SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN CO
LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Phú-Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán
THANH HOÁ NĂM 2016
1
MỤC LỤC
MỤC
NỘI DUNG
Trang
A
MỞ ĐẦU
1
I
Cơ sở lý luận
2
II
Thực trạng của vấn đề
Đặc điểm tình hình
Thực trạng dạy - học các bài toán giải
2
2
2
3
1
2
3
4
C
Kết quả của thực trạng trên
Giải pháp và biện pháp thực hiện
KẾT LUẬN - KIẾN NGHI
4
13
I
Nội dung giải toán có lời văn ở lớp 3 là giải các bài toán có hai bước tính với các
mối quan hệ trực tiếp và đơn giản. Giải bài toán liên quan đến rút về đơn vi và
bài toán có nội dung hình học.Cũng như các lớp trước yêu cầu của dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 3 chủ yếu là rèn kĩ năng về “phương pháp” giải toán ( cách
đặt vấn đề, tìm hiểu đề, giải quyết vấn đề); rèn khả năng “diễn đạt”; Trình bày
vấn đề bằng lời nói, bằng chữ viết cho học sinh.
Vậy làm cách nào để học sinh tiếp thu bài một cách tốt nhất, nắm chắc bản
chất của dạng toán, tìm tòi được cách giải phù hợp, từ đó, làm bài một cách độc
lập, tích cực và hiệu quả là điều mà tôi luôn băn khoăn suy nghĩ và trăn trở. Sau
một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, tìm hiểu kĩ bản chất của các bài
toán giải ở lớp 3, tôi mạnh dạn đưa ra : "Một số kinh nghiệm về rèn kỹ năng
giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3"với mong muốn góp một phần nhỏ vào
việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 3.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu một số
sai lầm của học sinh lớp 3 thường mắc khi giải các bài toán có lời văn. Từ đó,
tìm ra biện pháp giúp bản thân rút kinh nghiệm vận dụng linh hoạt các phương
pháp , các hình thức dạy học. Từ dó, áp dụng các kỹ năng dạy học sinh giải toán
sao cho phù hợp với từng bài dạy, với từng đối tượng học sinh để đạt kết quả cao
hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy- học Toán .
III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Lớp 3 năm học 2015 - 2016 trường Tiểu học Quảng Phú.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
-Nghiên cứu sách giáo khoa Toán lớp 3,Vở bài tập Toán lớp 3.
-Nghiên cứu tài liệu sách giáo viên Toán lớp 3 và một số phương pháp dạy học
toán ở tiểu học và các tài liệu khác.
2. Phương pháp quan sát
3. Phương pháp điều tra: thực hiện phỏng vấn điều tra, dự giờ để tìm hiểu...
4. Phương pháp so sánh : so sánh, đối chiếu kết quả của lớp thực nghiệm với
lớp khác cùng khối.
hoạt động tích cực, tự tìm ra kiến thức mới. Trong việc giải toán, giáo viên đã
hướng dẫn học sinh tìm tòi ra nhiều cách giải. Mặt khác, khi dạy các dạng toán
điển hình, giáo viên chưa khai thác hết nội dung bài dạy, còn thụ động trong
cách giải ở sách giáo khoa làm cho học sinh tiếp thu bài thụ động, máy móc.
b.Thực trạng học giải toán của học sinh.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số học sinh có học
lực trung bình và yếu rất ngại giải toán có lời văn. Mặt khác khả năng tư duy ở
nhiều học sinh trung bình và yếu còn nhiều hạn chế, không có khả năng thiết lập
các mối liên hệ giữa các đại lượng trong bài toán, gặp những bài tập biến dạng
một chút là học sinh rất khó khăn.
Một số học sinh chưa đọc kĩ đề bài, khả năng phân tích để xác đinh dạng
toán chưa đúng, thiếu suy nghĩ về dữ kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán, các
em thường làm bài theo mẫu nên rất dễ quên.
