MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………… …… 01
1.Lý do chọn đề tài………………………….……….…… 01
2.Mục tiêu nghiên cứu 02
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.………… ……….…………………. 02
4. Phương pháp nghiên cứu… 02
5. Cấu trúc của đề tài……………………………………………………… 02
II. PHẦN NỘI DUNG… …….…………………… 02
1. Đặt vấn đề.………………………………………… 02
1.1 Cơ sở lý luận… …………………………………………………… 02
1.2 Cơ sở thực thực tiễn ……………………………………………… 03
2. Giải quyết vấn đề…………………………………… ……….………. 05
3. Kết quả ……………………………………………………………… 14
III KẾT LUẬN…………………………………………………………… 15
1. Kết luận ………………………………………………………………
15
2. Kiến nghị, đề xuất……………………………………………………….
16
IV TÀI LIỆU KHAM KHẢO…………………………………………… 17
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ thông dụng nhất, được sử dụng
bởi nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Chương trình môn Tiếng Anh ở
trường phổ thông được xây dựng theo quan điểm giao tiếp, kiến thức ngôn ngữ
( ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng) là phương tiện cần thiết để hình thành và phát triển
các kỹ năng giao tiếp. Hình thành kỹ năng giao tiếp chính là mục tiêu cuối cùng
của quá trình dạy học.
Qua những năm áp dụng phương pháp đổi mới trong giảng dạy môn
Tiếng Anh ở cấp THPT, hầu hết các thầy cô giáo đã tìm tòi và có những kinh
nghiệm nhất định để phục vụ tích cực cho công tác giảng dạy bộ môn Tiếng
Ứng dụng “ Một số trò chơi và kỹ thuật dạy học” vào bước luyện tập ngôn
ngữ của tiết Language focus nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Học sinh trường THPT Như Thanh.
- Bước luyện tập ngôn ngữ của tiết Language focus.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát ( thông qua dự giờ )
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học
5. Cấu trúc của đề tài :
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Đặt vấn đề
1.1 Cơ sở lý luận
Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X; Chỉ
thị số 14/2001/CT-TTg của thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình Giáo
3
Đề tài được chia làm 4 phần
I Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu của đề tài
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Cấu trúc của đề tài
II Phần nội dung
1.Đặt vấn đề
1.1 cơ sở lý luận
1.2 cơ sở thực tiễn
2. Giải quyết vấn đề
bài, từng mục để một mặt có thể dạy đúng trọng tâm của bài học, mặt khác mạnh
dạn và sáng tạo trong việc thiết kế các bài tập vừa đảm bảo đúng trọng tâm của
bài, vừa thu hút được học sinh tích cực, chủ động tham gia vào quá trình rèn
luyện kiến thức ngôn ngữ. Từ đó học sinh có thể vận dụng các kiến thức ngôn
ngữ đó vào trong quá trình giao tiếp. Các hoạt động sẽ làm cho lớp học ồn ào
hơn, nhưng là sự ồn ào có hiệu quả.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Như vậy hình thành kỹ năng giao tiếp chính là mục tiêu cưối cùng của quá
trình dạy học . Kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển kỹ
năng giao tiếp, mà kiến thức ngôn ngữ được giới thiệu ở các tiết Language.Vậy
thì dạy và học các kiến thức ngôn ngữ đó như thế nào, đặc biệt là sau khi giới
thiệu các kiến thức ngữ pháp thì nên cho học sinh luyện tập như thế nào để giúp
các em có thể vận dụng chúng vào trong những tình huống giao tiếp cụ thể nhằm
đáp ứng được những mục tiêu của quá trình dạy học?
Một tiết Language Focus của SGK Tiếng Anh (CT-THPT ban cơ bản)
được tiến hành cơ bản như sau:
4
Pronunciation
Language Focus Presentation
Controlled pratice
Grammar Practice ( Luyện tập có hướng dẫn)
(vocabulary) Free practice
( Luyện tập tự do)
Production
( sơ đồ 01)
Một tiết Language Focus trong vòng 45 phút, thì bước luyện tập ngữ pháp
(practice) chỉ chiếm khoảng 20 phút.
Thông thường nhiều giáo viên, sau bước giới thiệu, vẫn yêu cầu học sinh luyện
tập kiến thức ngôn ngữ (đặc biệt là ngữ pháp) ở tiết Language focus bằng cách:
- Không khí lớp học buồn tẻ, nhàm chán dẫn đến các em không hứng thú, chủ
động làn bài tập.
- Các em chưa biết vận dụng những kiến thức ngôn ngữ để diễn đạt các nội dung
giao tiếp ở các tình huống cụ thể trong đời sống thật nhằm phục vụ cuộc sống
Vì thế dẫn đến quá trình hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho các em
gặp nhiều khó khăn.
