Rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh thông qua dạy học chủ đề xã hội môn tự nhiên và xã hội lớp 3 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Th.S Lê Thị Nguyên Giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, người đã tận
tâm hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu,
các thầy cô cùng các em học sinh trường Tiểu học Tiên Dương (Đông Anh - Hà
Nội), Tiểu học Uy Nỗ (Đông Anh – Hà Nội) và trường Tiểu học Xuân Hòa (Phúc
Yên- Vĩnh Phúc) đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra, khảo sát thực trạng và thực
nghiệm sư phạm.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn
thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, Ngày tháng năm 2013
Tác giả

Nguyễn Thị Thùy


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Những số liệu và
kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Đề tài cũng chưa công bố trong bất
cứ một công trình khoa học nào.

Hà Nội, Ngày tháng năm 2013
Tác giả

Nguyễn Thị Thùy


MỤC LỤC

2.4.4. Phỏng vấn..................................................................................... 28
2.5. Kết quả khảo sát thực trạng ................................................................ 29
2.5.1. Thực tiễn dạy học môn TN&XH ở tiểu học hiện nay.................... 29
2.5.2. Thực trạng việc rèn luyện KNGT cho HS thông qua dạy học chủ đề
Xã hội môn TN&XH lớp 3 ..................................................................... 34
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIAO TIẾPCHO
HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ XÃ HỘI MÔN TỰ
NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở LỚP 3................................................................... 42
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp rèn KNGT cho HS thông qua dạy học
môn TN&XH ở lớp 3 (chủ đề Xã hội) ....................................................... 42
3.1.1. Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của trẻ .................. 42
3.1.2. Đảm bảo việc rèn luyện KNGT gắn với thực tiễn cuộc sống của
HS.. ........................................................................................................ 43
3.1.3. Đảm bảo phát triển KNGT trên nền tảng các giá trị sống dành cho
trẻ em lứa tuổi HSTH ............................................................................. 44
3.2. Biện pháp rèn KNGT cho HS thông qua việc dạy học chủ đền Xã hội,
môn TN&XH lớp 3 ................................................................................... 45
3.2.1. Tăng cường cho trẻ thực hành, trải nghiệm trong các tình huống
giao tiếp cụ thể ....................................................................................... 45
3.2.2. Xây dựng các tình huống giao tiếp giả định đa dạng, phù hợp với
nội dung bài học ..................................................................................... 46
3.2.3. Tăng cường các hoạt động tương tác nhóm .................................. 48
3.3. Minh họa các biện pháp rèn luyện KNGT cho HS thông qua dạy học
chủ đề Xã hội, môn TN&XH lớp 3............................................................ 50
3.3.1. Bài “Các thế hệ trong một gia đình” (bài 19, TN&XH lớp 3) ....... 50
3.3.2. Bài “Phòng cháy khi ở nhà” (bài 23, TN&XH 3) .......................... 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 58
1. Kết luận .................................................................................................... 58
2. Kiến nghị.................................................................................................. 59