3. Kết quả của thực trạng trên.
4
Thực trạng trên cho thấy chất lượng giảng dạy các bài toán giải cho học sinh
còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh không nắm được cách giải và giải toán còn
sai nhiều. Nhìn chung trong những năm học gần đây chất lượng môn toán nói
chung và chất lượng môn Toán lớp 3 nói riêng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu
cầu dạy học đặt ra. Là một giáo viên nhiều năm được nhà trường phân công
giảng dạy ở lớp 3, điều đó khiến tôi luôn trăn trở làm thế nào để giúp học sinh
giải toán có lời văn được tốt hơn.Vì thế, tôi đã tiến hành khảo sát kĩ năng giải
toán của học sinh lớp 3A(lớp thực nghiệm do tôi phụ trách) và lớp 3B do cô
Phượng phụ trách (đây là hai lớp có chất lượng tương đối đồng đều.) với đề
kiểm tra như sau:
Đề bài: ( thời gian 40 phút)
Bài 1: Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp con 6 lần.Hỏi mẹ hái được bao
3A( 30HS)
3B( 29HS)
Hoàn thành
HT ở mức 1
( Điểm 9-10)
HT ở mức 2
( Điểm 7-8)
Chưa HT
HT ở mức 3
( Điểm 5-6)
ứng với
điểm dưới 5
2
6.7
10
33.3
11
36.7
7
không đọc kỹ đề bài, nhầm lẫn thuật ngữ “gấp ” và “hơn ”. Khi giải bài toán học
sinh chưa đọc kĩ đề bài, chưa hiểu đúng các dữ kiện của bài toán giữa cái đã cho
và cái cần tìm. Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản. Sai lầm do học sinh
còn lúng tung khi sử dụng từ ngữ để viết câu lời giải và chưa nắm vững các
bước giải của bài toán để có biện pháp khắc phục.Vậy để nâng cao chất lượng
giảng dạy môn Toán, đặc biệt là giải toán có lời văn, tôi đã mạnh dạn đưa ra
"Một số kinh nghiệm về rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3"
4. Giải pháp và biện pháp thực hiện:
Giải pháp giúp HS sữa chữa những sai lầm của học sinh trong quá trình
làm các bài toán giải.
Sai lầm của học sinh khi học toán là một hiện tượng phổ biến, cho đến
nay trước những sai lầm của học sinh giáo viên thường cho rằng học sinh ít chú
ý nghe giảng ở trên lớp, không chiu khó làm bài tập nên không nắm được kiến
thức hoặc kiến thức không vững, không chắc ... mà ít người để tâm theo dõi,
nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể, có hệ thống, các nguyên nhân sai lầm về
kiến thức, suy luận trong khi học toán có phần thuộc về tinh thần, thái độ học tập
của học sinh nhưng không phải trường hợp nào cũng như vậy. Trong dạy học để
ngăn ngừa hoặc hạn chế học sinh mắc sai lầm ta cần phải nghiên cứu nguyên
nhân sâu xa của những sai lầm đó.
“Bài toán giải bằng hai bước tính ở lớp 3 ” là một loại toán cần nhiều
đến tư duy, bởi vì đề bài được nêu ra dưới hình thức có lời văn hoàn chỉnh. Vì
vậy, để giải được học sinh cần phải tìm được sự liên quan giữa các đại lượng,
các yếu tố đã học và yếu tố cần tìm của bài toán một cách lôgíc. Nói chung, nội
dung được đưa ra trong đề toán đều gắn liền với thực tế hoạt động của các sự
vật, các yếu tố cuộc sống để học sinh dễ liên hệ, nó mang tính chất đa dạng. Như
vậy, đây là loại toán khó đối với học sinh ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các em
chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống. Bản chất các em còn rất hồn nhiên, ngây thơ,
vì vậy, sự chú ý của học sinh tiểu học hướng ra bên ngoài chứ chưa có khả năng
hướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lôgic. Trí nhớ các em còn nhớ máy
móc, nhớ dễ dàng đối với các hiện tượng, hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ
12 + 18 = 30 (quả trứng)
Người đó còn lại số quả trứng là:
50 - 30 = 20 (quả trứng)
Đáp số: 20 quả trứng
7 học sinh mắc sai lầm trên đều do các em chưa đọc kỹ đề bài toán, một
dữ kiện quan trọng của bài toán “Lần đầu bán 12 quả, lần sau bán 18 quả"
Đây chỉ là một trong những ví dụ học sinh mắc sai lầm loại này.
b- Khi giải bài toán học sinh chưa đọc kĩ đề bài, chưa hiểu đúng các dữ kiện
của bài toán giữa cái đã cho và cái cần tìm
Ví dụ 2: Bài tập 1 - trang 51 (SGK)
Quãng đường từ nhà đến chợ huyện dài 5 km, quãng đường từ chợ huyện
đến bưu điện tỉnh dài gấp 3 lần quãng đường từ nhà đến chợ huyện. Hỏi quãng
đường từ nhà đến bưu điện tỉnh dài bao nhiêu ki - lô - mét ?
