Một số biện pháp giúp học sinh còn hạn chế năng lực về học môn toán lớp 4 - Pdf 44

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp thu
tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn
hiện nay. Trong đó bậc Tiểu học là bậc học nền móng cho việc hình thành nhân cách,
tri thức ở học sinh. Các môn học ở bậc Tiểu học có liên quan mật thiết và cùng hỗ trợ
cho nhau. Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng việt môn Toán có một
vị trí rất quan trọng nhằm góp phần trang bị những kiến thức cơ bản ban đầu về số
học, các số tự nhiên, phân số, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và
thống kê đơn giản. Chính vì vậy việc hình thành kiến thức cơ bản cho học sinh ở bậc
Tiểu học là điều rất cần thiết.
Chất lượng giáo dục hiện nay ngày một được nâng lên, phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại. Song trong thực tế, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng
bên cạnh phần lớn học sinh có khả năng tiếp thu bài tốt vẫn còn một bộ phận không
nhỏ học sinh tiếp thu bài chậm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bởi mỗi học sinh
là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách, điều kiện học tập
và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có những học sinh còn hạn chế năng lực về
học môn Toán là hiện tượng đã và đang tồn tại trong các nhà trường. Việc dạy các
em học sinh chưa hoàn thành ở môn Toán lên trình độ hoàn thành quả là một vấn đề
không đơn giản. Đây là vấn đề hiện nay luôn được các nhà trường và xã hội quan
tâm và tìm giải pháp để khắc phục. Vấn đề nêu trên rất khó khăn với không ít giáo
viên bởi hiện tại chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu vào vấn đề này, đồng
nghiệp, nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm để giải quyết, khắc phục.
Mặt khác, việc rèn học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán sẽ làm cho
các em tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ số mới được đảm bảo, góp phần
làm nên thắng lợi của công tác phổ cập giáo dục Tiểu học ở địa phương. Vậy là một
giáo viên chủ nhiệm thì phải làm gì đối với những học sinh còn hạn chế năng lực về
học môn Toán này? Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi
trong suốt quá trình dạy học.
Trong những năm gần đây, tôi luôn được phân công giảng dạy lớp 4. Đó là
điều kiện tốt giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của các em và đề ra các biện

- Phương pháp thực nghiệm.

2


II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
Theo yêu cầu về nội dung giáo dục Tiểu học đó là: Phải đảm bảo cho học sinh
có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản
về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh; có
hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật. Đối với dạy học Toán lớp 4 nhằm
giúp HS:
*Về số và phép tính:
- Số tự nhiên:
+ Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên.
+ Biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên.
+ Biết cộng, trừ các số tự nhiên; nhân số tự nhiên với số tự nhiên có ba chữ số;
chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên có đến ba chữ số.
+ Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả tính và
thành phần kia.
+ Biết tính giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính (có hoặc không có
dấu ngoặc) và biểu thức có chứa một, hai, ba chữ số dạng đơn giản.
+ Biết vận dụng tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng và phép nhân, tính
chất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất.
+ Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10, 100, 1000,…Chia
cho 10, 100, 1000,…Nhân số có hai chữ số với 11.
+ Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9,…
- Phân số:
+ Bước đầu nhận biết về phân số (qua hình ảnh trực quan).
+ Biết đọc, viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; biết rút gọn, quy đồng

Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ Giáo dục đã ban hành trên cơ
sở giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động học tập một
cách tích cực, chủ động, sáng tạo, khuyến khích học sinh tự phát hiện và giải quyết
các vấn đề của bài học để tự chiếm lĩnh rồi vận dụng kiến thức mới, góp phần tạo
hứng thú và tự tin trong học tập toán của các đối tượng học sinh. Yêu cầu giáo viên
phải dạy học theo cách phân hoá đối tượng học nhằm giải quyết chuẩn kiến thức kỹ
năng tối thiểu và bồi dưỡng năng khiếu Toán học cho học sinh .
2. Thực trạng.
Qua nhiều năm làm công tác giảng dạy ở lớp 4 tôi đã nhận thấy:
- Chương trình toán lớp 4 là chương trình chuyển tiếp giữa các lớp 1, 2, 3.
Học sinh được củng cố, mở rộng kiến thức về 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia và
giải toán ... đặc biệt là giải các bài toán điển hình qua các vòng số. Trên tập hợp số tự
nhiên, phân số; học sinh tiếp tục được học các đại lượng thông dụng, một số yếu tố
hình học và thống kê đơn giản.
- Sự phát triển tâm sinh lí của sinh lớp 4 đang ở sự giao thời của lứa tuổi sao
nhi đồng và lứa tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này tư duy cụ thể của các em đang chuyển
dần sang tư duy trừu tượng, sự ghi nhớ có chủ định ngày một phát triển hơn. Song sự
phát triển tâm lí, tri thức, kinh nghiệm chưa được nhiều, chưa nhận thức đầy đủ, khái
quát mà các em vẫn thiên về nhận thức trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể.
- Nhìn chung động cơ học tập của các em tương đối tốt. Tuy nhiên, tuy cùng
hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục như nhau nhưng mỗi học sinh đều có
sự phát triển về thể chất và trí tuệ, điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm
sóc ở gia đình, động cơ và thái độ học tập, năng lực học tập và khả năng tiếp thu bài
cũng khác nhau nên trong một lớp học có rất nhiều đối tượng học sinh. Có nhiều học
sinh tiếp thu bài nhanh, sâu sắc thì việc kiểm tra kiến thức, giảng dạy kiến thức mới,
giáo viên thực hiện dễ dàng, các em dễ dàng làm được tất cả các bài tập giáo viên
4


giao cho. Nhưng đối với các em học sinh còn hạn chế năng lực về học môn Toán thì

32 em

Hoàn thành
27 em

Chưa hoàn thành
5 em

Từ kết quả trên, tôi mạnh dạn áp dụng một số biện pháp để giúp học sinh còn
hạn chế về năng lực môn Toán lớp 4 trường Tiểu học Hoằng Anh.
3. Các giải pháp giúp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán lớp 4.
3.1. Phân loại đối tượng học sinh.
5


Việc phân loại đối tượng học sinh rất quan trọng, bởi lẽ nếu không biết được
các em còn hạn chế chỗ nào thì rất khó kèm cặp. Tôi thực hiện thường xuyên công
tác phân loại học sinh ở thời điểm đầu năm học, trong quá trình giảng dạy…Vì vậy
ngay sau khi nhận lớp, tôi vừa dạy vừa theo dõi cũng như tham khảo giáo viên lớp
dưới để đưa ra kết luận chính xác và khoanh nhóm đối tượng để đề ra phương pháp
dạy học phù hợp.
3.2. Xây dựng môi trường học tập thân thiện.
Môi trường học tập cũng là một yếu tố quan trọng giúp phát huy tính tích cực
của học sinh, nó là một trong những yếu tố giúp học sinh hạn chế năng lực môn Toán
rất có hiệu quả. Tôi đã tạo cho học sinh một môi trường học tập tốt, giúp các em tự
cảm nhận hết ý nghĩa của việc: “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Sự thân
thiện của giáo viên là điều kiện cần để thực hiện những biện pháp đạt hiệu quả cao.
Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười,… tôi đã tạo được sự gần gũi, cảm giác
an toàn cho học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc
sống của bản thân mình. Bốn bức tường của lớp học, tôi và học sinh tận dụng để hỗ