2. Giải quyết vấn đề.
Để khắc phục những hạn chế của kiểu luyện tập truyền thống, vì kiểu luyện
tập đó chưa đáp ứng được mục tiêu giao tiếp của quá trình dạy học môn Tiếng
Anh.Vì các kiến thức ngôn ngữ được xem như là phương tiện chứ không phải là
đích cuối cùng của quá trình học tập.
Vì Vậy để học sinh có thể phát triển được kỹ năng giao tiếp trong tiết
Language Focus, tôi đã ứng dụng “ Một số trò chơi và kỹ thuật dạy học” để
thiết kế những bài tập phù hợp giúp học sinh vừa có thể luyện tập kiến thức ngôn
ngữ, vừa phát triển được kỹ năng giao tiếp
Ứng dụng “Một số trò chơi và kỹ thuật dạy học ” vào dạy học bước luyện
tập ngôn ngữ của tiết Language Focus trong SGK Tiếng Anh ban cơ bản.
Sử dụng các trò chơi và kỹ thuật dạy học vào phần luyện tập sẽ thu hút
được tất cả học sinh tham gia làm bài tập, học sinh sẽ học tập tích cực, chủ động
hơn, không khí lớp học không còn buồn tẻ và nhàm chán nữa.
Từ “sơ đồ 01” trên cho thấy bước luyện tập ngôn ngữ gồm 2 phần :
* Phần thứ nhất của bước luyện tập là phần luyện tập có hướng dẫn(
controlled practice ). Thủ thuật thường được dùng nhất ở đây là sự luyện tập
(drills). Ở phần này học sinh học thông qua việc nhắc lại, sao chép để hình thành
thói quen. Bước này rất ngắn, chỉ khoảng 5 phút.
Một số kỹ thuật mà tôi thường sử dụng ở bước 1 là:
*Picture Drill
*Realia Drill
* Word cue drill
* Phần thứ hai của bước luyện tập là luyện tập tự do, luyện tập mở (free
The desks /must/ clean/everyday.
…………………………………………
- Giáo viên chỉ vào cửa chính (The door) và đọc to câu mẫu 2- 3 lần :
.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đồng thanh câu mẫu 3 lần.
- Giáo viên yêu cầu 2-3 học sinh đọc lại câu mẫu.
- Giáo viên chỉ vào các bức tường ( The walls )và tiến hành theo các bước trên :
- Học sinh làm việc theo cặp và tự đặt các câu khác.
*Possible sentences :
The windows should be replaced.
7
The door must be repaired
The walls should be repainted
The desks must be cleaned everyday.
The blackboard should be repainted.
………………………………………………
Bước 2 ( 15 phút ):Sử dụng trò chơi Noughts and Crosses
Giáo viên kẻ 9 ô vuông lên bảng , mỗi ô dán một tranh ( với học sinh trung bình
thì giáo viên nên cung cấp cho các em các từ gợi ý đi kèm ).
- Giáo viên làm một câu mẫu sử dụng một bức tranh bất kỳ trong các ô:
8
O
X Ví dụ 2: * Nhóm Crosses ( X) chọn bức tranh 5:
* Học sinh đặt câu : “The window must be closed”.
* Vậy nhóm Crosses ( X ) được một “X”.
- Các nhóm tiếp tục chọn tranh và đặt câu.
9
1. The road/ should/
repair
5.The window/must/
close
- Nhóm nào có ba “O” hoặc ba “X” trên một hàng ngang, dọc hoặc chéo sẽ chiến
thắng.
*Suggested answers:
1. The road should be repaired.
2. The tap should be turned off ( after being used )
3. The house must be rebuilt
4. The coach should be repaired
5 The window must be closed ( when it is windy ).
6 The house may be sold
7. They need be helped
8. The toilet must be cleaned (everyday).
9. The walls should be repainted.
Ví dụ 2:
- Giáo viên cho học sinh nhìn lướt qua các bức tranh và các từ trong tranh vẽ.
- Giáo viên đưa 1 bức tranh lên cho cả lớp nhìn thấy. - Giáo viên đọc to câu mẫu ( 2-3 lần ):
If he had got up early yesterday, he would not have gone to school late.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đồng thanh câu mẫu 3 lần.
- Giáo viên yêu cầu 2-3 học sinh đọc lại câu mẫu.
- Giáo viên tiếp tục các bước trên với tranh vẽ thứ hai :
If it is warm tomorrow, they will go for a picnic.
- Học sinh làm việc theo cặp để đặt câu với các tranh vẽ còn lại ( Giáo viên treo
các bức tranh còn lại lên bảng ).
*Suggested answers:
11
5.He/work/hard/
he/get/better/marks/last week.
6. She/have /a/computer
now, she /not/feel/tired.
2. He/ get up/early/yesterday/
he/ not/go/to/school/late.
