Kinh nghiệm rèn kĩ năng thực hành tiếng việt cho học sinh bằng trò chơi học tập lí thú trong dạy học tiếng việt lớp 2 VNEN trường tiểu học nga vịnh - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH BẰNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP LÍ THÚ
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 2 VNEN

Người thực hiện: Mai Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Nga Vịnh
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2017

1


MỤC LỤC
MỤC
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3

sinh thông qua hợp tác nhóm bằng trò chơi “ Khắc nhập”,
“Túi ba gang” dựa vào các câu chuyện cổ tích
Nâng cao kĩ năng sử dụng từ ngữ có sẵn để đặt các kiểu
câu đã học cho học sinh thông qua việc xây dựng trò chơi
“Cầu hôn công chúa”, “Món quà kì diệu” dựa vào bài tập
đọc trong chương trình
Sáng tạo trong sử dụng trò chơi học tập “Trạm dừng xe
buýt”, “lá thư tay” nhằm nâng cao khả năng sử dụng vốn
từ cho học sinh dựa vào những công cụ hỗ trợ học tập
trong lớp học
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị

TRANG
1
1
1
2
2
3
3
4
5
5
7
9
13


Chuyên đề Giáo dục Tiểu học (Tập 21,
37,41)
Cách tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng
Việt
Vở Bài tập Tiếng Việt 2 (Tập 1, 2)

6
7
8
9

Vở Bài tập Bổ trợ và nâng cao Tiếng Việt 2
(Tập 1, 2)
Luyện tập Tiếng Việt 2 (Tập 1, 2)

TÁC GIẢ
Bộ GD&ĐT
(sách dự án VNEN)
Bộ GD&ĐT
GS.TS Lê Phương
Nga
GS.TS Lê Phương
Nga
Vụ Giáo dục Tiểu
học
Tài liệu Text
Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam
Nhà xuất bản

loại
tỉnh)
C)
Rèn kĩ năng làm văn miêu
Phòng
C
tả ở lớp 4
GD&ĐT
2007- 2008
Rèn kĩ năng giải toán bằng
Phòng
B
sơ đồ đoạn thẳng ở lớp 4
GD&ĐT
2009- 2010
Tích cực hóa hoạt động
Phòng
C
học tập của học sinh trong
GD&ĐT
dạy giải toán có lời văn
2010- 2011
cho học sinh lớp 3
Một số lưu ý khi dạy học
Phòng
B
đại lượng và đo đại lượng
GD&ĐT
2012- 2013
Toán 3

câu, viết đoạn văn ở lớp 2 nói riêng và ở Tiểu học nói chung còn gặp không ít
khó khăn. Nhất là chưa thực sự chú trọng đến việc giúp học sinh sử dụng tiếng
Việt một cách thành thạo, có kĩ năng nói - viết đúng tiếng Việt để từ đó phát
triển lên mức độ nói - viết hay. Đồng thời, việc dạy học bộ môn này chưa tạo
được niềm đam mê học tập thực sự cho trẻ. Dẫn đến các em còn thụ động trong
học tập, chưa tích cực và tự giác học tập tiến bộ. Điều đó đồng nghĩa với việc
không ít giáo viên còn gặp khó khăn trong việc tìm ra những phương pháp dạy
học hiệu quả để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong dạy học bộ môn
này.
Ngoài ra, việc sử dụng “trò chơi học tập” trong dạy học Tiếng Việt của
phần đa giáo viên chưa nhiều, vẫn còn đơn điệu về hình thức và cách tổ chức,
chưa tạo được hưng phấn cho học sinh trong mỗi tiết học. Điều này dẫn đến kĩ
năng sử dụng từ để nói, viết thành câu, đoạn văn của học sinh còn gặp nhiều khó
khăn, mang nhiều cảm tính.
Đổi mới triệt để phương pháp dạy học nhằm tạo cho học sinh tích cực,
chủ động và sáng tạo trong học tập là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
Chính vì lẽ đó, trong quá trình dạy học, tôi luôn chủ động, tìm tòi và học hỏi
đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường trong việc đổi mới phương pháp dạy học để
mỗi tiết học của các em thực sự cuốn hút và hiệu quả bằng việc mạnh dạn áp
dụng: “Kinh nghiệm rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh bằng trò
chơi học tập lí thú trong dạy học Tiếng Việt lớp 2 VNEN”. Từ đó có thể giải
quyết phần nào những vấn đề còn vướng mắc và tồn đọng trong dạy học thực
hành tiếng Việt lớp 2 nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Khi lựa chọn việc áp dụng “Kinh nghiệm rèn kĩ năng thực hành Tiếng
Việt bằng trò chơi học tập lí thú trong dạy học tiếng Việt lớp 2 VNEN” thì mục
đích chính là tháo gỡ những khó khăn về kĩ năng sử dụng vốn từ để nói, viết
thành câu, đoạn văn. Qua đó, tạo sự tự tin, tích cực, chủ động và hứng thú học
tập cho các em để mỗi tiết học thực sự lí thú và hiệu quả. Từ đó, giúp học sinh
lớp tôi phụ trách nói riêng và học sinh lớp 2 VNEN trường tiểu học Nga Vịnh

