RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 3 - Pdf 13

1
I/ Tên đề tài:
MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 3
II/ Đặt vấn đề:
Trong cuộc sống xã hội, quan hệ giữa người với người, quá trình hoạt
động trong mọi lĩnh vực, giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng. Con người có
thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông
thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ. “Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết, sự cộng tác
giữa các thành viên trong xã hội”.
Trong quá trình dạy và học, giao tiếp càng đóng vai trò quan trọng hơn.
Nhưng ở bậc tiểu học, học sinh cần phải rèn luyện kĩ năng giao tiếp. Nó được
thể hiện hai phương diện “Nói-viết”
Như vậy, “Nói - viết” như thế nào để mang lại hiệu quả cao trong học
tập cho học sinh, giúp các em giao tiếp tốt hơn là vấn đề chúng ta cần phải
quan tâm.
Chính vì thế, tôi luôn có suy nghĩ làm thế nào để trau dồi khả năng giao
tiếp cho các em. Từ đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: “Một vài
biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3.”
III/ Cơ sở lý luận:
Từ xưa đến nay, ông cha ta luôn đề cao việc giáo dục lời nói trong giao
tiếp “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trong nhà trường áp dụng phương
châm “Tiên học lễ, hậu học văn”. Trong nhà trường không chỉ dạy các em
viết, thực hành trên giấy mà còn dạy các em biết sử dụng lời nói biểu cảm
trong giao tiếp là một việc làm vô cùng quan trọng.
Căn cứ theo:
- Thông tư 32/2009/TT-BGDĐT về việc xếp loại hạnh kiểm của học sinh
tiểu học.
- Kế hoạch và nhiệm vụ của ngành theo chủ đề năm học 2010-2011.
IV/ Cơ sở thực tiễn:

3. Nhóm học sinh còn nhút nhát, nói năng cộc lốc, ngại giao tiếp, hầu
như không biết sử dụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp.
Sau khi phân tích đặc điểm cũng như giao tiếp của từng học sinh trong
lớp, tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều khắp 3 đối
tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm.
Ưu điểm của biệp pháp này: Các em tương trợ lẫn nhau trong quá trình
học tập là một việc làm hết sức bổ ích như câu tục ngữ “Học thầy không tày
học bạn”
3
Trong quá trình học tập đua thầy, đua bạn sẽ giúp các em mạnh dạn,
năng động hơn rất nhiều trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói.
Sự giúp đỡ động viên của các bạn trong nhóm, trong tổ sẽ giúp các em
tự tin hơn trước lời phát biểu của mình.
Qua phân tích tổng hợp khả năng giao tiếp của học sinh, tôi thống kê
chất lượng học sinh đầu năm như sau:
Khả năng Số học sinh Tỉ lệ (%)
Nói tốt 10 24,4
Tạm được 21 51,2
Chưa được 10 24,4
Biện pháp thứ ba: Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn kỹ năng
giao tiếp cho học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học là dạy và học theo hướng tích cực chủ
động, sáng tạo trong đó học sinh phải tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự
chiếm lĩnh kiến thức mới theo sự tổ chức và hướng dẫn hợp lý của giáo viên
trong môi trường giáo dục thích hợp nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục
của bậc học, của môn học, của bài học.
Một trong những nội dung của việc đổi mới phương pháp là đưa các
hình thức dạy học mới vào trong từng bài học. Vì thế, để rèn kỹ năng giao
tiếp cho các em, tùy từng bài học lựa chọn hình thức dạy học phù hợp.
Ví dụ: - Thảo luận nhóm:

Đây là hình thức học tập được áp dụng nhiều ở phân môn kể chuyện
qua bài tập “Phân vai dựng lại câu chuyện”. Để học sinh có kỹ năng giao tiếp
tốt, giáo viên cần chú ý cho học sinh có tư thế giọng kể thích hợp. Đặc biệt
nắm vững nội dung câu chuyện định kể.
Ví dụ: Câu chuyện “Người mẹ”
Giáo viên có thể cho học sinh tham gia dựng lại câu chuyện như sau:
- Các nhân vật: - Bà mẹ
- Thần Đêm Tối
- bụi gai
- hồ nước
- Thần Chết
- Phần 1: Bà mẹ chạy ra ngoài hớt hải gọi con, Thần Đêm tối đóng giả
bà cụ, mặc áo choàng đen.
- Phần 2: Bà mẹ gặp bụi gai .
- Ph ần 3 : Bà mẹ gặp hồ nước và Thần Chết
- Chọn vai: chọn học sinh phù hợp với từng nhân vật.
5
- Học sinh nhận vai, học thuộc lời thoại, nắm vững yêu cầu thể hiện
tình cảm thái độ (Qua ánh mắt, cử chỉ, động tác, lời nói ) của nhân vật trong
câu chuyện
- Giáo viên hướng dẫn cách diễn xuất cho từng nhân vật.
- Học sinh trình diễn.
- Cả lớp nhận xét, bình chọn học sinh diễn xuất giỏi để biểu dương
khen thưởng.
Ngoài ra, hình thức học tập này cũng được áp dụng nhiều ở môn Đạo
đức qua bài tập “Đóng vai theo tình huống cho sẵn”.
Ví dụ: Bài tập 5(Bài 10) “Đóng vai theo tình huống thể hiện sự tôn
trọng khách nước ngoài”.
- Học sinh phải xác định được yêu cầu của bài tập.
- Thảo luận, phân công một học sinh nêu tình huống, một học sinh nêu

- Đa số các em có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt,
các em nhận thức được cần lễ phép với mọi người trên, phải xưng hô đúng
cách, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp. Nói chung khả năng giao tiếp của
các em đạt yêu cầu.
- Kết quả cụ thể:
Khả năng Số học sinh Tỉ lệ (%)
Nói tốt 27 65,8
Tạm được 10 24,4
Chưa được 4 9,8
VII/ Kết luận:
Dạy Tiếng Việt cho học sinh trong nhà trường là giúp cho các em hiểu
và sử dụng được Tiếng Việt, một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của
chúng ta.
Hơn nữa, việc dạy tiếng Việt không phải chỉ đơn thuần nhằm cung cấp
cho học sinh một số những khái niệm hay qui tắc ngôn ngữ mà mục đích cuối
cùng cần phải đạt đến lại là việc giúp các em có được kỹ năng, kĩ xảo trong
việc sử dụng ngôn ngữ. Học sinh không thể chỉ biết những lý thuyết về hệ
thống ngôn ngữ Tiếng Việt, mà không có khả năng sử dụng những hiểu biết
ấy vào giao tiếp. Ngoài ra, việc dạy đóng vai các tình huống trong môn Đạo
đức cũng có vai trò rất quan trọng trong việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học
sinh. Tóm lại, rèn kỹ năng giao tiếp là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Do vậy tôi
đã bước đầu nghiên cứu và áp dụng các hình thức nhằm giúp việc giảng dạy
đạt hiệu quả như:
- Nắm tình hình học sinh qua bàn giao công tác chủ nhiệm.
- Phân loại khả năng giao tiếp của học sinh.
- Đổi mới phương pháp dạy học.
- Rèn kĩ năng hội thoại.
7
- Động viên khen thưởng.
- Giữ mối quan hệ chặt chẽ với phụ huynh học sinh.

a) Ưu điểm: b) Hạn chế: 5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH trường:

thống nhất xếp loại:
Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký đóng dấu, ghi rõ họ tên)
II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD&ĐT
thống nhất xếp loại
Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký đóng dấu, ghi rõ họ tên)
III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐTQuảng Nam thống nhất
xếp loại
Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH
(Kỹ, ghi rõ họ tên) (Ký đóng dấu, ghi rõ họ tên)
4. Cơ sở thực tiễn 2
5. Nội dung nghiên cứu 9
6. Kết quả nghiên cứu 3
7. Kết luận 1
8. Đề nghị
9. Phụ lục
1
10. Tài liệu tham khảo
11. Mục lục
12. Phiếu đánh giá xếp loại
1
Thể thức văn bản, chính tả 1
Tổng cộng 20đ
Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại:
Người đánh giá xếp loại đề tài:

Mẫu SK3
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status