4. It/ warm/tomorrow,
they/go/for a picnic
1. If they go for a picnic tomorrow, they will play many games
2. If he had got up early yesterday, he wouldn’t have gone to school late.
3. If there were something to eat now, she wouldn’t be hungry.
12
If you had told me earlier,1
2
If it rains,
3 If she had a car,
4 If I spoke Korean,
5
If she had worked hard,
6
If it is hot,
7 If I were you,
8
9
10
11
12
13
14
I wouldn’t drink so much.
I will stay at home.
she would go out in the evening.
she will go swimming.
I could translate this.
She would have passed the exams
I would have given it to you.
122
If it rains, I will stay at home
* Hai mệnh đề này ghép lại khớp với nhau thành một câu điều kiện
loại 1 có nghĩa.
- Giáo viên lướt qua các từ vựng
- Giáo viên đặt câu mẫu với động từ đầu tiên cho học sinh nghe ( mỗi động từ có
thể đặt được các câu khác nhau ở các thì đã đề cập ở phần giới thiệu).
Ví dụ:
Giáo viên đặt câu :
I have breakfast at 7 a.m every day.
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đồng thanh và cá nhân câu mẫu.
Giáo viên tiếp tục các bước trên với các câu khác:
She is having a bath at the moment.
I had had a computer
I will have dinner
He has been having a bath
-Học sinh tự đặt câu với các động từ khác.
Bước 2: Sử dụng trò chơi Substitution Boxes
- Giáo viên kẻ lên bảng một hộp khung có chứa đầy từ .
- Các từ trong hộp khung này ghép được với nhau để tạo nên nhiều câu mà động
từ được chia ở các thì khác nhau.
Ví dụ: Hoa is Watching T.V now.
*They had bought a new house. * I will clean the house.
*I had cleaned the house,…etc. * They will go shopping,………….etc.
- The present perfect continuous tense :
* Hoa has been watching T.V all day.
* They have been repairing the house .
* I have been watching T.V.
* Mai has been repairing the T.V,etc.
3. Kết quả của việc ứng dụng “Một số trò chơi và kỹ thuật dạy học” vào bước
luyện tập ngôn ngữ ở tiết Language Focus môn Tiếng Anh ban CB.
Để hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong tiết
Language Focus, tôi đã ứng dụng “Một số trò chơi và kỹ thuật dạy học” vào dạy
học bước luyện tập ngôn ngữ theo hình thức tổ chức “ Học mà chơi, chơi mà
học” và thu được những kết quả tương đối khả quan:
* Kết quả thu được qua các bài kiểm tra như sau:
Lớp Chưa áp dụng các biện pháp( theo số liệu
khảo sát đầu năm học)
Sau khi áp dụng các biện pháp.
Giỏi Khá Tb Yếu Kém Giỏi Khá Tb Yếu&
Kém
S
L
% S
L
% SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
12A1
(46Hs)
1 2,2 5 10.9 15 32,6 22 47,
8
3 6,5 7 15 15 33 16 35 8 17
Dạy- học tiết Language focus theo nhiều người dạy là một việc không
khó, hơn nữa để yêu cầu học sinh luyện tập thì chỉ cần dùng các bài tập cho sẵn
thôi là được rồi. Tuy nhiên dạy thế nào để gây được hướng thú học ở người học,
làm thế nào để giúp học sinh sử dụng các kiến thức ngôn ngữ như phương tiện
để hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp là một việc làm không dễ. Chính vì
vậy trong quá trình giảng dạy, nếu thực sự trăn trở với bài dạy chúng ta sẽ thấy
cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy. Việc ứng dụng “ trò chơi và kỹ thuật
dạy học” vào dạy- học bước luyện tập mà tôi nêu ra trong chuyên đề này không
chỉ có ý nghĩa đối với học sinh của tôi trong việc rèn luyện kiến thức ngôn ngữ
mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối với thói quen học tập nói chung của các em, đó
là luôn chủ động, tích cực và sáng tạo. Hình thành cho các em kỹ năng làm việc
theo nhóm, kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh để các em có thể thích ứng với xã
hội ngày nay đang không ngừng vận động, để các em trở thành những con người
vững tin trước những khó khăn và thách thức của cuộc sống hiện tại.
16
2.Kiến nghị, đề xuất.
*Đối với nhà trường:
Xây dựng phòng chức năng. Vì mỗi khi tổ chức các trò chơi, hoạt động theo
cặp, nhóm luôn làm cho lớp học ồn ào hơn, dễ ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh,
điều này thường dẫn đến giáo viên e dè khi tổ chức các hoạt động.
* Đối với sở GD và ĐT:
Mở rộng đối tượng tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, không chỉ tập
huấn cho tổ trưởng mà các giáo viên khác cũng được bồi dưỡng.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Như thanh, ngày 25 tháng 03 năm 2011.
Người thực hiện
SKKN thuộc năm học 2010 - 2011
19