tiểu học Nga Vịnh kết hợp thu thập các tài liệu, dữ liệu phục vụ cho đề tài, tôi đã
tiến hành phân tích, tổng hợp các số liệu minh chứng cụ thể qua các thời điểm
kiểm tra của giáo viên, tổ chuyên môn và Nhà trường từng thời điểm cụ thể. Từ
đó rút ra kết luận và hiệu quả về việc áp dụng “Kinh nghiệm rèn kĩ năng thực
hành Tiếng Việt bằng trò chơi học tập lí thú trong dạy học Tiếng Việt lớp 2
VNEN”.

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

6


2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, định hướng đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục,
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XII (ngày 26/1/2016) đã nêu rõ: “Phương pháp dạy và học mới không chỉ
làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy
thêm tiến bộ, trưởng thành….Giáo dục cần phải tập trung phát triển mạnh năng
lực và phẩm chất người học, đảm bảo hài hòa đức, trí, thể, mỹ, thực hiện tốt
phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy
người, dạy nghề).” Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy và học tập trung rèn kĩ
năng, bồi dưỡng năng lực và phẩm chất người học là nhiệm vụ cần được chú
trọng trong giáo dục đào tạo. Các Nhà trường trên địa bàn huyện Nga Sơn đã
triển khai và chỉ đạo tới toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên trong mỗi nhà
trường, đặc biệt là các trường đang thực hiện dạy học theo mô hình Trường học
mới Việt Nam (VNEN)- trong đó có trường Tiểu học Nga Vịnh, Nga Sơn, Thanh
Hóa.
Việc giúp học sinh lớp 2 rèn kĩ năng sử dụng vốn từ để nói, viết câu, đoạn
văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ vì nó chính là bước
đầu đang giúp cho các em nắm vững ngôn ngữ tiếng Việt làm phương tiện giao

