BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC QUA VIỆC HÌNH THÀNH KĨ NĂNG
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 3
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Giáo dục đạo đức học sinh là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác
chủ nhiệm. Bởi Tiểu học là bậc học nền tảng, mà trẻ em là tương lai của đất nước.
Muốn cái nền tảng, cái tương lai này tốt đẹp, muốn các em trở thành người có ích cho
xã hội thì cần phải hội đủ hai điều kiện: đức và tài như Bác Hồ đã từng nói: “Có
đức mà không có tài thì vô dụng, còn có tài mà không có đức thì cũng không giúp ích
gì cho xã hội ”. Câu nói ấy của Bác vô cùng thấm thía trong lòng mỗi người, đặc biệt
là mỗi thầy, cô giáo chúng ta.
Muốn phát triển con người toàn diện, muốn đào tạo nhân tài của đất nước, chúng
ta không chỉ dạy cho các em giỏi về văn hoá mà còn phải làm tốt công tác giáo dục
đạo đức cho các em. Đặc biệt là giáo dục các em học sinh Tiểu học. Qua nhiều năm
giảng dạy ở trường Tiểu học, tôi nhận thấy việc giáo dục hành vi đạo đức qua việc
hình thành kĩ năng giao tiếp cho các em là vô cùng cần thiết, hay nói đúng hơn là phát
triển toàn diện về nhân cách con người thể hiện qua hai mặt là: “Tài và Đức”.
Dù ở xã hội nào thì cái đức vẫn luôn được coi trọng vì: Cái đức là gốc, cái tài là
sự biểu hiện của cái đức. Vì vậy việc giáo dục cái đức cho học sinh là một yêu cầu
quan trọng, đang trở thành một vấn đề bức xúc mà xã hội quan tâm. Tình trạng này
không chỉ xuất hiện ngoài xã hội mà còn len lõi vào trong cả trường học. Biểu hiện rõ
nhất là trong các lớp học vẫn còn có những học sinh thuộc dạng “chưa ngoan”, thiếu
lễ phép với người lớn, hạn chế về đạo đức, nhân cách. Cũng chính vì sự chưa ngoan
đó mà dẫn đến tình trạng học sinh “chưa hoàn thành nội dung học tập môn học và
hoạt động giáo dục” dẫn đến bỏ học làm ảnh hưởng không ít đến những thành viên
khác trong lớp học và ảnh hưởng đến toàn trường, mà xa hơn là gánh nặng của xã hội.
Với những lí do trên, bản thân tôi đã tiến hành nghiên cứu và áp dụng có hiệu
qủa đề tài “Biện pháp giáo dục đạo đức qua việc hình thành kĩ năng giao tiếp cho học
sinh lớp 3”.
1
những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những biểu hiện chưa ngoan, thiếu lễ phép và
dẫn đến việc bỏ học ở các em. Tôi có thể phân loại và xác định nguyên nhân như sau:
+ Do việc dạy của giáo viên vẫn bám vào phương pháp rập khuôn máy móc,
chưa tìm ra phương pháp để nâng cao chất lượng giờ học. Giáo viên hầu hết chưa
kiểm soát hết việc việc làm, suy nghĩ và hành động của học sinh. Đây là nguyên nhân
làm cho học sinh hoạt động không tích cực và nhàm chán khi học.
+ Giáo viên thường có quan niệm chỉ giáo dục hành vi đạo đức và kĩ năng giao
tiếp, ứng xử cho học sinh thông qua hệ thống kiến thức của 14 bài đạo đức như: Kính
yêu Bác Hồ; giữ lời hứa; tự làm lấy việc của mình; quan tâm, chăm sóc ông bà, cha
mẹ, anh chị em; chia sẻ vui buồn cùng bạn; tích cực tham gia việc trường, việc lớp;
quan tâm giúp đỡ hàng xóm, láng giềng; biết ơn thương binh, liệt sĩ; đoàn kết với
thiếu nhi quốc tế; tôn trọng khách nước ngoài; tôn trọng đám tang; tôn trọng thư từ,
tài sản của người khác; tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; chăm sóc cây trồng, vật nuôi.