thành. Danh sách học sinh được ghi trên bảng vàng danh dự cũng được thay đổi qua
từng tháng. Thật sự học sinh rất hứng thú, phấn đấu hoàn thiện để mình, sản phẩm
của mình được trưng bày lên lớp, được ghi tên vào góc thi đua, trên bảng vàng danh
dự. Tôi rất mừng khi thấy học sinh trong lớp nhất là những em học sinh chưa hoàn
thành môn Toán rất thích, rất tích cực tham gia và phần nào giúp các em lĩnh hội kiến
thức ở môn Toán và các môn học khác rất tốt.
3.3. Thường xuyên cải tiến nội dung và các hình thức tổ chức dạy học
trong mỗi tiết học.
- Phối hợp các hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm hay hoạt động cá nhân
một cách phù hợp có hiệu quả, tạo nhiều hình thức thi đua trong học tập.
- Tổ chức các trò chơi học tập, cải tiến các bài tập trong sách giáo khoa thành
trò chơi, câu đố hay giải ô chữ để thu hút sự chú ý ở học sinh, các em được học mà
chơi, chơi mà học. Điều đặc biệt chú ý là trong mỗi tiết học, mỗi trò chơi tôi thường
xuyên quan tâm khuyến khích tất cả các em tiếp thu bài chưa nhanh tham gia một
cách tích cực, tự tin, thoải mái, tránh trường hợp để các em cảm thấy bị ép buộc.
Ví dụ : Trò chơi " Tìm bạn cho tôi": Mỗi đội có 20 tấm thẻ bằng bìa, trên đó
ghi những phép tính toán học. Trong đó có các phép tính có giá trị bằng nhau. Cách
chơi: Chia lớp thành các đội, mỗi đội từ 4 - 6 em. Trong khoảng thời gian là 5 phút
các đội phải tìm được các cặp đôi phép tính có kết quả bằng nhau. Đội nhanh nhất
đúng nhất là đội chiến thắng. Trò chơi này giúp các em rèn kĩ năng tính nhẩm rất tốt.
- Giáo viên thay hình thức tính nhẩm trong các phép tính +, -, x, : thành trò
chơi thi đua tiếp sức giữa các tổ.
- Sử dụng phối hợp bài tập trắc nghiệm giúp tiết học thêm phong phú, sinh
động. Thay vì cứ lặp đi lặp lại việc giải toán có lời văn, thỉnh thoảng tôi thay đổi
bằng hình thức trắc nghiệm.
Ví dụ: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
1.Chiều cao của các bạn Lan, Cúc, Đào, Hồng lần lượt là 136cm, 129cm,
132cm và 139cm. Hỏi chiều cao trung bình của mỗi bạn là bao nhiêu?
A. 133cm
B. 134cm

chất rất cần thiết của con người trong thời đại mới đồng thời giúp các em còn hạn
chế về năng lực môn Toán có cơ hội thể hiện năng lực, nâng dần khả năng nhận thức
của bản thân về mọi mặt. Từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức về môn Toán tốt hơn.
3.6. Làm tốt công tác thi đua khen thưởng trong lớp học.
Trong khi dạy ở tất cả các phân môn, tôi thực hiện đúng theo tinh thần đánh
giá học sinh của Thông tư 30/2014/TT – BGDĐT, thường xuên chú ý đến sự tiến bộ
từng mặt của từng em để có lời khen kịp thời dù là rất nhỏ. Nếu việc này làm tốt sẽ
giúp các em thấy được mình đã có tiến bộ và được cô, các bạn khẳng định. Đây là
một trong những động lực giúp các em cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập. Bên
cạnh đó tôi sử dụng những lời phê bình nhẹ nhàng nhưng có sức thuyết phục tránh
các em bị tổn thương, tránh việc xử phạt nặng mỗi khi các em làm chưa đúng hoặc
chưa tiến bộ. Mặt khác sự đối xử công bằng và bình đẳng của giáo viên đối với học
sinh cũng rất quan trọng để các em tin tưởng vào sự đánh giá, nhận xét của giáo viên
và xem giáo viên là người chuẩn mực đáng tin cậy.
3.7. Phối hợp với giáo viên bộ môn trong việc giúp học sinh còn hạn chế
về năng lực môn Toán.
Trong thực tế, những học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán thì khả năng
tiếp thu kiến thức ở các môn học khác cũng chậm. Chính vì thế, để việc kèm cặp học
sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán thành công chúng ta cần phối hợp với giáo
viên dạy các môn đặc thù chú ý quan tâm kèm cặp, tạo điều kiện tối đa để các em
tham gia lĩnh hội kiến thức một cách chủ động.
3.8. Thành lập: " Đôi bạn cùng tiến"
Qua nắm được lực học, sở thích, điều kiện hoàn cảnh của từng em trong lớp,
tôi phân công một học sinh có năng lực học toán tốt kèm một học sinh hạn chế về
8