những câu chuyện cổ tích đã ngấm trong những lời kể của bà, của mẹ hay những
câu chuyện là những bài tập đọc trong chương trình hoặc là những công cụ hỗ
trợ dạy học trong lớp) khi dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh qua việc “chuẩn
bị bài và kiểm tra hoạt động ứng dụng” như trò chơi “Túi ba gang” (từ câu
chuyện cổ tích Cây Khế), “Giỏ cua, ốc” (từ câu chuyện cổ tích Tấm Cám), “Lá
thư tay” (Thư viết tay được học sinh gửi trong Hộp thư vui của lớp); trong tiết
rèn kĩ năng như trò chơi “Trạm dừng xe buýt”, “Đi tìm kho báu” (trong câu
chuyện cổ tích Thạch Sanh), “Cầu hôn Công chúa”( từ bài tập đọc: Sơn Tinh,
Thuỷ Tinh), “Món quà kì diệu” (từ bài tập đọc: Quà của bố), “Trạm dừng xe
buýt”…. Tôi giúp các em có khả năng ghi nhớ từ nhanh, có vốn từ phong phú,
có kĩ năng sử dụng vốn từ đó để đặt câu, viết đoạn văn một cách chủ động và
tích cực trong mỗi giờ học Tiếng Việt. Từ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập, sự
sáng tạo cho học sinh. Nó không những giúp các em hình thành và phát triển kĩ
năng sử dụng vốn từ và câu tiếng Việt mà còn giúp giáo viên không ngừng tìm
tòi, sáng tạo trong đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có hiệu
quả.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực tế việc dạy và học ở các trường tiểu học nói chung và ở các trường
đang dạy học theo Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) nói riêng cho
thấy, việc đổi mới phương pháp dạy học trong môn Tiếng Việt lớp 2 đâu đó ở
một bộ phận không nhỏ giáo viên chưa thực sự triệt để. Việc sử dụng trò chơi
học tập tiếng Việt trong dạy học Tiếng Việt lớp 2 còn hạn chế đơn điệu và chưa
hiệu quả. Dẫn đến học sinh còn lúng túng trong tìm và ghi nhớ từ ngữ, các kiểu
câu và kĩ năng sử dụng vốn từ đó để đặt câu, viết đoạn văn chưa hợp lí, chưa
hay. Vì thế mà trong mỗi giờ học, các em chưa hứng thú, chưa tích cực học tập
và việc hoạt động hợp tác nhóm của học sinh chưa cao.
Đối với học sinh trường Tiểu học Nga Vịnh dạy học theo mô hình Trường
học mới Việt Nam, nhất là học sinh lớp 2A tôi được chủ nhiệm trong năm học
2016-2017, là giai đoạn đầu cấp học nên vốn từ vựng rất nghèo nàn, kĩ năng sử
dụng vốn từ còn hạn chế, chưa nắm vững mẫu câu,…Do đó, khi sử dụng từ để

SL
TL
6
20

Từ kết quả thực trạng trên cho thấy kĩ năng sử dụng Tiếng Việt của học
sinh lớp tôi nói riêng và học sinh trường Tiểu học Nga Vịnh nói chung còn nhiều
hạn chế. Dẫn đến mỗi tiết học về sử dụng vốn từ để nói, viết câu hiệu quả chưa
cao; học sinh còn rụt rè, chưa thực sự tích cực và chủ động trong học tập, hoạt
động nhóm. Vì vậy mà ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của môn Tiếng
Việt nói riêng và các môn học khác trong nhà trường nói chung. Như thế là chưa
đáp ứng được yêu cầu đổi mới của nền giáo dục Tiểu học ở Việt Nam hiện nay.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt bằng trò
chơi học tập lí thú cho học sinh lớp 2 VNEN trường Tiểu học Nga Vịnh
Từ thực trạng trong dạy học Tiếng Việt lớp 2 như đã nói, tôi mạnh dạn
đưa ra những giải pháp trong thực tiễn giảng dạy và công tác để giải quyết
những băn khoăn, vướng mắc và những vấn đề còn tồn đọng trong dạy học và
giáo dục học sinh với mong muốn góp phần giúp cho học sinh lớp tôi phụ trách
có kĩ năng sử dụng vốn từ và câu thật tốt; được chủ động, tích cực và sáng tạo
trong học tập, để mỗi giờ học nặng nề trước đây trở thành những giờ học lí thú
và hiệu quả. Từ đó sẽ tạo được môi trường học tập có ích, giúp học sinh phát
triển toàn diện; giúp giáo viên tiến bộ, trưởng thành, không ngừng trau dồi, nâng
cao tay nghề. Để thực hiện điều đó, tôi đã tiến hành một số giải pháp sau:
2.3.1. Nghiên cứu nội dung, lựa chọn kiến thức, tìm hiểu và tổ chức trò chơi
học tập tiếng Việt nhằm tạo hứng thú, nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt
lớp 2 VNEN
Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 phần kiến thức tiếng Việt
sẽ giúp học sinh mở rộng vốn từ và cung cấp cho các em một số hiểu biết sơ
giản về từ loại (từ chỉ người, con vật, cây cối; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ
đặc điểm, tính chất). Đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đạt