Thường thì giáo viên cũng có nhắc nhở, có giáo dục học sinh, nhưng chỉ mang tính
hình thức chứ chưa chịu khó tìm hiểu hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến những biểu
hiện tiêu cực nêu trên.
Bảng 1: Chất lượng khảo sát biểu hiện hành vi đạo đức của học sinh:
Lớp
3.1
Tổng
số HS
35
Số em có kĩ
Số em có kĩ
nói chung và giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh nói riêng.
3
II. Các biện pháp giáo dục đạo đức qua việc hình thành kĩ năng giao tiếp
cho học sinh.
Để đưa chất lượng về đạo đức, nhân cách đúng, phong phú và có sự thay đổi về
vốn sống ở học sinh, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:
1. Giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt công tác phối hợp, tìm nguyên nhân và
hướng khắc phục:
Do ảnh hưởng bởi cuộc sống lao động, mưu cầu sinh nhai nên có một số ít phụ
huynh không có thời gian để quan tâm đến con em, thậm chí có một số ít phụ huynh
còn hạn chế trong phương pháp dạy dỗ con cái, vì quá cưng chìu, thương yêu con
nhưng lại bị sự hạn chế trong kiến thức về phương pháp giáo dục con, khiến một số ít
phụ huynh học sinh có những thái độ thiếu thiện cảm với thầy, cô giáo hoặc tệ hơn
nữa là có cách dạy con đi ngược với phương pháp sư phạm của nhà trường. Điều này
có ảnh hưởng tệ hại đối với việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Chính vì thế
nên giáo viên cần phải kết hợp chặt chẽ với Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường
bằng mọi cách như qua buổi họp định kỳ, điện thoại liên lạc để hỗ trợ kiến thức cho
họ về phương pháp giáo dục con cái. Vận động cha mẹ các em quan tâm hơn nữa
trong việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho con mình. Điều này cũng phát huy vai trò
xã hội hoá giáo dục đối với nhà trường, khuyến khích kêu gọi mọi người trong xã hội
cùng tham gia giáo dục tạo nên sức mạnh quần chúng rộng rãi, quan tâm đến giáo
dục, để phụ huynh học sinh không còn phó mặc trách nhiệm cho thầy cô giáo. Qua đó
giáo viên sẽ tìm ra một số nguyên nhân và tìm ra giải pháp giáo dục đạo đức, nhân
cách cho học sinh.
1.1. Học sinh còn hạn chế về kĩ năng giao tiếp do thiếu sự quan tâm chỉ dạy
của gia đình hoặc do sự quan tâm giáo dục của gia đình không đúng:
Những học sinh này thường xuất thân từ con nhà nghèo, bố mẹ lao động vất
vả, gia đình đông anh em, cơ sở vật chất cũng như tinh thần bị thiếu thốn, cha mẹ chỉ
chịu ảnh hưởng rất lớn ở cha mẹ. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi con
khôn lớn nên người. Ngoài ra, giáo viên phải làm cho học sinh hiểu được cần phải
5
nói năng chuẩn mực, lễ độ trong giao tiếp, giáo viên luôn động viên an ủi, chia sẻ,
đưa ra phương hướng để học sinh vươn lên bởi: “Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
1.3. Học sinh còn hạn chế về kĩ năng giao tiếp do ảnh hưởng từ bạn bè xấu
xung quanh.
Các em sống ở gia đình lành mạnh nhưng giao lưu với nhóm bạn bè không tốt, bị
bạn rủ rê, tác động làm cho các em bắt chước các thói hư, tật xấu, lời nói phím nhã,
thô tục từ bạn bè do vô ý.
Giáo viên cần kết hợp với chính quyền địa phương, với cha mẹ các em để trao
đổi tìm biện pháp ngăn cản việc giao lưu của các em với những người xấu xung
quanh. Cùng với gia đình theo dõi cách ăn nói, cách cư xử của các em,
nghiêm cấm học sinh chửi thề, nói tục, làm cho học sinh thấy được lỗi lầm và có ý
thức khắc phục. Giáo viên cần phát động phong trào: “ Nói lời hay, làm việc tốt “
trong trường, trong lớp và nhắc nhở lẫn nhau cùng tiến bộ.