giao tiếp của con người vào các mối quan hệ xã hội đã tạo nên sự phong phú về tinh
thần của mỗi con người.
Đối với trẻ em nói chung và HSTH nói riêng, giao tiếp mang một ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Giao tiếp giúp trẻ được hoạt động, vui chơi, hòa đồng hơn với bạn
bè, giải tỏa những băn khoăn thắc mắc trong cuộc sống hàng ngày. Không những thế,
thông qua giao tiếp các em có thể tiếp thu, lĩnh hội được các kiến thức khoa học. Do
vậy rèn KNGT được đặt ra như một yêu cầu tất yếu được đặt ra với HSTH. Đối với
HSTH, đặc biệt là HS lớp 3, đây là giai đoạn các em được cắp sách tới trường với
nhiệm vụ chủ đạo là học tập. Bởi vậy nên việc giao tiếp, nói chuyện với cô, bạn bè về
việc học tập hay đơn giản chỉ là những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày còn nhiều
thiếu sót, các em hiểu ý nhưng không diễn đạt được ý của mình. Điều này làm ảnh
hưởng rất nhiều tới hoạt động tiếp thu tri thức khoa học của các em.
Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp, từ lâu việc dạy học trong nhà
trường đã hướng tới mục đích giao tiếp. Các môn học đều lồng ghép việc rèn
KNGT cho HS để đảm bảo sự phát triển về nhân cách. Các môn học được gắn kết
đặc biệt, xắp xếp phân bổ hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của HS.
Trong đó môn TN&XH cũng chiếm lĩnh một vị trí rất quan trọng trong việc rèn
KNGT cho HS. Do đặc thù môn học nên KNGT của HS có thể phát huy ở nhiều
chủ đề nhất là chủ đề Xã hội. Tuy nhiên hiện nay việc rèn luyện KNGT cho các em
vẫn chưa được thực sự chú ý đúng mức. Dạy học vẫn đề cao việc truyền tải kiến
thức, chưa hướng vào làm nảy sinh những nhu cầu mong muốn rèn luyện, chiếm
lĩnh và phát triển KNGT thông qua môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Rèn KNGT cho HS còn thiếu đồng bộ, toàn diện... Vì vậy, nhiệm vụ rèn luyện

1


KNGT cho HSTH ngày càng cấp thiết và đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn vì
những lợi ích mà nó mang lại cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, người nghiên cứu lựa chọn đề tài : “Rèn KNGT

hội, môn TN&XH lớp 3 theo hướng phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của trẻ,

2


gắn với thực tiễn cuộc sống của HS, dựa trên nền các tảng giá trị sống cơ bản dành
cho trẻ em lứa tuổi HSTH thì sẽ nâng cao hiệu quả của việc rèn KNGT cho HS
trong nhà trường.
8. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của khóa luận gồm ba chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc rèn KNGT cho HS thông qua dạy học chủ đề Xã
hội, môn TN&XH lớp 3
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc rèn KNGT cho HS thông qua dạy học chủ đề
Xã hội, môn TN&XH lớp 3
Chương 3: Đề xuất biện pháp rèn KNGT cho HS thông qua dạy học chủ đề Xã hội,
môn TN&XH lớp 3

3


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ
ĐỀ XÃ HỘI – MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
1.1. Một số vấn đề về giao tiếp
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm giao tiếp:
Giao tiếp là một hoạt động sống của con người hết sức phong phú và đa dạng.
Giao tiếp là quá trình con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương
tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác, đó là hoạt động phức tạp và nó cũng