Khi gặp bài toán trên học sinh rất lúng túng. Tôi tiến hành kiểm tra trên
lớp 3A năm học 2015 - 2016 chỉ có một số ít học sinh giải bài toán này theo
cách giải sau:
Quãng đường từ Chợ huyện đến Bưu điện tỉnh dài số ki - lô - mét là:
5 × 3 = 15 (km)
Quãng đường từ Nhà đến Bưu điện tỉnh dài số ki - lô - mét là:
5 + 15 = 20 (km)
Đáp số: 20 km
Một số học sinh khác do quen cách tính chỉ có một phép tính nên không
viết được trọn vẹn lời giải.
7
Khi đã làm bài toán giải bằng một phép tính sang bài toán giải bằng hai
phép tính có em áp dụng máy móc cách tính của bài toán giải bằng một phép tính
c- Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản:
Cô bán hàng trả lại mẹ số tiền là :
5600 - 3000 = 2600 (đồng)
Đáp số : 2600 đồng
Tóm lại: Trên đây là những khó khăn sai lầm cơ bản học sinh thường gặp
khi giải bài toán có lời văn. Trong quá trình giải, học sinh dễ bộc lộ những sai
lầm nhưng không phải rành mạch từng loại mà có những sai lầm đan xen bao
hàm lẫn nhau. Người giáo viên phải nắm chắc được những khó khăn cơ bản, làm
cơ sở tìm hiểu những khó khăn sai lầm cụ thể để giúp đỡ học sinh sửa chữa.
Sau đây là khảo sát trên lớp 3A và lớp 3B ở trường tôi trong năm học đã nêu
ở trên.
8
Kiểm tra những bài tập sau ở vở Bài tập Toán lớp 3:
Lớp 3A, lớp 3B đều 3 bài
Bài 3 - trang 75
Bài 4 - trang 33
Bài 1 - trang 81
Kết quả thu được như sau:
Chất lượng
Hoàn thành
Chưa HT
HT ở mức 1
( Điểm 9-10)
ứng với
điểm dưới 5
9
31.0
12
41.4
4
13.8
Nhìn vào bảng thống kê trên ta nhận thấy : Kết quả giải toán của HS chưa mĩ
mãn. Chất lượng HS giỏi còn khiêm tốn . Số bài điểm yếu còn nhiều. Cụ thể khi
chấm bài cho HS tôi nhận ra một số nhược điểm như sau :
- HS chưa nắm chắc bản chất của bài toán.
- Một số HS không hiểu bản chất vấn đề nên trình bày câu lời giải không
chính xác.
- Một số HS khác lại biết cách làm nhưng tính toán còn sai sót do không
nắm chắc các kiến thức ở lớp dưới.
-Một số học sinh làm phép tính đúng nhưng lại viết sai đơn vi bài toán ....
*Các biện pháp tổ chức thực hiện.
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực để dạy giải các bài toán có lời văn
ở lớp 3:
Qua điều tra thực trạng về giải toán có lời văn ở trường tôi và căn cứ vào
nội dung giải toán có lời văn ở Tiểu học, tôi mạnh dạn đề xuất phương pháp dạy
giải các bài toán giải cụ thể như sau:
a- Phương pháp chung:
Đối với giáo viên Tiểu học, việc dạy giải toán cần tiến hành theo một quy
tắc nhất đinh. Những quy tắc đó được xác đinh trên cơ sở:
* Tìm hiểu đề toán:
Hướng dẫn học sinh xác đinh được:
- Bài toán cho ta biết những gì ?
- Bài toán yêu cầu tìm gì ?
- Mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết là gì ?
- Phân tích điều phải tìm để tìm hướng đi đến đích của bài.
* Hướng dẫn giải:
Đây là công việc chủ yếu trong giờ dạy giải toán, để việc đó đạt hiệu quả
rõ ràng người giáo viên phải thực hiện tốt những khâu trên.
Hướng dẫn giải có khi chỉ là một câu hỏi ngắn gọn gợi ý của bài toán, có
khi là một sơ đồ hoặc nhắc lại một kiến thức nào đó, cũng có thể là một hệ thống
câu hỏi mắt xích.
b- Phương pháp dạy giải một số bài toán cụ thể:
Bài toán có đến hai bước tính (Với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản)
Bài 3 - trang 58 (SGK Toán 3)):Thu hoạch ở thửa ruộng thứ nhất được
127 kg cà chua, ở thửa ruộng thứ hai được nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa
ruộng thứ nhất. Hỏi thu hoạch ở cả hai thửa ruộng được bao nhiêu ki- lô- gam cà
chua ?