có. Để tăng tính khả thi và hiệu quả, trò chơi học tập Tiếng Việt phải mang ý
nghĩa giáo dục trí tuệ, phù hợp tâm lí lứa tuổi học sinh, phù hợp với điều kiện
thời gian, điều kiện vật chất của trường, lớp và hấp dẫn học sinh. Trò chơi học
tập tiếng Việt có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: tái hiện kiến
thức của bài; hình thành kiến thức mới; củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng sử
dụng tiếng Việt.
Tuy nhiên, việc tổ chức cho học sinh chơi trò chơi học tập tiếng Việt để
củng cố, rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh lớp 2 như thế nào để
mang lại hiệu quả giờ học, để tạo hứng thú, sự sáng tạo cho các em mới là quan
trọng.
Để đạt được những điều nói trên thì tôi đã tiến hành tìm hiểu và nắm rõ
quy trình tổ chức thực hiện một trò chơi học tập tiếng Việt bao gồm các bước
sau:
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi
Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
+ Tổ chức thành lập những người tham gia trò chơi: Số người tham gia trò
chơi, số đội chơi, quản trò, trọng tài.
+ Các dụng cụ dùng để chơi: Giấy khổ to, bút dạ, giấy màu, phấn màu, thẻ
chữ, tên đội, hoa số, cờ, …
+ Cách chơi: Giáo viên nêu tên trò chơi, luật chơi, từng việc làm cụ thể
của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được
làm.
+ Cách xác nhận kết quả hay cách tính đội chiến thắng hoặc giải của cuộc
chơi(nếu có)
Bước 3: Thực hiện trò chơi
Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:

10



léo một phần lớn có được nhờ tìm ra yếu tố giả định của trò chơi. Việc giả định
mới mẻ và thú vị này sẽ kích thích tính hiếu kì, giúp các em chủ động ghi nhớ và
mở rộng vốn từ ngữ, các kiểu câu đã học trong từng nội dung bài học, từng hoạt
động cụ thể. Đồng thời giúp các em củng cố và rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt
đã học một cách hiệu quả.
2.3.2. Giúp học sinh mở rộng vốn từ thông qua việc chuẩn bị bài và kiểm tra
hoạt động ứng dụng bằng khéo léo tổ chức trò chơi “Giỏ cua ốc” từ câu
chuyện cổ tích Việt Nam
Đối với dạng trò chơi được xây dựng dựa trên những câu chuyện cổ tích
Việt Nam thì giáo viên phải khéo léo đưa vào trò chơi những yếu tố “giả định”
là những con vật, đồ vật hay nhân vật quen thuộc gần gũi với cuộc sống và hiểu

11


biết của học sinh như con cua, con ốc,… Trong trò chơi, khi mọi thứ đều thật (từ
vẫn là từ, câu vẫn là câu, trò vẫn là trò, thầy vẫn là thầy,…), trò chơi sẽ bớt phần
hấp dẫn. Với lứa tuổi Tiểu học, nhất là học sinh lớp 2A tôi phụ trách, nếu tên gọi
của trò chơi, nhân vật, tình huống, kết quả,…của trò chơi tiếng Việt được giả
định từ nhân vật, tình huống, kết thúc,… của các văn bản truyện cổ dân gian
Việt Nam (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,…) thì trò chơi lại trở nên hấp dẫn
các em vô cùng. Còn gì thú vị hơn khi mỗi học sinh được giả định là một nhân
vật tốt bụng, tài giỏi trong truyện dân gian (như cô Tấm, anh Khoai,… hay thậm
chí là những con cua, con ốc đáng bé nhỏ, đáng yêu,...) và luôn gặp một cái kết
“có hậu” như đã diễn ra trong truyện cổ.
Bên cạnh đó từ tiếng Việt lại khá đồ sộ về số lượng từ ngữ và đa dạng,
phong phú ở nhiều lớp nghĩa của từ vựng. Vì vậy mà đối với học sinh lớp 2, khi
vốn từ của các em còn nghèo nàn, hạn chế thì việc giúp các em tích cực, chủ
động mở rộng vốn từ vựng tiếng Việt là điều mà tôi luôn chú trọng. Bởi vậy, sau
mỗi tiết học Luyện từ và câu mà các em được học trong chương trình, tôi đã yêu