Như vậy, các tác giả khác nhau có những cách nhìn nhận khác nhau về giao tiếp.
Trên cơ sở phân tích những quan niệm của các tác giả, người nghiên cứu đưa ra
khái niệm giao tiếp như sau: “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin, cảm xúc,
nhân thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi giữa các chủ thể, đồng thời tự điều chỉnh
hành vi của bản thân. Giao tiếp là một hoạt động không thể thiếu của con người,
con người sẽ không thể phát triển khi không có giao tiếp. Phương tiện giao tiếp đặc
thù là ngôn ngữ”.
Vai trò của giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình con người ý thức được mục đích, nội dung và những
phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác. Giao tiếp diễn ra nhằm trao
đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan, nhu cầu... của
những người tham gia vào quá trình giao tiếp. Giao tiếp giúp cho mỗi người tự hoàn
thiện mình theo yêu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp, của các quan hệ xã hội. Qua giao
tiếp mà những phẩm chất tâm lý của con người, những hành vi ứng xử của con
người được nảy sinh và phát triển đồng thời giúp con người nhận thức, hiểu biết lẫn
nhau, sự nhận thức, hiểu biết lẫn nhau vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, phải
nhận thức dù là ít ỏi về đối tượng giao tiếp của mình. Nhờ có quá trình xã hội hóa
mới thực chất hòa nhập mỗi cá nhân vào các hoạt động của nhóm, cộng đồng, dân
tộc, địa phương.
Giao tiếp góp phần quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người. Giao tiếp giúp con người có dáng đi thẳng và hình thành nên những cách
cư xử đúng mực giữa con người với con người. Ngay từ khi sinh ra, nhờ có giao
tiếp với các phương tiện giao tiếp khác nhau mà trẻ học được cách đi đứng, dáng
đứng thẳng hay cách nói năng lễ phép, cư xử đúng mực với các mối quan hệ phức
tạp của cuộc sống xung quanh các em. Giao tiếp giúp con người hình thành và phát
triển ngôn ngữ. Trẻ từ nhỏ đã được tiếp xúc với ngôn ngữ, được dạy nói bằng ngôn
ngữ, dần dần trẻ hiểu được ngôn ngữ và sử dụng được ngôn ngữ đơn giản để thỏa
mãn một số nhu cầu sinh học, nhận thức của trẻ. Suốt cả đời người, con người vẫn
còn phải học, nhiều khái niệm mới xuất hiện trong quá trình con người cải tạo tự
nhiên, cải tạo xã hội. Cách nói, cách dùng từ, nhịp điệu ngôn ngữ... thể hiện con

người ta chia giao tiếp ra làm hai loại:
Giao tiếp chính thức: Là sự giao tiếp giữa các thành viên trong một nhóm xã
hội hoặc các nhóm xã hội chính thức, nghi thức giao tiếp được dư luận xã hội hoặc
pháp luật, phong tục tập quán quy định. Ví dụ: giao tiếp giữa thầy giáo và HS được
pháp luật quy định...
Giao tiếp không chính thức: Là sự giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm
không chính thức với nhau. Ví dụ như sự giao tiếp giữa các HS trong một lớp học...
Thứ ba, theo loại phương tiện giao tiếp có thể chia thành các loại:
6


Giao tiếp vật chất: Là loại giao tiếp thông qua hành động với vật chất.
Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ hay
thể hiện nét mặt...
Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): Đây là hình thức giao tiếp đặc
trưng của con người, xác lập và vận hành mối quan hệ giữa con người với con
người trong xã hội.
Thứ tư, theo hướng tiếp cận của tâm lý học xã hội thì giao tiếp bao gồm các kiểu
loại sau:
Giao tiếp định hướng - xã hội: Giao tiếp định hướng - xã hội là loại giao tiếp
mà chủ thể giao tiếp với tư cách là đại diện cho xã hội nhằm truyền tin, thuyết phục
hoặc kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động.
Giao tiếp định hướng - nhóm: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp với tư
cách là đại diện cho một nhóm xã hội nhằm mục đích giải quyết những vấn đề do
nhóm đặt ra trong học tập, sản xuất, kinh doanh, chiến đấu...
Giao tiếp định hướng - cá nhân: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp không
đại diện quyền lợi cho nhóm xã hội nào cả mà hoàn toàn vì mục đích cá nhân, xuất
phát từ động cơ, nhu cầu, hứng thú, xúc cảm của cá nhân. Dựa vào khoảng cách
không gian để người ta đánh giá mức độ thân mật hay xã giao, thân tình hay vì trách
nhiệm. Khoảng cách không gian giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp ta

gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra. Mỗi thoại trường quy định một cách thức sử
dụng ngôn ngữ phù hợp với nó.
Mục đích giao tiếp: Bất kì hoạt động nào cũng cần có mục đích. Giao tiếp luôn
nhằm một mục đích nhất định, tuy có thể là mục đích chính hoặc mục đích phụ
nhưng khi đạt được mục đích giao tiếp thì cuộc giao tiếp cũng đạt hiệu quả.
Phương tiện và cách thức giao tiếp: Phương tiện giao tiếp có thể là các yếu tố ngôn
ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Tùy từng phạm vi, từng lĩnh vực hoạt động của con người
mà lựa chọn các cách thức giao tiếp sao cho phù hợp. Phương tiện và cách thức giao
tiếp chi phối rất nhiều đến hoạt động giao tiếp.
1.1.4. Phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa các nhân vật giao tiếp về vấn đề
giao tiếp nào đó, muốn thực hiện được quá trình giao tiếp thì cần phải có các
phương tiện giao tiếp cơ bản.
Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để thể hiện thái
độ, tình cảm, mối quan hệ và những tâm lý khác của mình trong một cuộc giao tiếp.
Phương tiện giao tiếp bao gồm có phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phương
tiện giao tiếp phi ngôn ngữ. Các phương tiện giao tiếp được nhiều ngành khoa học
và nhiều tác giả quan tâm. Song hầu hết các nhà nghiên cứu như Hoàng Anh,
Nguyễn Thanh Bình, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa… thống nhất giao tiếp
được thực hiện bằng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ: Đây là phương tiện giao tiếp chính của con
người, bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi bất cứ thông tin nào, kể cả những

8


tình cảm, ám chỉ hoặc miêu tả sự vật.Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ dựa vào
các yếu tố sau đây:
- Nội dung ngôn ngữ: Ý nghĩa của ngôn ngữ có hai hình thức để tồn tại là khách
quan và chủ quan. Hiểu được ý cá nhân là cơ sở tạo nên sự đồng điệu trong giao


9


Vùng mật thiết: 0 – 0.5m
Vùng riêng tư: 0.5 – 1.5m
Vùng xã giao: 1.5 – 3.5m
Vùng công cộng: 1
luôn được đề cao trong mọi cuộc giao tiếp , giao tiếp bất kì trong trường hợp nào
cũng không được dùng những từ ngữ mang tính miệt thị, xỉ vả, xúc phạm nhân cách
của nhau, nhất là ở những chỗ đông người, nơi công cộng. Hơn nữa hành vi giao
tiếp có văn hóa cũng phải là hành vi phù hợp với phong tục tập quán của địa
phương, dân tộc đối tượng giao tiếp.
- Thể hiện ở trang phục, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách: Tôn trọng
nhân cách đối tượng giao tiếp không chỉ dừng lại ở cách cư xử, cử chỉ, giọng điệu,
ngôn ngữ... mà nó còn ở cả cách ăn mặc, trang phục. Cách ăn mặc, trang phục, đầu
tóc có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến cuộc giao tiếp, nó làm cho bản
thân có nhu cầu giao tiếp hơn. Trang phục, đầu tóc gọn gàng, đúng kiểu cách là
những biểu hiện tôn trọng đối tượng giao tiếp và cũng chính là tôn trọng nhân cách
của bản thân.
Thứ hai: Cần có thiện ý trong giao tiếp
Thiện ý trong giao tiếp được hiểu là luôn mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho
người mà mình giao tiếp. Thiện ý giao tiếp thể hiện ở những hành động cụ thể như:

11


- Tin tưởng vào đối tượng giao tiếp: Trong giao tiếp quan trọng là phải tin tưởng
vào đối tượng giao tiếp , nếu không tin tưởng vào chính đối tượng mà mình giao
tiếp thì thì cuộc giao tiếp cũng không thể duy trì được lâu dài. Việc này làm cho đối
tượng giao tiếp thêm tự tin vào bản thân, cố gắng hoàn thiện tốt đẹp hơn.
- Thái độ không thành kiến với đối tượng giao tiếp: Khi ta từ bỏ những định
kiến về đối tượng giao tiếp làm cho chính bản thân độ lượng và khách quan hơn
trong giao tiếp, dễ nhận tình cảm tốt đẹp từ đối tượng làm cho quá trình giao tiếp
đạt hiệu quả.
- Thái độ chân thành và công bằng khi bình luận, nhận xét về vấn đề được mang
ra giao tiếp: Việc ta chân thành và công bằng khi bình luận về vấn đề giao tiếp giúp
cho đối tượng giao tiếp tôn trọng, tin tưởng vào người mình giao tiếp và sẽ mang lại

