Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
Mục lục
1
I. Mở đầu
2
I.1. Lý do chọn đề tài
2
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3
I.3. Đối tượng nghiên cứu
3
I.4. Phạm vi nghiên cứu
3
I.5. Phương pháp nghiên cứu
3
II. Nội dung
4
II.1. Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
4
II.2. Thực trạng
4
a. Thuận lợi, khó khăn
5
b. Thành công, hạn chế
6
c. Mặt mạnh, mặt yếu
7
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
1
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ gắn với từng nền văn hóa, từng dân tộc và được chuẩn hóa
thành các nghi thức lời nói. Hiện nay, nước ta đang hội nhập và phát triển nên có
sự giao lưu văn hóa với các nước. Tuy nhiên, mặt trái của sự hội nhập là văn hóa
giao tiếp, cử chỉ cũng ảnh hưởng pha trộn và vay mượn lẫn nhau một cách
không phù hợp nhất là trong giới trẻ, làm mất đi những nét văn hóa tốt đẹp của
người Việt Nam. Chính vì vậy, việc dạy cho học sinh Tiểu học sử dụng các nghi
thức lời nói là góp phần giữ gìn một trong những nét văn hóa truyền thống trong
giao tiếp của dân tộc.
Kĩ năng giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của các em sau này.
Đặc biệt trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì xã hội luôn
cần những con người mới có đầy đủ phẩm chất của người lao động hiện đại: tự
tin, năng động, sáng tạo, nhạy bén, chủ động và linh hoạt. Vì thế mà việc phát
triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh ngay từ bậc học Tiểu học là rất cần thiết và
luôn được cả xã hội quan tâm.
Hơn nữa công việc đầu tiên của dạy học môn Tiếng Việt – dạy học sản
sinh lời nói - là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham
gia vào cuộc giao tiếp. Mà để giao tiếp thành công thì phải có thái độ đúng đắn
đối với đối tượng giao tiếp. Khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời dạy
cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng. Như vậy
môn Tiếng Việt đã tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó
với thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh. Từ đây mà tâm hồn và
Nghiên cứu khối học sinh lớp 2, tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, xã
Quảng Điền, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
Về thời gian: Nghiên cứu trong năm học 2013 – 2014 và năm học 2014 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn.
- Phương pháp khảo nghiệm sư phạm.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
3
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
- Phương pháp phân tích mẫu.
- Phương pháp thống kê toán học, tổng hợp.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận để thực hiện đề tài
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” thì giao tiếp được định nghĩa là sự
thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó. Theo đó có thể
hiểu giao tiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với
nhau một thông tin trí tuệ, hay một thông tin cảm xúc nào đó, của một ý muốn
hành động hay một ý muốn nhận xét nào đó.
Cũng như các hoạt động tâm lí khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinh khi có
động cơ nói năng. Chính vì vậy công việc đầu tiên của dạy học Tiếng Việt là tạo
ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích học sinh tham gia vào cuộc giao
tiếp. Do đó, nội dung dạy học Tiếng Việt thường gần gũi, thân thiết với học
sinh, từ đó học sinh có hứng thú với những vấn đề xung quanh cuộc sống, tham
gia tích cực vào hoạt động giao tiếp.
làm chủ kiến thức, có năng lực ứng xử với thực tế cuộc sống tốt hơn. Học sinh
đã tỏ rõ sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
+ Nội dung giáo dục kĩ năng giao tiếp được biên soạn nhiều.
- Nhà trường
+ Được sự quan tâm của Ban giám hiệu, của các ban ngành đoàn thể trong
và ngoài nhà trường đã tạo điều kiện cho học sinh được học 2 buổi/ngày nên các
em được tham gia học tập, rèn luyện nhiều ở trường.
+ Trường học khang trang, phòng học sáng sủa sạch sẽ, trang bị đầy đủ
bàn ghế và bảng đen, có thiết bị đồ dùng dạy học.
- Giáo viên
+ Nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh. Có kinh nghiệm dạy học
theo mô hình VNEN.
- Học sinh
+ Học sinh đã dần làm quen với mô hình VNEN thông qua các tiết học
Tiếng Việt theo Công nghệ giáo dục 1.