thấy tất cả học sinh đều tích cực tìm và ghi chép lại những từ ngữ về học tập.
Các em vui mừng vì đã trở thành người tốt giúp được cô Tấm nhân hậu trong
câu chuyện Tấm Cám. Trong tiết học mọi học sinh hứng thú, chủ động nắm
vững các từ ngữ về học tập, sắp xếp và đặt được câu rất nhanh như: Bạn Hoa
thích học vẽ./ Hùng giúp em giải bài toán khó./… Đặc biệt hơn nữa là sau tiết
học này các em đã biết tìm ra những từ không phù hợp với chủ đề mà các em đã
tìm và viết vào bảng nhóm trước đó như: Bố, mẹ, anh chị,…và cùng nhau nhau
sửa lại cho đúng vào giờ giải lao. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, những
dòng chữ hiển hiện trước mắt “thấm” dần vào các em và các em có thêm được
rất nhiều từ mới, biết đặt câu một cách phong phú và chủ động. Cũng chính điều
này các em được bồi đắp thêm tình yêu tiếng Việt, dần “ngấm” được những tình
cảm tốt đẹp của con người Việt Nam ngay từ nhỏ.
2.3.3. Rèn kĩ năng mở rộng vốn từ và sử dụng từ ngữ cho học sinh thông qua
hợp tác nhóm bằng trò chơi “Khắc nhập”, “Túi ba gang” dựa vào các câu
chuyện cổ tích
Khi rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh lớp 2, ta không chỉ dạy
cho các em biết tìm từ ngữ theo chủ đề học mà còn phải chú trọng rèn kĩ năng
tìm và dùng các từ ngữ đó để đặt được câu đúng, câu hay một cách nhanh nhạy,
sáng tạo. Vì vậy, tôi đã xây dựng và tổ chức trò chơi thông qua hợp tác nhóm
dựa theo tích truyện “Cây tre trăm đốt” có tên “Khắc nhập” khi dạy hoạt động
2, bài 3A “Có bạn thật là vui” (Tiết 2) (trang 32 – TLHDH Tiếng Việt lớp 2, tập
1A) như sau:
Mục đích chơi: Giúp học sinh hiểu và tìm được một số từ ngữ chỉ người,
đồ vật, con vật và cây cối theo tranh vẽ một cách tích cực tự tin và tích cực hoạt
động.
Chuẩn bị: + phiếu học tập có nội dung bài tập 2, hoa nhóm
+ Thành lập đội chơi: chơi theo nhóm, mỗi thành viên là một
anh Khoai (người nông dân hiền lành, tốt bụng)
Cách tiến hành và tổ chức trò chơi:
+ Khi quản trò hô “Khắc nhập” thì nhóm trưởng mời cá nhân nhanh chóng quan

Sau hoạt động 5, để giúp học sinh củng cố kĩ năng sử dụng những từ chỉ
hoạt động, trạng thái của sự vật, tôi đã tổ chức trò chơi “Túi ba gang” dựa vào
câu chuyện cổ tích “Cây Khế” trong hoạt động củng cố dưới đây:
Mục đích: trò chơi giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn kĩ năng về hoạt

14


động, trạng thái để đặt câu. Qua trò chơi, học sinh chủ động, tích cực hợp tác
nhóm hiệu quả; rèn sự nhanh nhạy, cẩn thận trong hoạt động học tập.
Chuẩn bị:
+ Thẻ hoa, cờ thi đua, “cục vàng”- bìa xốp vàng hình chữ nhật , “túi ba gang”rổ, tên nhóm, bảng, phấn.
+ Thành lập đội chơi: Hai đội Đại Bàng và Biển Xanh mỗi đội gồm 8 học sinh.
Mỗi thành viên trong hai đội sẽ được xem là Em Út- người em thật thà, hiền
lành trong câu chuyện.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên nêu tên trò chơi: “Túi ba gang”
+ Giáo viên nêu hình thức chơi, luật chơi, cách chơi: Mỗi đơn vị từ chỉ hoạt
động, trạng thái và câu có từ chỉ hoạt động, trạng thái hai đội đưa ra được giả
định là “cục vàng”. Mỗi đội chơi sẽ cầm thẻ hoa, truyền tay cho nhau, người
cầm thẻ hoa sẽ nêu một từ chỉ hoạt động, trạng thái bất kì, Đội còn lại sẽ nhanh
chóng đặt câu với mỗi từ đó, người “Em Út” đặt câu đúng với từ đó sẽ tự lấy
một “cục vàng” bỏ vào “Túi ba gang” của đội mình. Cứ như vậy, hai đội chơi sẽ
đổi vai và chơi trong thời gian 5 phút, đội nào lấy được nhiều vàng nhất đội đó
sẽ dành chiến thắng, kết quả là trở thành người giàu có, hạnh phúc nhất.
+ Giáo viên tổ chức cho hai đội chơi: Đại Bàng và Biển Xanh chơi trò chơi“Túi
ba gang”: chơi thử, chơi thật.
+ Giáo viên kiểm tra, công nhận câu trả lời của hai đội, hai đội lấy vàng bỏ vào
túi ba gang.
+ Giáo viên kiểm tra kết quả trò chơi: Đội Đại Bàng lấy được 6 cục vàng, đội