truyện cổ tích, báo nhi đồng... đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các
cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí...Tất cả đều
có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
HSTH là thực thể đang lớn lên, đang hoàn thiện về cơ chế (sinh lí) và phát
triển tâm lí, nhân cách. Do đặc điểm lứa tuổi, phạm vi giao tiếp của HS thường hẹp.
Các em chủ yếu quan hệ với những người thân trong gia đình, bạn bè cùng xóm
phố; với bạn cùng tổ, cùng lớp và các thầy cô giáo phụ trách lớp. Nội dung giao tiếp
của các em thường xoay quanh việc học tập vui chơi, sinh hoạt tập thể, trao đổi về
sách báo, “bàn luận” về những điều xảy ra trong cuộc sống của các em. Vì vậy giao
tiếp của các em còn đơn giản và mang tính chất cảm xúc. Hình thức giao tiếp chủ
yếu của các em là giao tiếp trực tiếp bằng hành động với vật thể (cho quà, trao đổi
sách báo, mượn đồ dùng học tập…), bằng cử chỉ, hành vi và ngôn ngữ. Nói đến đặc
điểm giao tiếp của HSTH, hai tác giả Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa [....]
cho rằng các em biểu hiện rõ tính độc lập, tự tin, thích nghi xã hội và ham hiểu biết
trong giao tiếp với mọi người. HSTH đã biết vận dụng ngôn ngữ để biểu lộ tình
cảm, thái độ, mong muốn hoặc diễn đạt cách nghĩ của mình. Các em biết lắng người
khác nói chuyện, có khả năng hiểu được ý đồ của người khác thông qua hình thức
quan sát, hỏi thăm.
Đặc điểm giao tiếp còn thể hiện trong mối quan hệ liên nhân cách của HS
trong trường tiểu học. Quan hệ liên nhân cách là quan hệ giữa người với người, giữa
cá nhân với cá nhân trên cơ sở những tình cảm và sự đồng nhất với nhau ở một mức
độ nhất định. HSTH ngay từ giờ phút đầu tiên đến trường đã sống với tập thể lớp.
Sự phát triển nhân cách của các em từ đây gắn liền với cuộc sống nhà trường, với
tập thể. Ở đó, mối quan hệ lẫn nhau giữa trẻ và mối quan hệ giữa trẻ với thầy cô
giáo có ý nghĩa đặc biệt với cuộc sống của các em.
Trong những năm đầu của tiểu học, mối quan hệ lẫn nhau giữa trẻ với nhau
trong tập thể lớp nhìn chung được quyết định bởi GV thông qua việc tổ chức hoạt
động học cho trẻ. Vì vậy, lí do chọn bạn của các em thường là sự thành công hay
không thành công của bạn mình trong hoạt động học. Ở đây, cơ sở của sự hòa hợp
là ý muốn chung, giống nhau về uy quyền của GV. Trong những năm sau của tiểu

năng sống cần thiết để các em bước vào cuộc sống.
1.2. Vấn đề rèn luyện KNGT cho HSTH
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Kĩ năng
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Kĩ năng là khả năng của con
người vận dụng những kiến thức đã thu được trong lĩnh vực nào đó áp dụng vào
thực tế. Từ điển đưa ra khái niệm chung về kĩ năng một cách chung, có sự đồng
nhất và được coi như khả năng của con người.

