yêu cầu học sinh diễn đạt bài toán bằng lời theo cách hiểu của
mình.
Bước tiếp theo cần làm sau khi các em tìm hiểu đề bài là cho các em hiểu rõ
một số khái niệm, thuật ngữ là “mấu chốt” để giải bài toán bằng cách đặt câu hỏi:
+ Em hiểu “chia đều” ở bài toán này là chia như thế nào?
+ Bài toán yêu cầu tìm “mỗi can” tức là tìm mấy can?
Nếu học sinh chưa hiểu đúng được khái niệm này tôi sẽ giải thích để các em
rõ “chia đều”ở bài toán này là chia vào các can mà mỗi can có số lượng mật ong
như nhau, “mỗi can” ở đây cần hiểu là một can.
Tương tự, khi cho học sinh giải các bài tập trong tiết hình thành kiến thức
mới hoặc các bài toán cùng dạng nhưng nội dung câu hỏi khác nhau tôi đều cho học
sinh tự giải thích để hiểu rõ thêm về các khái niệm, thuật ngữ có trong bài.
Như vậy, khi gặp các bài toán dạng này các em không còn cảm thấy bỡ ngỡ hay
lúng túng nữa.
Cụ thể: Đối với các bài tập phần luyện tập trang 128 của tiết hình thành kiến
thức mới:
Bài 1: Có 24 viên thuốc chứa đều trong 4vỉ. Hỏi 3 vỉ thuốc có bao nhiêu viên
thuốc?
Bài 2: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó bao nhiêu kg gạo?
5


Khi cho học sinh làm các bài toán trên tôi đều cho các em tìm hiểu các khái
niệm “chứa đều”, “đựng đều”… tất cả các khái niệm này đều cho ta biết số lượng
thuốc ở mỗi vỉ, số kg gạo ở mỗi bao …đều bằng nhau.
* Tóm tắt bài toán
Nhiều giáo viên khi dạy học sinh giải toán có lời văn thường xem nhẹ hoặc
không chú ý đến việc hướng dẫn học sinh tóm tắt đề. Theo tôi, khi học sinh biết
tóm tắt đề toán tức là các em đã hiểu được nội dung của bài toán là bài toán cho

Đối với những em học sinh chưa hoàn thành, sau khi tóm tắt xong, tôi yêu
cầu các em diễn đạt lại nội dung bài toán thông qua tóm tắt để các em nắm vững
hơn nội dung bài toán.
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán
Sau khi học sinh đã tìm hiểu và nắm vững các khái niệm, thuật ngữ trong đề
bài, tóm tắt được bài toán tôi cho học sinh giải bài toán 1 vào giấy nháp và gọi 1
học sinh lên bảng trình bày bài giải
6


Bài giải :
Số lít mật ong trong mỗi can là :
35
: 7 = 5 (l)
Đáp số : 5 l mật ong
Bài toán này là bước đệm để các em giải bài toán 2 trong tiết học nên khi học
sinh giải xong tôi hỏi lại để củng cố cách giải :
+ Muốn tìm mỗi can hay một can có mấy lít mật ong ta làm thế nào? (ta làm
tính chia: lấy số lít mật ong chia cho số can).
Giáo viên nhấn mạnh: Muốn tìm mỗi can hay một can có bao nhiêu lít mật
ong ta phải thực hiện phép tính chia.
Sau khi học sinh giải xong bài toán thứ nhất tôi yêu cầu cả lớp đọc và giải bài toán
thứ hai.
Do đã được hiểu rõ các khái niệm, các bước giải ở bài toán 1 nên khi tìm
hiểu bài toán 2 tôi đã hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng các câu hỏi gợi mở:
+ Muốn tìm hai can có mấy lít mật ong ta phải biết gì? (Phải biết số lít mật
ong ở mỗi can hay một can)
+ Số lít mật ong ở mỗi can đã cho biết chưa?(chưa cho biết)
Giáo viên nhấn mạnh: Vậy ta phải tìm số lít mật ong ở một can. Sau đó ta mới tìm
số lít mật ong trong 2 can.