1.4. Học sinh còn hạn chế về kĩ năng giao tiếp do thiếu tình thương của
người thân và bạn bè .
Đối với những em này, giáo viên là người có trách nhiệm nhiều nhất, thay cho
cha mẹ giáo dục các em, gặp người đang chăm sóc em để tâm sự, trao đổi để họ tạo
cho các em cuộc sống thoải mái hơn, dễ gần hơn, thường an ủi, nhắc nhở các em,
làm cho các em thấy rằng: “Giáo viên là người mẹ hiền , lớp học như một gia đình
đầm ấm, trường học là ngôi nhà thứ hai”.
2. Dùng nghệ thuật sư phạm trong công tác chủ nhiệm.
Thật ra, những điều qui định trong nội qui học sinh rất dễ dàng thực hiện đối với
các em. Thế nhưng, tại sao các em lại thường hay vi phạm? Thậm chí vi phạm có hệ
trong học tập, lực học các em không theo kịp bạn, đâm ra chán nản lao vào những trò
chơi vô bổ, dần dần các em có những việc làm vi phạm đạo đức. Trong giảng dạy
người thầy nên chú ý nhiều đến đối tượng học sinh này để có những câu hỏi phù hợp
với khả năng của từng em “ Áp dụng 10 kĩ năng đặt câu hỏi”, từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp nhằm khơi dậy trong các em những khao khát về sự hiểu biết, về
7
niềm tin vào bản thân. Sự tự tin trong con người các em chính là những ngọn lửa
mạnh mẽ thúc đẩy cho các em tiến bộ.
2.3. Phải nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh:
Khi nhận lớp, giáo viên cần tìm hiểu các em thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ,
nghiên cứu kĩ học bạ, sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm, sổ theo dõi chất lượng của năm học
trước liển kề để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình…. để liên hệ với phụ huynh khi cần thiết.
2.4. Xây dựng ban cán sự lớp với tinh thần tự quản, ý thức trách nhiệm cao:
Bầu cử những em có năng lực và được tập thể tín nhiệm.
Báo cáo trung thực những diễn biến xảy ra hàng ngày cho giáo viên chủ nhiệm.
Làm việc đúng lề lối quy định, đúng vị trí các chức danh.
2.5. Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, vững mạnh, có tinh thần yêu thương và
giúp đỡ lẫn nhau.
Gần gũi, thương yêu, trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu
hướng sở thích của học sinh, giúp các em thể hiện được “điều em muốn nói”.
Tạo môi trường thân thiện để các em thấy được "mỗi ngày đến trường là một
niềm vui". Từng bước phát huy tinh thần làm chủ tập thể của học sinh, cùng thi đua
giúp đỡ lẫn nhau. Biết động viên thăm hỏi kịp thời khi bạn đau ốm, hay gặp khó khăn,
hoạn nạn. Xây dụng và phát huy tốt lớp học tự quản.
2.6. Phối hợp tốt ba môi trường giáo dục.
Về phía nhà trường: Cần có những biện pháp giáo dục áp dụng với từng đối
tượng học sinh. Phối hợp với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tạo nhiều sân
chơi lành mạnh, hình thành thói quen ở các em “Mình vì mọi người, mọi người vì
tuyên dương, góp ý cụ thể đối với học sinh của lớp.
3. Giáo dục kĩ năng giao tiếp thông qua tổ chức đoàn đội.
Thông qua các chủ điểm sinh hoạt hàng tháng, tổ chức Đội cần phối hợp với Ban
giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể khác trong nhà trường thường
xuyên tổ chức cho các em thi thố tài năng bằng các trò chơi giải trí lành mạnh. Nhằm
tạo cho các em gắn bó với tập thể, thấy được tinh thần trách nhiệm của mình đối tập
thể. Từ đó xây dựng cho các em ý thức, sáng tạo trong công việc, biết sống vì mọi
9
người, biết yêu thương con người. Đó cũng chính là con đường hình thành nhân cách
tốt nhất cho các em.