năng lực học toán và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một bàn.Việc thành lập "đôi bạn
cùng tiến" được tôi rất quan tâm. Khi thành lập đôi bạn học tập tôi chú ý tạo thành
đôi bạn có thể giúp nhau tiến bộ về môn Toán, đồng thời mỗi đôi bạn này phải cùng

hồ; các em thực hiện một trò chơi thú vị là đọc số ki - lô - mét ghi ở cột cây số cho
biết quãng đường từ nhà đến nơi tham quan và chia cho thời gian ô tô đã đi.
Học mọi người: Học người thật, việc thật, người tốt, việc tốt, người xưa trong
lịch sử, nhân vật trong truyện,… Khi đọc truyện “Vua máy tính Bin Ghết” (Truyện
đọc lớp 4), yêu thích và khâm phục vua máy tính Bin Ghết - nhà phát minh, nhà kinh
doanh, một trong những người giàu có nhất hành tinh, học sinh học được ở nhân vật
9


Bin Ghết tinh thần say mê học tập, làm việc; đam mê đọc sách từ khi còn rất bé; ý
chí quyết tâm cao.
Học bằng mọi cách: Giáo viên cần giúp cho học sinh thoát khỏi lối học thụ
động, đơn giản là đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài, học thuộc bài,… Kiên trì giúp
học sinh có thói quen tự đọc sách báo, hứng thú tra từ điển, qua tivi, qua các phương
tiện nghe nhìn, qua các trang web, qua các câu hỏi thông minh,… Phải bằng mọi
cách tự mình tìm ra kiến thức, khám phá cái mới, cái chưa biết bằng hành động và
suy nghĩ của chính mình.
Tóm lại: Học sinh cần rèn luyện cho bản thân tinh thần tự học, kĩ năng tự học.
Các em không chỉ thực hiện việc tự học ở cấp Tiểu học hay Trung học mà việc tự
học cần phải được rèn luyện suốt đời, rèn luyện đến mức nhuần nhuyễn thì mới có
thể cập nhật được tri thức và “nên người” ở thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay.
3.10. Kết hợp: Gia đình - Nhà trường - Xã hội.
- Việc rèn nề nếp tự quản, tinh thần tự học, học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi
người, học bằng mọi cách có thành công hay không cũng phải dựa vào mối quan hệ
mật thiết này. Sự phối hợp mật thiết giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội sẽ tạo cho
chúng ta có một giải pháp tốt hơn để rèn luyện giáo dục các em. Nó góp phần hình
thành ở học sinh những hành vi và thói quen đạo đức rất quan trọng của nhân cách
người công dân, người lao động có khả năng hòa nhập tích cực vào cuộc sống của
cộng đồng xã hội.
- Thực tế nếu chỉ giao cho đôi bạn học tập hoặc chỉ một giáo viên kèm cặp mà

Ban đầu, cho học sinh cộng các số có số chữ số bằng nhau rồi đến cộng các số có số
các chữ số không bằng nhau.
Ví dụ: Đặt tính rồi tính:
a. 125 + 217
b. 56 + 1024
- Ngoài ra để luyện đặt tính đúng, tôi đưa ra một số bài trắc nghiệm dạng
đúng, sai.
Ví dụ: Điền Đ vào bài đặt tính đúng, điền S vào bài đặt tính sai:
+ 75
65