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
5
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
+ Học sinh thích học môn Tiếng Việt. Các em cũng dành thời gian để làm
các hoạt động ứng dụng, tương tác với cộng đồng khi ở nhà.
- Phụ huynh học sinh: Phụ huynh học sinh đa phần đã có sự quan tâm
chăm lo hơn về việc học hành của con em mình, mua sắm tương đối đầy đủ vở
và đồ dùng học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho các em tới trường, thường xuyên
giữ được mối liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp và nhà trường.
* Khó khăn
- Giáo viên thường bị động về thời gian.
- Thường chỉ tập trung ở một số đối tượng tích cực, có năng lực nên chưa
mang lại hiệu quả như mong muốn, nhất là đối tượng học sinh yếu.
- Đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn
những nội dung thực sự thiết thực và điều chỉnh được các hoạt động học tập phù
hợp với học sinh.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
- Giáo viên:
+ Giáo viên trực tiếp điều chỉnh từng hoạt động, quan sát và nhận xét hoạt
động của học sinh.
+ Giáo viên có sự chuẩn bị về: đồ dùng, tài liệu, phương pháp giảng dạy.
+ Giáo viên có liên hệ thực tế và nhắc nhở học sinh áp dụng các nghi thức
lời nói vào cuộc sống.
Học sinh đóng vai cô giáo
- Học sinh:
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
7
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
+ Học sinh thích học các bài có nội dung giao tiếp, tích cực tham gia các
hoạt động học tập.
+ Học sinh thích và tích cực xử lý các tình huống giao tiếp gần gũi, quen
thuộc với các em.
+ Học sinh được thực hành đóng vai nhiều, thích được đóng vai, nhất là
các vai cô giáo, học sinh giỏi,…
Để đưa ra được những biện pháp thiết thực khắc phục những hạn chế trên,
tôi đã tìm hiểu một số nguyên nhân, đó là:
* Về phía giáo viên:
+ Việc tổ chức các tiết chuyên đề của môn Tiếng Việt về thực hành giao
tiếp ở trường Tiểu học chưa nhiều.
+ Giáo viên cho học sinh nói theo câu mẫu làm cho các câu nói của học
sinh thường giống nhau.
* Về phía học sinh:
+ Do đặc điểm học sinh lứa tuổi lớp 2: Vốn từ của các em còn ít, chưa vận
dụng một cách thành thạo, khả năng đọc còn hạn chế. Khả năng tập trung chú ý
của các em còn chưa được tốt.
+ Do phương pháp học tập chưa khoa học: Hầu hết các em học sinh khối
lớp 2 chưa xây dựng được cho mình phương pháp học tập đúng. Đa số các em
chưa có ý thức chủ động trong việc tự rèn luyện, bởi các em còn ham chơi, chưa
quan trọng việc học.
* Về phía gia đình
+ Do sự kèm cặp còn lỏng lẻo của gia đình đối với học sinh trong việc học
môn Tiếng Việt: Thực tế đã cho thấy đối với môn Tiếng Việt thì nhiều gia đình,
nhiều bậc phụ huynh cho rằng môn này không quan trọng như học Toán. Vậy
nên việc phát triển kĩ năng giao tiếp trong môn Tiếng Việt không được các bậc
phụ huynh chú ý luyện tập ở nhà cho con em mình.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Dạy kĩ năng giao tiếp chính là dạy học sinh biết giao tiếp phù hợp với văn
hóa Việt Nam, biết giao tiếp lịch sự, tế nhị, đạt hiệu quả cao. Đa số giáo viên
mới xem học sinh đưa ra các lời trao, lời đáp có đúng với các tình huống của
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
9
10
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
b.1. Một số biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong
dạy học môn Tiếng Việt
Qua nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp cũng như chương trình dạy học nội
dung giao tiếp trong môn Tiếng Việt, tôi xây dựng, tổng hợp, khái quát một số
kiểu dạng hoạt động, phương pháp phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức của
học sinh lớp 2.
b.1.1. Xây dựng đa dạng các dạng hoạt động dạy giao tiếp
b.1.1.1. Dạng hoạt động rèn kỹ năng trao lời và đáp lời
b.1.1.1.1. Cấu trúc của hoạt động
Ví dụ 1: HĐ2/ 3: Quan sát ảnh, đọc mẫu:
M: - Tôi là Lê Ngọc Bích.