Việt rất hiệu quả. Các em tích cực tham gia sinh hoạt vào thời gian sinh hoạt 10
phút đầu giờ thứ 3, thứ 5 hàng tuần bằng những hoạt động cụ thể như: đọc
truyện cổ dân gian Việt Nam và nước ngoài, chia sẻ những từ ngữ hay chỉ đặc
điểm, tính chất, hoạt động, những câu văn hay,…

16


Ảnh minh họa CLB Tiếng Việt lớp 2A trường TH Nga Vịnh sinh hoạt đầu giờ
2.3.4. Nâng cao kĩ năng sử dụng từ ngữ có sẵn để đặt các kiểu câu đã học cho
học sinh thông qua việc xây dựng trò chơi “Cầu hôn Công chúa”, “Món quà
kì diệu” dựa vào bài tập đọc trong chương trình
Khi dạy học về câu ở lớp 2, các em được làm quen với các kiểu câu trần
thuật đơn cơ bản Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?, các bộ phận của mỗi loại câu
đó. Song việc ghi nhớ, kĩ năng phân biệt kiểu câu hay khả năng tìm ra các bộ
phận của mỗi kiểu câu đó đối với các em còn nhiều khó khăn.
Để giúp các em có kĩ năng thực hành về các kiểu câu này, tôi đã xây dựng
và tổ chức trò chơi “Món quà kì diệu” dựa trên nội dung bài tập đọc “Quà của
bố” (Bài 13C: Em yêu cha mẹ của em, TLHDH Tiếng Việt 2, tập 1B trang 52)
trong mỗi tiết dạy cung cấp và củng cố kiến thức về câu cho học sinh một cách
linh hoạt, phù hợp. Ví dụ khi dạy hoạt động 2 (Chọn một từ ngữ chỉ đặc điểm và
đặt câu với từ ngữ đó để tả:) bài 15B: Anh em yêu thương nhau là hạnh phúc
(Tiết 2) (TLHDH Tiếng Việt 2, tập 1B trang 76) như sau:
Mục đích chơi: giúp học sinh có kĩ năng đặt câu Ai thế nào? Theo chủ đề
cho trước một cách nhanh nhạy, có tinh thần hợp tác và tích cực trong học tập.
Thành lập đội chơi: Hai đội Cà Cuống và Niễng Niễng, mỗi đội gồm 8 học sinh.
Mỗi thành viên trong hai đội sẽ được xem là người bố tài giỏi, tâm lí và thương
yêu, quan tâm con cái trong bài đọc.
Chuẩn bị:
+ Các con vật trong bài đọc bằng nhựa cứng, hộp đựng quà, cờ tay.

thành thạo, trong tuần 27 ôn tập, tôi đã xây dựng và tổ chức trò chơi “Cầu hôn
Công chúa” được lấy từ bài đọc trong chương trình “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” như
sau:
Mục đích của trò chơi: Giúp học sinh củng cố và rèn kĩ năng ghi nhớ, có
kĩ năng phân biệt và đặt câu hỏi với từ, cụm từ ngữ in đậm hay gạch chân (câu
hỏi Khi nào?, Ở đâu?, Vì sao?, Thế nào); biết hợp tác nhóm và tự tin trình bày ý
kiến trước tập thể.