-5324
348

435
+
98

5916
2358

( dấu phép tính chưa rõ )
- Tôi rèn cho học sinh kĩ năng tính nhẩm. Tôi thường dành ra năm phút đầu
buổi học hoặc thời gian chuyển giữa các tiết để tổ chúc trò chơi "đố bạn". Tôi hướng
dẫn học sinh đưa ra câu hỏi đơn giản như:
10 x 4 = ?
48 - 8 = ?
50 : 10 = ?
100 x 3 = ? ,...
- Tôi thường xuyên dự kiến, theo dõi, nhắc nhở những sai lầm của học sinh (được

=>Khắc phục: Giáo viên cần giải thích cho học sinh rõ:
- 108 là tích riêng thứ nhất .
- 72 là tích riêng thứ hai. Tích riêng thứ hai được viết lùi sang bên trái một cột
vì nó là 72 chục, nếu viết đầy đủ phải là 720.
* Học phép chia:
- Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến
tìm được số dư lớn hơn (hoặc bằng số chia) và thực hiện chia số dư đó cho số chia.
Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia.
VD:
4674
82
574 561
82
0
Nguyên nhân lỗi sai này là :
- Học sinh chưa nắm được quy tắc “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”
- Học sinh không nắm được quy tắc thực hiện phép chia viết “Có bao nhiêu lượt
chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương”
=>Khắc phục: Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia, cần lưu
ý cho học sinh quy tắc trong phép chia có dư : “Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số
chia”.
- Giúp học sinh tập ước lượng tìm thương, cụ thể :
467 : 82 = ? Có thể ước lượng: 50 : 8 = 6 (dư 2)
- Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường
quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.
VD:
2448
24
048 12
0

thứ 2 (số trừ) thì không thực hiện phép trừ được.
Ví dụ:

a)

1
2
1
2
3
+ Học sinh thường làm sai: + =
5
5
5
5 10
1
1
1
1
1−1
0
b) Học sinh thường làm sai:
- =
= =
4
6
4
6
4−6
2

4
21
4
147
21x 7
Có học sinh làm: 3 x =
hoặc 3 x =
x =
=
7
21
7
7
7
7 x4
28

Tính: 3 x

- Sự sai lầm thường rơi vào tiết luyện tập. Do học sinh nắm quy tắc nhân phân
số chưa thật chắc đã nhầm sang phép cộng hai phân số cùng mẫu số.
- Trong ví dụ 2 ngoài việc không nắm được quy tắc nhân thì các em còn không
nắm được số tự nhiên là phân số đặc biệt có mẫu số là 1. Một số em thì nhầm phép
nhân với phép chia.
=> Khắc phục:
- Trước khi làm phần bài tập ( luyện tập) Yêu cầu học sinh nhắc lại quy tắc và
một số chú ý trong sách giáo khoa có liên quan đến kiến thức bài học.
- Trong khi thực hành mẫu giáo viên cần thực hiện từng bước một rõ ràng, cụ
thể không thể làm đơn giản (làm tắt). Để khi thực hiện những học sinh hạn chế về
năng lực nắm được cách làm. Yêu cầu học sinh phân biệt rõ phần chú ý của phép

5
5 x7
35
:
=
=
7
8
8 x3
24
3
3
3x 2
6
: 2 Học sinh làm sai:
: 2 =
=
4
4
4
4

Học sinh làm sai:

=> Khắc phục:
- Đối với ví dụ 1: Yêu cầu các em cần phân biệt rõ quy tắc nhân và chia. Giáo
viên cần chỉ rõ chỗ sai lầm, khi làm mẫu cần làm đủ các bước không nên làm tắt .
- Đối với ví dụ thứ 2: Giáo viên lại phải khắc sâu một lần nữa (số tự nhiên là
phân số đặc biệt có mẫu số là 1) sau đó hướng dẫn cách làm:
Hoặc:


khả năng suy luận, xác định dạng toán hạn chế. Chính vì thế để rèn những học sinh
có kĩ năng giải toán chậm tôi đã thực hiện tốt một số biện pháp sau:
- Bổ sung kịp thời những kiến thức về giải toán mà học sinh tiếp thu chậm ở
lớp dưới.
- Dạy tốt chương trình chính khoá: cùng với việc bổ sung phần kiến thức học
sinh tiếp thu chậm từ lớp dưới, tôi cố gắng dạy tốt chương trình chính khoá. Khi dạy
giúp học sinh biết cách xác định dạng toán và nắm vững cách giải các dạng bài toán
điển hình như cách tìm số trung bình cộng, cách giải bài toán về tìm hai số khi biết
tổng và hiệu của hai số đó,...
- Hướng dẫn học sinh nắm vững các bước giải một bài toán:
* Bước 1: Phân tích đề bài.
+ Học sinh cần đọc kĩ đề bài để hiểu nội dung (cách diễn đạt, ý nghĩa nội dung
đề bài).
+ Phân tích đề: xác định được cái đã cho (tức là dữ kiện), cái cần tìm (tức là
ẩn số).
Ví dụ 1: Mua 12 quyển vở hết 48000 đồng. Hỏi mua 30 quyển vở như thế hết
bao nhiêu tiền?
Bài toán cho biết gì ? (Mua 12 quyển vở hết 48000 đồng.)
Bài toán yêu cầu làm gì ? (Mua 30 quyển vở như thế hết bao nhiêu tiền?)
* Bước 2: Lập mối quan hệ.
Học sinh thiết lập được mối quan hệ giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái
cần tìm.
Ở ví dụ 1 quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm là quan hệ tỉ lệ (số vở mua
tăng lên bao nhiêu lần thì số tiền mua vở tăng lên bấy nhiêu lần.)
* Bước 3: Lập kế hoạch giải.
+ Vận dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để lập kế hoạch giải. Chẳng
hạn với đề toán như ví dụ 1 học sinh cần xác định được:
Muốn biết mua 30 quyển vở như thế hết bao nhiêu tiền ta làm thế nào? (Lấy số
tiền mua 1 quyển vở nhân với 30)

3.12. Soạn chương trình dạy học cho đối tượng học sinh hạn chế về năng
lực học toán.
Căn cứ kế hoạch dạy học tôi soạn ra chương trình dạy học cho các đối tượng
này. Chương trình được soạn trước một tuần và trình lên tổ chuyên môn, hiệu phó
nhà trường góp ý và kiểm duyệt.
3.13. Thường xuyên nắm bắt nội dung kiến thức mới trong chương trình
các em tiếp thu chậm, nâng dần mức độ luyện tập theo khả năng từng em.
Song song với việc nâng cao sự ôn tập, củng cố kiến thức còn hổng ở lớp
dưới, tôi thường xuyên nắm bắt những phần kiến thức trong chương trình môn Toán
lớp 4 mà các em nắm chưa vững để bổ sung vào nội dung cần kèm cặp kịp thời.
Khuyến khích các em tự rèn luyện vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai.
Giáo viên cho học sinh làm các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, nâng
dần mức độ luyện tập theo khả năng từng em, tránh tình trạng chờ nhau cùng tiến.
3.14. Dạy lồng ghép.
Sau khi lên chương trình dạy học thì giáo viên sẽ đưa vào dạy trong chương
trình bằng hình thức dạy lồng ghép với học sinh trong lớp. Khi học sinh học xong
phần lí thuyết, chuyển sang phần luyện tập thực hành tôi dành thời gian kèm đối
tượng học sinh chưa hoàn thành.
Chẳng hạn: Khi dạy bài: Ôn tập các số đến 100000 giáo viên chú ý cho học
sinh còn hạn chế năng lực môn Toán ôn về cấu tạo, cách đọc, viết các số tự nhiên có
2, 3 chữ số trước. Từ đó nâng dần lên ôn về cấu tạo, cách đọc, viết các số tự nhiên có
4 chữ số.
16