- Sinh ngày: 12 – 6 - 2003
- Tôi thích vẽ, thích hát.
- Tôi muốn trở thành bác sĩ.
HĐ3/ 3: Thay nhau tự giới thiệu theo gợi ý:
Tôi là ai?
Tôi là……………………………
Sinh ngày…………………..……
Tôi thích…………………………
Tôi muốn trở thành………………
(Tiếng Việt 1A – trang 3)
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
* Khái niệm phương pháp phân tích mẫu: Phương pháp phân tích mẫu
trong dạy học giao tiếp là cách đưa ra những lời nhận xét, đánh giá về các yếu tố
giao tiếp nêu trong mẫu. Từ đó đưa ra các lời giao tiếp và lựa chọn những lời
giao tiếp phù hợp nhất với mục đích và hoàn cảnh giao tiếp.
* Yêu cầu sư phạm:
+ Mẫu phân tích cần phải điển hình cho hoạt động, có thể rút ra được kết
luận chung về hoạt động sẽ làm.
+ Học sinh tự phân tích và tìm ra kiến thức của hoạt động, giáo viên nếu
cần can thiệp thì chỉ dừng ở mức độ gợi ý.
+ Sử dụng kết hợp đồ dùng dạy học để tăng hiệu quả của tiết học.
+ Kết hợp với phương pháp đóng vai để học sinh thêm tự tin, mạnh dạn
đồng thời hứng thú khi học giao tiếp, giúp học sinh vận dụng kiến thức tốt hơn.
Ví dụ 2: HĐ 2/ 35: Đọc lại lời các nhân vật trong tranh dưới đây:
(Tiếng Việt 2A – trang 35)
Đối với hoạt động này, sau khi học sinh đọc hết các lời thoại là đã hoàn
thành hoạt động. Tuy nhiên, giáo viên sẽ vận dụng phương pháp phân tích mẫu
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
13
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
để kĩ năng giao tiếp của học sinh được phát triển, vận dụng một cách linh hoạt
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
Ở dạng hoạt động này thường nêu ra vấn đề giao tiếp liên quan đến nội
dung kiến thức đang học hay một nội dung có ý nghĩa xã hội. Đối với dạng hoạt
động này, tôi vận dụng phương pháp đóng vai để tạo không khí sôi nổi, gây
hứng thú giao tiếp với học sinh và mang tính ứng dụng cao.
* Khái niệm về phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức
cho học sinh thực hành một số cách ứng xử trong một tình huống giả định. Đây
là phương pháp giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề. Nhờ đó, các em
sẽ tích lũy thêm vốn sống, vốn kinh nghiệm của các bạn khác làm giàu thêm vốn
kinh nghiệm của mình.
* Yêu cầu sư phạm
+ Tình huống nên để mở, không cho trước kịch bản hay lời thoại để phát
triển tư duy, sự sáng tạo và trí tượng tưởng của học sinh.
+ Phải biết sắp xếp thời gian phù hợp để các nhóm đóng vai.
+ Học sinh cần hiểu rõ vai của mình trong tình huống để không lạc đề.
+ Nên khích lệ học sinh nhút nhát cùng tham gia để rèn luyện cho các em
sự tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp và cuộc sống. Giáo viên không làm thay
nếu học sinh chưa thực hiện được.
+ Nên sử dụng các đồ dùng, đạo cụ đơn giản để tăng thêm tính hấp dẫn.
Ví dụ 3: HĐ5/ 16: Em đạt giải cao trong một cuộc thi. Các bạn chúc mừng.
Em đáp lại.
- Các bạn:…………….
- Em:…………………
(Tiếng Việt 2B, trang 16)
Thông thường đối với hoạt động này học sinh sẽ áp dụng một số mẫu câu
đã học để hoàn thành hoạt động, như:
- Các bạn: Chúc mừng bạn nhé!