4. Dùng kĩ năng giao tiếp, nhân cách người thầy giáo dục kĩ năng giao
tiếp ,nhân cách học sinh.
Trong các cách giáo dục thì phương pháp nêu gương có tác dụng rất lớn, đạt
hiệu quả cao nhất. Mỗi thầy cô giáo phải thật sự là tấm gương sáng cho các em noi
theo, mặc dù bản thân không được như những nhà giáo dục học nổi tiếng, nhưng tối
thiểu phải là những nhà giáo dục gương mẫu, nhiệt tình, thương yêu học trò vì đối với
các em, người thầy chính là thần tượng, thì chính bản thân của người thầy không chỉ
nói suông mà phải bằng hành động và việc làm cụ thể trong quan hệ với đồng nghiệp,
phụ huynh, học sinh và ngoài xã hội. Mỗi lời nói, cử chì và hành động qua việc tiếp
xúc với đồng nghiệp, với học sinh và ngoài xã hội phải chuẩn mực, gương mẫu, luôn
luôn mang tính sư phạm; mỗi hình động và việc làm phải thiết thực, hiệu quả mà
không gây phiền hà, ảnh hưởng đến mọi người xung quanh.
5. Giáo dục kĩ năng giao tiếp, nhân cách học sinh thông qua môn đạo đức.
Dạy học môn đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực của học sinh. Các
truyện kể, tình huống, tấm gương, tranh ảnh,...sử dụng để dạy học đạo đức phải lấy
chất liệu từ cuộc sống thực của học sinh. Điều đó sẽ giúp cho bài học đạo đức thêm
phong phú, gần gũi, sống động đối với các em.
Dạy học môn đạo đức cần đi từ quyền trẻ em, từ lợi ích của trẻ em đến trách
Số em có kĩ năng
Số em còn hạn chế
năng giao tiếp, năng giao tiếp, giao tiếp, nhân cách về kĩ năng giao
nhân cách tốt. nhân cách khá. đạt yêu cầu.
SL
%
SL
%
SL
%
30
85.71
4
11.43
1
2.88
tiếp, nhân cách.
SL
%
0
0
Từ kết quả thống kê cho ta thấy kết quả giáo dục đạo đức, nhân cách qua việc
hình thành kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 3 của trường Tiểu học Phong Thạnh
Đông ngày được nâng lên bởi vì lực lượng thầy cô giáo của trường đã cố gắng kết
hợp, chọn lọc các biện pháp để làm công tác chủ nhiệm. Đăc biệt là rất chú tâm đến
công tác giáo dục đạo đức cho các em. Chính sự giáo dục không đúng, không khoa
trình rèn luyện lâu dài, liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan nhiều
đến các mối quan hệ xã hội. Vì vậy nó đòi hỏi người thầy giáo phải có đức tính kiên
trì, khéo léo trong ứng xử, bền bỉ, tế nhị để có thể tìm hiểu sâu sắc từng đối tượng học
sinh, và thương yêu các em với một tình cảm chân thành, tạo mói quan hệ gần gũi.
Cần có cách cư xử nhẹ nhàng, chừng mực với từng đối tượng, thể hiện sự quan tâm
đến các em, qua đó tạo cho các em có sự tinh tưởng tuyệt đối với giáo viên và hướng
các em đến một thói quen xem ngôi trường như ngôi nhà thứ hai của mình.
Với những quy tắc đã nêu trên đây chúng ta hy vọng rằng công tác giáo dục học
sinh “chưa ngoan” sẽ có những bước chuyển biến mới. Tuy nhiên việc giáo dục nhân
cách cho học sinh không thể thành công trong một sớm một chiều, bởi giáo dục là cả
một quá trình và không thể chỉ thực hiện bởi giáo viên chủ nhiệm, BGH và các tổ
chức đoàn thể trong trường. Chính vì vậy chỉ có sự gắn kết của các bậc phụ huynh,
12
các tổ chức xã hội cùng quan tâm ủng hộ nhà trường và tham gia công tác giáo dục
học sinh “chưa ngoan” mới có thể tin tưởng đạt được kết quả tích cực và bền vững.