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
4.1. Hiệu quả đối với bản thân.
Qua quá trình áp dụng “Một số biện pháp giúp học sinh còn hạn chế năng lực
về học môn Toán lớp 4” tôi đã thu được kết quả đáng mừng. Đây là một trong những

giờ thăm lớp của ban giám hiệu.
Cuối năm học tôi đã cùng tổ trưởng chuyên môn ra đề khảo sát học sinh. Nội
dung ra đề đúng 3 mức độ theo hướng dẫn của thông tư 30/2014/TT – BGDĐT.
Tổng số học sinh tham gia khảo sát là 32 em học sinh lớp 4B.
17


Đề bài:
Phần I: Trắc nghiệm (3 điểm) Khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời
đúng.
Câu 1. Chữ số 6 trong số 456987 có giá trị là:
A. 6
B. 6987
C. 600
Câu 2. Phân số bằng phân số
A.

20
16

4
là:
5
16
B.
20

D. 6000

C.

18

1 2
− có kết quả là:
2 9
13
B.
18

C.

5

D.

36
18

Phần II. Tự luận ( 7 điểm)
Câu 1.( 3 điểm) Tính:
1 5

3 12

6
:2
11

5 3 4
+ x

2

TL
6.3%

Chất lượng giáo dục của lớp được nâng lên góp phần chung trong sự phát triển
giáo dục của nhà trường. Phụ huynh học sinh tin tưởng gửi con em mình vào trường,
học sinh hứng thuc học tập thích đến lớp đến trường hơn.

18


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Học sinh Tiểu học là thế hệ Măng non của đất nước, để bồi dưỡng nhân tài đào
tạo nguồn nhân lực, trong quá trình giảng dạy, song song với việc phát hiện bồi
dưỡng học sinh năng khiếu, mỗi giáo viên cần chú trọng hơn việc kèm cặp, giúp đỡ
học sinh hạn chế năng lực môn Toán. Là người giáo viên trực tiếp giảng dạy bản thân
thiết nghĩ, muốn giúp đỡ đối tượng học sinh hạn chế năng lực môn Toán giáo viên
cần:
- Nhận thức được vai trò của mình trong dạy học.
- Mỗi giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức sư phạm cần thiết.
- Nhiệt tình, năng nổ, luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương
pháp giảng dạy nhằm lôi cuốn học sinh học tập tích cực.
- Tìm ra nguyên nhân dẫn đến năng lực học tập hạn chế môn Toán của các em
bằng cách quan tâm, tìm hiểu đặc điểm cụ thể về hoàn cảnh gia đình, về năng lực
học, để từ đó điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và có biện pháp
giúp đỡ phù hợp.
- Phân loại đúng đối tượng học sinh, lên kế hoạch giúp đỡ cụ thể cho từng đối
tượng học sinh.

Trên đây là một số kinh nghiệm giúp học sinh còn hạn chế năng lực về môn
Toán lớp 4 của bản thân. Trong quá trình thực hiện bản thân không tránh khỏi sự
thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý, bổ sung của Hội đồng Khoa học các cấp để
việc giúp học sinh chưa hoàn thành môn Toán lớp 4 ngày một hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHÀ TRƯỜNG

Hoằng Anh, ngày 25 tháng 3 năm 2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Nguyễn Thị Nguyệt

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Toán lớp 4.
2. Chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 4.
3. Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học.
4. Phương pháp giải Toán ở Tiểu học.
5. Tâm lí học lứ tuổi và tâm lí học sư phạm.
6. Sách giáo viên Toán 4.
7. Thiết kế bài giảng Toán 4.

21




3. Các giải pháp giúp học sinh còn hạn chế về năng lực môn Toán lớp 4.

5

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

17

III. Kết luận, kiến nghị.
1. Kết luận.

19

2. Kiến nghị.

20

Tài liệu tham khảo.

21

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status