18


Thành lập đội chơi: Hai đội Voi Vàng và Ngựa Trắng, mỗi đội gồm 3 học
sinh. Mỗi thành viên trong hai đội sẽ được xem là chàng Sơn Tinh - là chúa
vùng non cao trong câu chuyện.
Chuẩn bị:
+ Thẻ số, câu văn, chìa khoá vàng, hộp kho báu, thước kẻ, bút chì
Cách tiến hành:
+ Giáo viên nêu tên trò chơi: “Cầu hôn Công chúa”
+ Giáo viên nêu hình thức, luật chơi và cách chơi: Trò chơi được tổ chức theo 2
đội thi (Voi Vàng, Ngựa Trắng) ứng với 6 học sinh, mỗi đội 3 người. Mỗi thành
viên trong mỗi đội được xem là chàng Sơn Tinh tài giỏi; mỗi câu hỏi đúng mà
học sinh đưa ra sẽ là một lễ vật mà vua Hùng Vương đã đưa ra. Trong thời gian
4 phút, đội nào mang đến đủ lễ vật, tiến đến Hoàng cung sẽ được mở cửa Hoàng
cung bằng chìa khoá vàng và cũng là đội chiến thắng, trở thành chàng Sơn Tinh
tài giỏi, tốt bụng cưới được Mị Nương.
+ Giáo viên tổ chức cho hai đội chơi Voi Vàng, Ngựa Trắng: Sau mỗi câu từ in
đậm, giáo viên đọc, các đội chơi phất cờ để được đặt câu hỏi Khi nào? Thế nào?
Vì sao? Ở đâu?
+ Giáo viên đưa đáp án đúng và cùng học sinh kiểm tra kết quả. Giáo viên khen
ngợi đội Voi Vàng đã mang đủ lễ vật trong thòi gian nhanh nhất. Như vậy đội

một em có thể chỉ tìm được một, hai từ và đặt được một, hai câu thì nay đã có
được hành chục từ ngữ, câu văn phong phú do chọ được từ bạn bè. Các em còn
có điều kiện để sửa câu sai, chọn câu hay và phù hợp với ngữ cảnh, các em được
rèn luyện thêm về chính tả, sử dụng dấu câu,…cách lựa chọn và sắp xếp ý trong
một câu văn. Đồng thời, học sinh cũng phát huy được năng lực hợp tác trong
học tập, biết cách trao đổi trong nhóm để đưa ra ý đúng, ý hay trong một thời
gian nhất định, rèn tính cẩn thận, sáng tạo trong học tập.
Khi dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam ở lớp 2C trường Tiểu
học Nga Vịnh, bản thân tôi luôn chú trọng khai thác và sử dụng triệt để công cụ
hỗ trợ (đó là sơ đồ lớp học, con đường đến trường, sơ đồ từ trường xuống huyện
Nga Sơn, hộp thư vui, góc học tập, góc cộng đồng,…) trong lớp vào mỗi bài
dạy, tiết dạy cụ thể, phù hợp. Cụ thể, tôi đã xây dựng và áp dụng trò chơi “Trạm
dừng xe buýt” khi dạy tiết 3 bài 21B: Em biết những loài chim nào? (TLHDH
Tiếng Việt 2, tập 2A trang 40) thật hấp dẫn như sau:
Mục đích của trò chơi: Giúp học sinh củng cố và rèn kĩ năng tìm từ, đặt
câu với những loài chim gọi theo hình dáng, theo tiếng kêu và theo cách kiếm
ăn; mở rộng kiến thức địa lí các địa điểm chính từ trường xuống huyện; biết hợp
tác nhóm và tự tin trình bày ý kiến trước tập thể.
Thành lập đội chơi: Ba đội chơi ứng với ba trạm dừng của xe buýt là:
trường Tiểu học Nga Vịnh, Bệnh viện Huyện, Phòng giáo dục Nga Sơn, mỗi đội
gồm 3 học sinh. Mỗi thành viên trong mỗi đội sẽ được xem là người lái xe trong
mỗi chuyến xe buýt.
Chuẩn bị: + Biển báo trạm dừng xe buýt, máy chiếu, bảng con, phần

20


thưởng (bút chì, gọt chì, tẩy)
Cách tiến hành:
+ Giáo viên nêu tên trò chơi: “Trạm dừng xe buýt”

Để giúp các em hiểu thêm về đặc điểm, hình dáng và hoạt động của một
số loại chim, tôi đã sử dụng trình chiếu ảnh thật sinh động và hấp dẫn học sinh.