Bài giải
Thửa ruộng thứ hai thu hoạch được số ki- lô- gam cà chua là :
127 × 3 = 381 (kg)
Thu hoạch ở cả hai thửa ruộng được số ki- lô- gam cà chua là:
127 + 381 = 508 (kg)
Đáp số: 508 kg cà chua
* Yêu cầu:
- Nắm được yêu cầu của bài
- Viết đúng các đơn vi, viết đúng lời giải
10
15 420 - 5140 = 10280( cái cốc)
Đáp số : 10280 cái cốc
* Yêu cầu của bài toán:
- Nắm được cách tìm một phần mấy của một số
- Nắm được cách giải bài toán bằng hai phép tính.
* Dự kiến sai lầm:
- Không tìm được “
1
số lượng”.
3
- Nhầm lẫn giữa tên đơn vi (cái cốc với từ số lượng).
* Hướng dẫn giải:
- Cho học sinh đọc kỹ đề bài, xác đinh cái đã cho và cái cần tìm trong đề
toán. Hướng dẫn học sinh tóm tắt.
- Muốn biết còn phải sản xuất bao nhiêu cái cốc nữa, trước hết ta phải tìm
gì ? (Tìm số cái cốc đã sản xuất được là bao nhiêu ?)
Việc thực hiện tìm số cái cốc đã sản xuất được ta làm như thế nào ?
15 420 : 3 = 5140 (cái cốc)
11
Theo kế hoạch phải sản xuất 15 420 cái cốc, đã sản xuất được 5140 cái
cốc, vậy ta tìm số cái cốc cần phải sản xuất nữa như thế nào ?
15 420 - 5140 = 10280 (cái cốc)
- Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Bài 2- trang 129
Muốn lát nền 6 căn phòng như nhau cần 2550 viên gạch. Hỏi muốn lát nền 7
căn phòng như thế cần bao nhiêu viên gạch ?
* Dự kiến khó khăn sai lầm:
- Học sinh lúng túng, lẫn lộn giữa tìm cốc và hộp
- Viết sai lời giải, sai tên đơn vi
* Yêu cầu:
- Nắm được cách tìm giá tri một phần
12
- Nắm được cách tìm các phần
- Các phép tính được tính toán chính xác không nhầm lẫn
* Hướng dẫn giải:
- Cho học sinh đọc kỹ đề bài
- Bài toán cho biết gì và yêu cầu tìm gì ?
Tóm tắt bài toán
- Tìm số cốc đựng trong mỗi hộp là bao nhiêu ? tìm bằng cách nào ?
42 : 7 = 6 (cốc)
- Muốn tìm số hộp để đựng 4572 cốc thực hiện như thế nào ?
4572 : 6 = 762 (hộp)
- Bài toán có nội dung hình học
Bài 3 - VBTT trang 64
Hình chữ nhật có chiều rộng 8cm, chiều dài gấp 3 lần chiều rộng. Tính
diện tích và chu vi của hình chữ nhật đó.
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật đó là :
8 × 3 = 24 (cm)
Diện tích hình chữ nhật đó là :
24 × 8 = 192 (cm2)
Chu vi hình chữ nhật đó là :
( 24 +8 ) × 2 = 64 (cm)
Đáp số : 192 cm2, 64 cm
- Sai lời giải, sai phép tính
- Sai tên đơn vi
* Yêu cầu:
- Nắm vững quy tắc tính chu vi, diện tích hình vuông
- Hiểu được cụm từ trong đề bài “mảng tường dùng hết 9 viên gạch men”
* Hướng dẫn giải:
- Cho học sinh đọc kỹ đề bài.
- Bài toán cho biết gì ? và yêu cầu tìm gì ?
- Đưa ra hệ thống câu hỏi mắt xích có tính chất gợi ý
Để tính được diện tích của mảng tường, trước tiên ta phải tìm gì ?
(Tìm diện tích của 1 viên gạch men) - Tìm bằng cách nào ? (HS nêu quy tắc
tính diện tích hình vuông)
Tính được diện tích của 1 viên gạch men, ta tìm được diện tích của mảng
tường
- Diện tích 1 viên gạch men hình vuông được tính như thế nào ?
10 × 10 = 100 (cm2)
- Diện tích của mảng tường được tính như thế nào ? 100 × 9 = 900 (cm2)
Tóm lại: Việc vận dụng các phương pháp trên đòi hỏi phải rất linh hoạt.
