SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC TRÒ CHƠI
TRONG DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU NHẰM GÂY
HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 2.
Người thực hiện: Trần Anh Vân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Tiểu học Ngọc Trạo
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trần Anh Vân
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường tiểu học Ngọc Trạo
TT
Tên đề tài SKKN
1 Bồi dưỡng Ban chỉ huy Liên
Đội
A. MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là một trong những
việc làm quan trọng góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.
Chính vì vậy, trên bục giảng có nhiều giáo viên trăn trở, suy tư, chưa hài lòng
với chất lượng giờ dạy nên đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiến
mới, những kinh nghiệm hay nhằm đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp
với đặc thù của môn học và phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp các em
học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng, tự nhiên mà lại hiệu quả. Đây là một trong
những yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục nói chung và bậc tiểu học nói riêng.
Qua thực tế giảng dạy lớp 2 nói chung và ở môn Tiếng Việt 2 nói riêng, tôi
nhận thấy rằng: sách giáo khoa Tiếng Việt 2 giúp học sinh hình thành kĩ năng sử
dụng tiếng Việt (nghe- nói- đọc- viết), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể. Nội
dung sách giáo khoa tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cập
nhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời đại mới hiện
nay.
Đối với học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc tìm hiểu và
sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn cần phải được bổ sung và phát
triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giao tiếp. Muốn nói hay viết giỏi đều phải
dùng từ. Từ là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ. Hiểu được nghĩa của từ đã khó,
còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó
hơn. Cho nên, việc dạy cho học sinh nắm vững Tiếng Việt không thể không coi
trọng việc dạy phân môn luyện từ và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các
môn học khác ở các lớp học trên. Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu
quả, không những đòi hỏi người thầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn
sống của trẻ nhằm xây dựng hệ thống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu
có từ thuộc chủ đề nhằm bổ sung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ.
và câu nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh lớp 2 . Tổng kết những kinh
nghiệm đạt được tại lớp 2B trường Tiểu học Ngọc Trạo – Bỉm Sơn – Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi sử dụng phối hợp các phương
pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Thường xuyên sưu tầm tra cứu sách
báo tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài, qua đó phân tích tổng hợp hệ thống
hóa theo mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp thực nghiệm : áp dụng trong quá trình dạy học trên lớp
- Phương pháp điều tra phỏng vấn : Tiến hành một số câu hỏi dạng trắc
nghiệm và tự luận cho các nhóm học sinh và điều tra qua phiếu liên qua đến việc
phân tích đánh giá việc học của học sinh, hay thông qua phỏng vấn trực tiếp qua
đó nắm bắt được thực trạng.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm : Qua các hoạt động, giáo viên ghi
chép từ đó đúc rút kinh nghiệm được và chưa được tổng hợp đi đến kết luận.
- Phương pháp thống kê toán học : sử dụng phương pháp thống kê toán
học nhằm phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu.
2
B. NỘI DUNG.
I. Cơ sở lí luận:
1. Trò chơi học tập là gì?
Trò chơi học tập là trò chơi mà luật chơi của nó bao gồm các quy tắc gắn
với với kiến thức kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài
hoc, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua
chơi học sinh được vận dụng các kiến thức đã học vào các tình huống trò chơi
và do đó học sinh được luyện tập thực hành củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng
đã học.
quá cao, thông qua các hình thức tổ chưc dạy học(cá nhân, nhóm, lớp,...) Giáo
3
viên tổ chức cho học sinh các hoạt động trò chơi để giúp các em có hứng thú học
tập.
Với những lí do trên, cùng với những băn khoăn, suy nghĩ, trăn trở của
người giáo viên đứng lớp, tôi mạnh dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệu
hướng dẫn, thực tế kinh nghiệm giảng dạy trên lớp, trao đổi chuyên môn cùng
đồng nghiệp để tìm ra những hoạt động trò chơi cho học sinh phù hợp với từng
kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong lớp.