C. KẾT LUẬN
I. Kết Luận trong nghiên cứu:
Để “Biện pháp giáo dục đạo đức qua việc hình thành kĩ năng giao tiếp cho học
sinh lớp 3” đạt kết quả như mong muốn, mỗi chúng ta cần thực hiện tốt các nguyên
tắc giáo dục sau:
1. Kịp thơi, thường xuyên tọa cho giáo viên, cha mẹ học sinh và các tổ chức
đoàn thể trong nhà trường nắm vững yêu cầu nội dung, biện pháp giáo dục đạo đức
cho học sinh. Tránh tư tưởng xem nhẹ nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh, tránh tình
trạng thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua loa, mang tính hình thức, không có hiệu quả.
2. Phải giảng dạy thật tốt môn Đạo đức. Bởi Đạo đức là môn học quan trọng để
giáo dục kĩ năng giao tiếp, hình thành nhân cách cho học sinh. Thông qua môn Đạo
đức để hình thành cho các em kiến thức về chuẩn mực đạo đức đã học.
3. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học, chủ yếu thông qua hai con
Giáo viên phải nắm vững quy định về đạo đức nhà giáo, làm cơ sở để tự rèn
luyện phẩm chất đạo đức nhà giáo, qui tắc ứng xử sư phạm, có lối sống và cách ứng
xử chuẩn mực để thực sự làm tấm gương đạo đức học sinh noi theo (lời nói gắn liền
hành động thực tiễn), mỗi giáo viên luôn trau dồi chuẩn mực đạo đức, gương mẫu
qua từng hành động, luôn dịu dàng hết lòng thương yêu học sinh, bằng lương tâm
chức nghiệp của mình xây dựng chương trình hành động riêng trong công tác giáo
dục đạo đức học sinh. Các chương trình hành động của giáo viên được tổng hợp theo
các Tổ, Khối để gửi về Ban Giám hiệu bổ sung vào kế hoạch của trường.
Khuyến khích học sinh tự giác, tự chủ tham gia tích cực các hoạt động phong
trào đoàn đội, chấp hành nội quy, quy định của nhà trường, luật an toàn giao thông,
phòng chống tai nạn, thương tích cho học sinh, giúp đỡ bạn cùng tiến bộ trong học
tập, hạnh kiểm.
2. Đối với nhà trường, Đội TNTP Hồ Chí Minh:
Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Tổng phụ trách xây dựng kế
14
hoạch hoạt động theo chủ điểm từng tháng. Hàng tuần, sinh hoạt dưới cờ có
đánh giá nhắc nhở khắc phục hạn chế tồn tại, phát huy mặt tích cực, biểu dương tập
thể lớp, cá nhân học sinh tiêu biểu.
Tăng cường tủ sách đạo đức và các hoạt động liên quan (giới thiệu sách, kể
chuyện theo sách, kể chuyện đạo đức Bác Hồ,Tiểu phẩm...) Xây dựng và cụ thể hóa
kế hoạch thực hiện chủ đề: “Rạng ngời trang sử Đội, vững bước tiến lên Đoàn ” . Phát
động thực hiện các phong trào thi đua nề nếp, kỷ luật, vệ sinh, kế hoạch nhỏ, nụ cười
hồng, phong trào học tập làm theo 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng.
Giới thiệu tìm hiểu các di tích văn hóa, di tích lịch sử, tham quan thăm viếng,
học tập.( Đài liệt sĩ, Bảo tàng . . .)
Tổng phụ trách Đội tham mưu kế hoạch, biện pháp hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp, hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm phụ trách chi đội hỗ trợ, phối hợp tổ chức
hoạt động, giáo dục đạo đức theo chủ điểm.