Ảnh minh hoạ giáo viên thực hiện dạy học đổi mới áp dụng công nghệ thông tin
Có thể nói, bằng việc khéo léo, sáng tạo trong xây dựng và tổ chức trò
chơi học tập mới mẻ, lí thú dựa vào những câu chuyện cổ tích Việt Nam quá gần
gũi, những câu chuyện trong mỗi bài tập đọc trong chương trình học của học
sinh cũng như việc khai thác triệt để các công cụ hỗ trợ dạy học trong lớp như
đã tiến hành. Tôi thấy mỗi tiết học thực hành kĩ năng tiếng Việt nặng nề, nhàm
chán trước đây đã được đa dạng hoá, đổi mới hoá một cách thật hiệu quả. Tất cả
học sinh trong lớp tôi đã thực sự tích cực, tự giác và chủ động tham gia hoạt
động, nhất là hoạt động nhóm. Các em luôn nắm vững kiến thức bài học và có kĩ
năng thực hành tiếng việt rất tốt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Sau khi áp dụng kinh nghiệm rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho học
sinh bằng trò chơi học tập lí thú, tôi thấy trong mỗi giờ học tiếng Việt lớp 2 đã
thực sự cuốn hút học sinh, các em chủ động nắm vững kiến thức về đơn vị từ
theo chủ đề, kĩ năng đặt câu hỏi và khả năng sử dụng vốn từ để đặt câu trong
viết câu, đoạn văn được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt hơn, trong mỗi giờ học, các em
đều hưng phấn học tập, thực sự tự tin trong giao tiếp và hoạt động hợp tác, nhất
là hợp tác nhóm. Ngoài ra, các em còn tự mình hoàn thiện nhân cách tốt, biết
yêu thương con người, yêu quý cái đẹp, cái thiện trong những câu chuyện đã
được đọc, được học trong văn phong tiếng Việt, trong cuộc sống các em. Nhờ đó
mà mỗi tiết học tiếng Việt đều mang lại nhiều điều lí thú và bổ ích cho chính học
sinh.
Bên cạnh đó, việc áp dụng các giải pháp như đã thực hiện cũng giúp bản

22


SL

TL

SL

TL

SL

TL

15
17

50
56,7

15
13

50
43,3

0
0

0
0


tập một cách mới mẻ, thú vị trong dạy học; Chú trọng phát triển, rèn luyện kĩ
năng, năng lực cũng như bồi dưỡng phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh,
giúp các em biết yêu thương con người và đất nước Việt Nam. Đó cũng chính là
chúng ta đang cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đáp ứng
được yêu cầu của xã hội ngày nay.
2. Kiến nghị
Để thực hiện kinh nghiệm rèn kĩ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh
bằng trò chơi học tập lí thú trong dạy học Tiếng Việt lớp 2 được hiệu quả và
đồng bộ hóa ở các nhà trường, tôi xin được kiến nghị một số vấn đề sau:
- Mỗi giáo viên cần sáng tạo trong đổi mới phương pháp và tư duy dạy học để
giúp trẻ chủ động nắm bắt kiến thức, phát triển kĩ năng và năng lực hoạt động.
- Khi thực hiện tổ chức trò chơi học tập cần tìm ra cái mới, cái lạ để kích thích
sự tò mò, trí tưởng tượng và sáng tạo cho trẻ bắt nguồn từ những điều giản đơn,
gần gũi nhất với trẻ”. Giáo viên phải khéo léo trong lựa chọn nội dung, cách
thức tổ chức cũng như cần chú trọng thêm các yếu tố nhằm hấp dẫn các em tham
gia chơi như: các yếu tố giả định trong những câu chuyện các em được đọc và
được học trong và ngoài chương trình, các dụng cụ chuẩn bị cho một trò chơi
hay phần thưởng trò chơi cần phù hợp, phong phú.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả
dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 2. Trong khi tiến hành thực hiện, do điều
kiện thời gian có hạn, tôi không thể minh họa được qua nhiều tiết học. Các giải
pháp đưa ra chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý
kiến của Ban Giám hiệu nhà trường, của các đồng chí lãnh đạo cấp trên để giải
pháp mà tôi thực hiện sẽ đạt được hiệu quả cao nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 3 năm 2017
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CAM KẾT KHÔNG COPPY!
Người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status