vị”, khi giải bài toán này ta giải qua mấy bước? (2 bước)
+ Đó là những bước nào? ( bước 1: Tìm giá trị của 1 phần).
(bước 2: Tìm giá trị của nhiều phần).
+ Bước 1 ta phải thực hiện phép tính gì? (Thực hiện phép chia).
+ Bước 2 ta phải thực hiện phép tính gì? (Thực hiện phép tính nhân).
+ Trong 2 bước giải trên bước nào là bước rút về đơn vị? (Bước 1 là bước rút
về đơn vị)
Hình thành cho học sinh cách giải và các bước giải của dạng toán này tôi cho
học sinh làm bài tập 1 và bài tập 2 phần luyện tập để học sinh được luyện tập và
củng cố cách giải.
Bài 1: Có 24 viên thuốc chứa đều trong 4vỉ. Hỏi 3 vỉ thuốc đó có bao nhiêu viên
thuốc?
Bài 2: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu kg gạo?
Hai bài tập này tôi cho học sinh tự tóm tắt bài toán và giải vào vở. Tôi cho một vài
em lên bảng trình bày bài làm của mình và tôi cho học sinh nhận xét bài làm của
nhau rồi kết luận cách làm đúng.
Đến phần củng cố bài tôi cho học sinh nhắc lại một lần nữa cách giải dạng
toán này như sau:
+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị phải giải qua mấy bước? Đó là những
bước nào? Bước nào là bước rút về đơn vị? Và vì sao bước này gọi là bước rút về
đơn vị?
Giáo viên nhấn mạnh: Bước tìm một can mật ong chứa bao nhiêu lít, một vỉ
thuốc có bao nhiêu viên thuốc, một bao gạo đựng được mấy kg (tức là tìm 1 đơn vị)
là bước rút về đơn vị. Khi giải dạng toán này bao giờ ta cũng phải thực hiện bước
tìm 1 đơn vị .
b. Đối với tiết luyện tập :
Khi học sinh đã hình thành được cách giải bài toán liên quan đến việc rút về
đơn vị ở tiết hình thành kiến thức mới, sang tiết luyện tập học sinh tiếp tục được
luyện tập củng cố để các em nắm vững hơn về cách giải dạng toán này. Cụ thể:
* Phần tìm hiểu đề : Các bài tập của tiết luyện tập có những khái niệm nào

thường sử dụng là học cá nhân, nhóm, trò chơi,...Các hình thức tổ chức dạy học
linh hoạt phù hợp trong từng tiết học sẽ đem lại cho học sinh bầu không khí học
tập vui vẻ, sôi nổi khiến các em cảm thấy thoải mái tự tin hơn trong học tập.
Cụ thể trong khi dạy học sinh giải toán dạng “Bài toán liên quan đến việc rút
về đơn vị”
* Đối với bài hình thành kiến thức mới:
Tôi đã lựa chọn các hình thức dạy học khác nhau như cá nhân, nhóm, cả
lớp.
Bài toán 1: Có 35 l mật ong đựng đều trong 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật
ong?
Đây là bài toán đơn các em có thể tự giải được nên sau khi cho các em tìm
hiểu một số khái niệm trong bài toán tôi yêu cầu các em làm việc cá nhân.
Bài toán 2: Có 35 l mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi 2 can có mấy l mật ong?
Bài toán này là bài toán mẫu, thông qua cách giải bài toán này để hình
thành cách giải của dạng toán có yêu cầu cao hơn, phức tạp hơn nên sau khi cho
học sinh tìm hiểu yêu cầu của bài tôi tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm
bàn để tìm các bước giải sau đó học sinh sẽ giải cá nhân.
Với 2 bài tập phần luyện tập, tôi cho học sinh tự giải theo hình thức cá nhân,
1 học sinh lên bảng trình bày bài giải sau đó học sinh dưới lớp đối chiếu kết quả
nhận xét cách giải đúng.
* Đối với tiết luyện tập:
Bài 1: Trong vườn ươm, người ta đã ươm 2032 cây giống trên 4 lô đất, các lô đều
có số cây như nhau. Hỏi mỗi lô đất có bao nhiêu cây giống?
Bài 2: Có 2135 quyển vở được xếp đều vào 7 thùng. Hỏi 5 thùng có bao nhiêu
quyển vở?
9


Bài 3: Lập đề toán theo tóm tắt sau rồi giải bài toán đó:
Tóm tắt : 4 xe : 8520 viên gạch