Có những bài toán kết hợp nhiều phương pháp, có những bài toán ta không sử
dụng những phương pháp trên. Chính vì vậy phần trình bày này chỉ có ý nghĩa
tham khảo, vận dụng thêm vào tiến trình bài giảng của mình để bài giảng đạt
hiệu quả cao nhất.
4. Kiểm nghiệm :Từ việc áp dụng dạy học tích cực để dạy giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 3, năm học 2015-2016 tôi tiến hành dạy thực nghiệm ở lớp 3A.
Như vậy so sánh giữa hai lớp 3A và 3B, ta thấy chất lượng môn Toán lớp 3A
hơn hẳn lớp 3B.
Sau khi học sinh lớp 3A năm học 2015-2016 và lớp 3B năm học 2015 - 2016
học xong dạng bài Bài toán liên quan đến rút về đơn vi, bài toán có đến hai bước
tính, bài toán có nội dung hình học và các tiết luyện tập. Tôi tiến hành đưa ra các
bài toán, với những phương pháp giải đã soạn cụ thể ở giáo án.
Hoàn thành
Chưa HT
Lớp
3A( 30HS)
3B( 29HS)
HT ở mức 1
( Điểm 9-10)
HT ở mức 2
( Điểm 7-8)
HT ở mức 3
( Điểm 5-6)
ứng với
điểm dưới 5
8
26.6
11
36.7
11
36.7
khắc phục tình trạng trên.
Qua quá trình giảng dạy và việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực để
dạy giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 3 (như đã trình bày ở trên), tôi đã
thu được những kết quả bước đầu đáng tin cậy ở lớp tôi đó là: Số học sinh chưa
đọc kỹ đề bài, thiếu suy nghĩ cặn kẽ về các dữ kiện và điều kiện bài toán, sai lầm
do nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linh hoạt, khả năng tưởng tượng yếu;
sai lầm do không nắm vững kiến thức; sai lầm do ngôn ngữ còn nhiều hạn chế
15
đã giảm hẳn, cụ thể kết quả chất lượng khảo sát ở bảng 3 thể hiện rõ tính ưu việt
và hiệu quả rất cao, tạo hứng thú học các bài toán giải cho học sinh.
* Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tế áp dụng phương pháp dạy học tích cực để rèn kỹ năng giải
toán cho học sinh lớp 3, bản thân tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Để chất lượng dạy- học học sinh làm các bài toán giải lớp 3 ” nói riêng
và chất lượng môn toán nói chung từng bước được nâng lên và đạt kết quả tốt
đòi hỏi mỗi giáo viên phải làm tốt những nội dung sau:
- Người giáo viên phải nắm vững mục tiêu đào tạo nắm vững yêu cầu và
nhiệm vụ của môn học.
- Thật sự nhiệt tình với nghề nghiệp có trình độ nghiệp vụ vững vàng .
Không ngừng học hỏi để nâng cao tay nghề có ý thức tiến bộ, thật sự thương yêu
gần gũi học sinh.
- GV phải nghiên cứu kĩ nội dung chương trình SGK, SGV, hiểu được
nội dung , dụng ý của sách , nắm chắc bản chất phương pháp dạy học từng bài
dạy, từng dạng bài cụ thể.
- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chuyên môn của khối, tổ, trường để
nắm bắt một cách cụ thể, thường xuyên và có chất lượng nội dung các cuộc
họp đồng thời để học hỏi những kinh nghiệm quí báu của đồng nghiệp.
- Soạn bài cẩn thận, chu đáo, có chất lượng thật sự trước khi đến lớp.
thời gian, khả năng và kinh nghiệm còn hạn chế nên ở đây tôi mới chỉ nêu
được " Một số kinh nghiệm về rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 3 nâng cao hiệu quả giờ dạy. Kinh nghiệm trên đây đã triển khai thực hiện
có hiệu quả ở Trường Tiểu học Quảng Phú .Trong đề tài này còn có gì khiếm
khuyết rất mong được sự góp ý kiến nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, các
cấp quản lí giáo dục và hội đồng khoa học cấp trên để bổ sung cho đề tài
được hoàn thiện hơn..
Tôi xin cam đoan bản SKKN này là do tôi đúc rút qua quá trình giảng dạy
thực tế tại đơn vị, không sao chép của ai, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lê Thị Dung
Nguyễn Thị
Phương
17
18
19