- Em: Mình cảm ơn./
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
+ Học sinh 1, 2, 3: Chúc mừng bạn đạt giải cao trong cuộc thi./ Bạn giỏi
quá! Bọn mình chúc mừng bạn./
+ Học sinh 4: Mình rất cảm ơn các bạn./ Các bạn làm mình vui quá!/…
Bước 4: Cả lớp nhận xét về cách thể hiện có sáng tạo, phù hợp với yêu cầu
của tình huống; nhóm nào đóng hay và đúng nhất,…
Bước 5: Giáo viên nhận xét về cách thể hiện tình huống, nội dung, thái độ
của học sinh khi tham gia đóng vai, đánh giá từng nhóm và tuyên dương các
nhóm làm tốt.
Tóm lại, để thực hiện tốt dạng hoạt động này, người đóng vai phải chủ
động tham gia cuộc giao tiếp, tập trung tìm biện pháp thu hút người đối thoại
tham gia. Muốn làm được điều này, giáo viên cần điều chỉnh đề tài phù hợp với
nhận thức của học sinh, đưa ra những lời thoại mẫu hướng học sinh tham gia
phát biểu ý kiến. Đặc biệt, cần rèn cho học sinh kỹ năng nghe và sáng tạo theo
cách diễn đạt của bản thân, không nên làm rập khuôn theo mẫu.
b.1.1.3. Dạng hoạt động tự tổ chức một chủ đề để trao đổi
Đây là hoạt động nhằm củng cố lại kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Dạng
hoạt động này sẽ có các chủ đề gần gũi với học sinh trong cuộc sống như thực
hành xin lỗi khi em làm sai, nói lời cảm ơn trong các tình huống thường gặp,…
giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh tự đưa ra các tình huống thường gặp
để vận dụng các kiến thức đã học, gây hứng thú tham gia vào quá trình giao tiếp.
Ví dụ 4: HĐ 3/ 50: Trò chơi Đóng vai nói và đáp lời xin lỗi.
Mỗi nhóm (2 bạn) hãy nghĩ ra một tình huống (Ví dụ: Bạn sơ ý làm mực
bắn vào áo bạn bên cạnh, hoặc bạn mượn sách nhưng quên mang trả bạn của
mình; 1 bạn vô ý đụng người vào bạn đi ngược chiều,… )
M: - Xin lỗi cậu. Tớ quên mang sách trả cậu rồi.
- Không sao. Mai cũng được mà.
(Tiếng Việt 2A, trang 50)
18
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
Để hoạt động này được sôi nổi thì yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, tích cực
đưa ra các tình huống với các vai giao tiếp khác nhau. Khi thực hiện những dạng
hoạt động này sẽ kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh. Từ đó giúp
các em làm quen và xử lí tốt các tình huống mới. Như vậy học sinh sẽ dần đưa
các tình huống đã học gắn với cuộc sống, các em không bị thụ động trước các
tình huống bất ngờ, giúp tăng hiệu quả giao tiếp.
b.1.2. Phương pháp trao lời và đáp lời bằng một nghi thức lời nói.
Ví dụ 5: HĐ5/ 55: Cùng bạn đóng vai nói lời xin lỗi của em trong những
trường hợp sau:
a) Em lỡ bước, dẫm vào chân bạn.
b) Em mải chơi, quên làm việc mẹ dặn.
c) Em đùa nghịch, va phải một cụ già.
(Tiếng Việt 1A, trang 55)
Để nâng cao hiệu quả cũng như sự linh hoạt trong giao tiếp, học sinh sẽ
tiến hành qua 2 bước:
Bước 1: Xác định hoàn cảnh giao tiếp là nói lời xin lỗi đối với các vai khác
nhau.
Bước 2: Học sinh sẽ phải giao tiếp với ba vai là: bạn – vai ngang; mẹ – vai
trên, thân thiết; cụ già – vai trên, người lớn tuổi; nên học sinh cần lựa chọn lời
nói thích hợp với từng đối tượng giao tiếp để tỏ rõ sự hối lỗi đối với từng cá
nhân.
Học sinh sẽ biết cùng nói lời xin lỗi, nhưng với người lớn tuổi để thể hiện
sự kính trọng, lễ phép phải dùng thêm từ “cháu” ở trước hoặc từ “ạ” ở sau hoặc
cả hai từ (cháu xin lỗi hoặc cháu xin lỗi ạ). Với các bạn cùng lứa tuổi thì chỉ cần
dùng thêm từ “bạn” ở sau từ “xin lỗi”.Với hoạt động trên học sinh có thể nói lời
trên là:
Thật vậy sao? ( ngạc nhiên)/
Thích quá! ( thích thú)/…
Đến đây học sinh trao đổi với bạn và hoàn thành hoạt động.