14


Theo tác giả Đào Quang Trung [3,tr.38], ông cho rằng: Kĩ năng là khả năng
con người thực hiện công việc một cách hiệu quả và chất lượng trong một thời gian
thích hợp, trong những điều kiện nhất định dựa vào tri thức và kĩ sảo đã có. Như
vậy, kĩ năng là một quá trình tâm lý và luôn gắn với những hoạt động cụ thể. Kĩ
năng là kiến thức trong hành động. Do đó kĩ năng được hình thành trong hành động
và những điều kiện cụ thể. Theo định nghĩa này, tác giả đã đưa ra khái niệm về kĩ
năng là khả năng con người thực hiện công việc một cách hiệu quả và chất lượng
trong một thời gian thích hợp. Tuy nhiên, khái niệm này còn chưa có sự phân biệt rõ
những khái niệm như: kĩ năng, kĩ sảo, tri thức...
Cũng đưa ra khái niệm về kĩ năng, tác giả PGS.TS Đặng Thành Hưng - Viện
khoa học giáo dục Việt Nam cho rằng: Kĩ năng là một dạng hành động được thực
hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện
sinh học-tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý
chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định,
hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định.
Mỗi tác giả nghiên cứu về kĩ năng đều đưa ra những khái niệm riêng theo
quan điểm của mình, trong quá trình nghiên cứu đề tài, người nghiên cứu lựa chọn
theo khái niệm kĩ năng của PGS.TS Đặng Thành Hưng - Viện khoa học giáo dục

hành động nên kĩ năng có cấu trúc bao gồm: (1) hệ thống thao tác được tổ chức
linh hoạt; (2) trình tự logic của quá trình thực hiện các thao tác; (3) các hành vi và
quá trình điều chỉnh hành động; (4) nhịp độ và cơ cấu thời gian thực hiện hành
động. Cần lưu ý rằng tri thức và kết quả hành động không phải là thành tố cấu trúc
kĩ năng. Tri thức không nằm trong kĩ năng mà là điều kiện mà chủ thể phải có để
hình thành kĩ năng và kiểm soát kĩ năng của mình. Kết quả hành động không nằm
trong kĩ năng mà nằm trong hiệu quả của kĩ năng.
1.2.1.2. KNGT
Trong chuyên đề về KNGT của Trường Đại học Đông Á, Tiến sĩ Nguyễn Thị
Bích Thu, đã đưa ra khái niệm KNGT như sau: KNGT là khả năng nhận biết mau lẹ
những biểu hiện bên ngoài và đoán biết tâm lý bên trong của con người (với tư cách
là đối tượng giao tiếp) đồng thời biết sử dụng phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ, biết cách định hướng để điều khiển quá trình giao tiếp đạt một mục đích
đã định.
KNGT là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá
nhân với sự vận động của mắt, miệng, tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân, đồng thời với
ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa, hợp lí giữa các vận
động mang một nội dung tâm lí nhất định, phù hợp với mục đích, ngôn ngữ và
nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp.
KNGT giúp cho quá trình tương tác giữa các cá nhân, tương tác trong nhóm
với tập thể có hiệu quả hơn. Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng
của mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn. Thái độ cảm thông với người khác
cũng góp phần giúp giải quyết vấn đề mà mình gặp phải. Kĩ năng hợp tác và làm
việc tập thể là các yếu tố quan trọng trong KNGT, đem lại hiệu quả làm việc trong

16


nhóm và giúp cá nhân tăng cường



KN quản lí

KN

KN nhậ
ận
thức

Giao tiếp
ti

3 nhóm kĩ năng học tập cơ bản

Trong ba nhóm kĩ
k năng học tập cơ bản được mô tả,, những
nh
phần giao nhau
phản ánh tính độc lập
p tương đđối của mỗi nhóm kĩĩ năng. Nghĩa là
l trong một hoạt
động học tập, về mặtt ccấu trúc các nhóm kĩ năng này
ày không tách rrời riêng biệt mà có
sự tích hợp đó là: phầần nào trong nhận thức có giao tiếp
p và quản
qu lí, trong giao tiếp
có nhận thức và quảnn lí, trong qu
quản lí có nhận thức và giao tiếp.
p. Mỗi
M nhóm kĩ năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status