3B

25

HTT

SL
7

HT

TL%
28

SL
18

CHT

TL%
72

SL
0

TL%
0

Qua các bài kiểm tra, qua việc học và làm bài của học sinh tôi thấy: Việc áp

- Cần nắm vững nội dung chương trình, bản chất của dạng toán để có những
phương pháp dạy học phù hợp, huy động được những hiểu biết vốn có của học sinh
để giúp học sinh tự chiếm lĩnh, khắc sâu phương pháp, kĩ năng giải toán. Trong
giảng dạy cần chú ý từng khâu, từng phần nội dung, từng khái niệm, từng thuật ngữ
toán học giúp học sinh nắm vững kiến thức.
- Giáo viên phải luôn linh hoạt, năng động, sáng tạo trong công tác giảng dạy
không nên phụ thuộc hoàn toàn vào sách giáo viên, cần tổ chức các hình thức học
tập đa dạng như học cá nhân, nhóm, học trên phiếu, tham gia các trò chơi toán học.
Việc kiểm tra đánh giá học sinh cần thường xuyên và nhiều hình thức để giáo viên
kịp thời bổ sung, sửa lỗi sai cho học sinh.
- Kiến nghị và đề xuất:
Bản thân là một giáo viên trải qua nhiều năm dạy lớp 3. Với kinh nghiệm của
mình. Để dạy tốt môn toán nói chung và cụ thể phần hướng dẫn “Bài toán liên
quan đến việc rút về đơn vị dạng a : b x c”để thành công chúng ta cần bản lĩnh
sư phạm cụ thể là:
Nắm chắc phương pháp dạy toán, đây là một việc làm hết sức quan trọng. Nó
không những giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách chủ động, tích cực mà còn
giúp các em say mê ham tìm tòi khám phá môn học. Dạy toán không chỉ áp dụng
cho một số bài mà còn phát triển liên tục từ thấp đến cao, từ những tiết đầu tiên,
thói quen học tập và kiến thức được nâng cao dần, làm nền tảng cho những bài sau
cho những lớp học cao hơn có như vậy thì hệ thống kiến thức được hình thành
trong học sinh mới được lô gíc, chặt chẽ .
11


Để hình thành được những điều nói trên, trước tiên là thầy phải chuẩn bị chu
đáo, nắm chắc được mạch kiến thức trọng tâm và các kỹ năng cần tập trung rèn
luyện. Suy nghĩ sáng tạo những đề toán để rèn luyện kỹ năng mà SGK chưa có. Từ
đó áp dụng phương pháp đặc trưng của từng môn để dạy cho từng bài. Bản thân
phải luôn học hỏi, tham khảo tài liệu nâng cao kiến thức về môn toán đặc biệt là

BIỂU CHẤM
Bài 1: Học sinh tóm tắt đúng đề bài: 1 điểm
Học sinh trình bày bài giải và giải đúng bài toán: 4 điểm.Trong đó:
Lời giải và phép tính thứ nhất: 2 điểm
Lời giải và phép tính thứ hai: 1,5 điểm
Đáp số
0,5 điểm
Bài 2: Học sinh tóm tắt đúng đề bài: 1 điểm
Học sinh trình bày bài giải và giải đúng bài toán: 4 điểm.Trong đó:
Lời giải và phép tính thứ nhất: 2 điểm
Lời giải và phép tính thứ 2: 1,5 điểm
Đáp số: 0,5 điểm

ĐỀ BÀI KHẢO SÁT LẦN II
13


Bài 1: Muốn lát nền 4 căn phòng như nhau cần 1 660 viên gạch. Hỏi muốn lát nền
5 căn phòng như thế cần bao nhiêu viên gạch?
Bài 2: Có 30 cái bánh xếp đều vào 5 hộp. Hỏi trong 4 hộp có bao nhiêu cái bánh?
(Tóm tắt và giải các bài toán trên)
BIỂU CHẤM
Bài1: Học sinh tóm tắt đúng đề bài: 1 điểm
Học sinh trình bày bài giải và giải đúng bài toán: 4 điểm.Trong đó:
Lời giải và phép tính thứ nhất: 2 điểm
Lời giải và phép tính thứ hai: 1,5 điểm
Đáp số
0,5 điểm
Bài 2: Học sinh tóm tắt đúng đề bài:1 điểm
Học sinh trình bày bài giải và giải đúng bài toán: 4 điểm.Trong đó:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status