Tuy nhiên, để tăng hiệu quả khi giao tiếp thì giáo viên sẽ hướng dẫn học
sinh thực hiện thêm 2 bước nữa.
Bước 3: Trong 2 lời đáp dự kiến trên, về nội dung giao tiếp thì đã thể hiện
được thái độ của người con, tuy nhiên lại thiếu các từ biểu thị tình cảm cho phù
hợp. Do đó, cần sửa chữa, hoàn thiện 2 lời đáp này.
Bước 4: Sau khi sửa chữa phương án mới của lời đáp 1 và 2 là:
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
20
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
Thật vậy sao mẹ?/ Mẹ ơi, con thích quá!/ Con thích quá, con cảm ơn mẹ!/
…
Như vậy, tùy vào tình huống và vai giao tiếp mà học sinh sẽ xác định
được thái độ, lựa chọn lời nói sao cho phù hợp, mang lại hiệu quả giao tiếp cao
nhất.
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Các biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học sẽ giúp
các em có tâm thế tự tin, mạnh dạn, sẵn sàng tham gia một cuộc giao tiếp như:
Hướng mặt về phía người cùng giao tiếp và sẵn sàng dẫn nhập hồi đáp trong
cuộc giao tiếp, biết sử dụng ngôn ngữ một cách có văn hóa, lịch sự...
Để hình thành cho học sinh kỹ năng giao tiếp, giáo viên cần phải xây dựng
các hoạt động có nội dung gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em, cho học
Tổng số
2014 - 2015
Số lượng
%
26
15
57.7
26
14
26
26
học sinh
Tổng số
Số lượng
%
24
100
học sinh
Kĩ năng
tự đánh giá
lẫn nhau
Kĩ năng
tự tìm kiếm
kiến thức
Kĩ năng
hợp tác
Kĩ năng
giao tiếp
e.2. Giá trị khoa học:
Kết quả khảo nghiệm cho thấy, các kĩ năng xã hội của học sinh đều tăng từ
25% đến 25.6%, đặc biệt là kĩ năng giao tiếp từ 65.3% đã tăng lên 100%, tăng
đến 34.7%. Kĩ năng giao tiếp của các em rất linh hoạt, mạnh dạn giao tiếp với
bạn mới, thầy cô và mọi người xung quanh. Kết quả học tập của các em có sự
tiến bộ rõ rệt, kĩ năng giao tiếp được phát triển, hiệu quả giao tiếp được nâng
cao. Qua khảo nghiệm, tôi khẳng định rằng hệ thống các giải pháp được trình
bày trong đề tài có khả năng thực thi và đã đem lại hiệu quả nhất định.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Khi áp dụng giải pháp đã phát huy tư duy sáng tạo, năng lực và kĩ năng
giao tiếp cần thiết cho học sinh. Học sinh làm chủ kiến thức, nhạy bén, biết
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
đúng chỗ. Sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học một cách linh hoạt để
tiết dạy đạt hiệu quả cao.
2. Kiến nghị
Giáo viên: Nguyễn Thị Thanh Thắm – Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
23
Phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN
Qua đây tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị đến các cấp lãnh đạo:
- Duy trì Hội thi giáo viên dạy giỏi.
- Cụm trường và chuyên môn cần tổ chức thường xuyên các buổi bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nắm vững phương pháp, hình thức dạy học
phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh để giáo viên học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm lẫn nhau.
Trên đây là một số giải pháp về phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh
mà tôi đã vận dụng để nâng cao chất lượng dạy và học ở Tiểu học nói chung.
Trong khi viết chắc chắn không tránh khỏi sự thiếu sót nhưng tôi cũng nêu ra
đây để chia sẻ được phần nào khó khăn, vất vả của các đồng nghiệp cũng như
quý thầy cô. Qua đó, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng
nghiệp và đặc biệt là những ý kiến đóng góp chân thành của Hội đồng chấm
sáng kiến để sáng kiến kinh nghiệm trên mỗi ngày được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Krông Ana, ngày 24 tháng 3 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Thắm
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
.............................................................................................................................................