Vì điều kiện và năng lực bản thân không cho phép nên tôi chỉ đi sâu vào
việc nghiên cứu tổ chức trò chơi cho học sinh lớp 2 ở một số kiểu bài đặc trưng
trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2.
II.Thực trạng của vấn đề:
Để điều tra về thực tế về trình độ hiện nay của học sinh lớp 2B ở trường
Tiểu học Ngọc Trạo, tôi đã đưa vào 3 dạng mẫu câu ở 3 dạng bài khác nhau: Ai
là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Cụ thể:
- Bài Luyện từ và câu : Tuần 3 - SGK Tiếng việt 2 - Tập 1 - Trang 26
- Bài Luyện từ và câu : Tuần 13- SGK Tiếng việt 2- Tập 1 Trang 108
- Bài Luyện từ và câu : Tuần 15 - SGK Tiếng việt 2 - Tập 1 - Trang 122 và có
kết quả như sau:
Mức
đạt
Lớp
(sĩ số)
Giải nghĩa từ
Hoàn
thành
29
6
29
6
2B - 37
15
17
5
30
7
30
7
Qua thực tế kiểm tra, tôi thấy học sinh trong lớp còn tồn tại những lỗi sau:
- Về cách đặt câu theo mẫu: Vẫn còn một số ít học sinh khi đặt câu còn
nhầm lẫn giữa các mẫu câu với nhau.
- Về cách trình bày cấu tạo câu: Một bộ phận học sinh khi viết câu hỏi cuối
câu không ghi dấu hỏi chấm,như em Hà Linh, em Hòa , em Kiệt,..
- Trò chơi phải gây hứng thú với học sinh.
2.
Cấu trúc của trò chơi:
- Tên trò chơi.
- Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhăm ôn luyện, củng cố kiến
thức, kĩ năng nào. Mục đích của trò chơi sẽ quy định hành động chơi được
thiết kế trong trò chơi.
- Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong trò chơi
học tập.
- Nêu lên luật chơi: Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi qui định đối với
chơi, quy định thắng thua của trò chơi.
- Số người tham gia chơi: Cần chỉ rõ số người tham gia chơi.
3.
Cách tổ chức trò chơi:
- Thời gian tiến hành từ 5 – 7 phút ( tiến hành ngay đầu tiết học hoặc có thể
lồng ghép trong mỗi bài tập, cuối bài học) nhằm thu hút sự chú ý và củng
cố kiễn thức một cách vững chắc hơn qua mỗi loại bài tập tương ứng với
mỗi loại kiễn thức.
- Đầu tiên là giới thiệu trò chơi:
+ Nêu tên trò chơi.
+ Hướng dẫn trò chơi bằng cách mô tả thực hành, nêu rõ qui định chơi.
- Chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi.
- Chơi thật..
- Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có thể nêu
thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai làm thường
5
VD: Dán nhãn cho đồ dùng học tập (tuần 6- T52); Đồ dùng trong nhà (tuần
11 – T90)_ TV2 tập 1. Các con vật nuôi (tuần 21, 22 T27, 35); các loài thú (tuần
23, 24 T45, 55); Các loài cá (tuần 25, 26 T64, 73); Các loài cây (tuần 28, 29
T87, 95); Những người có nghề nghiệp khác nhau (tuần 33, 34 T129; 137) sách
TV2 tập 2.
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh ghép nhanh được từ với đồ vật hoặc hình vẽ tương ứng và có biểu
tượng cụ thể về nghĩa của từ.
6
2. Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng
chủ đề
Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên
tưởng, so sánh.
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí
thông minh và cách ứng xử nhanh.
Chuẩn bị:
Bảng phụ hoặc giấy nháp
Cách tiến hành:
- Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi
nhóm có từ 3- 4 học sinh tham gia.
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề.
(VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật
nuôi là những con vật nuôi trong nhà…), Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu:
+ Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm
gia đình…).
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượng
- Băng dính để dính các tờ giấy đã ghi từ lên bảng lớp.
Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu yêu cầu: Thi tìm nhanh các từ 1 tiếng có phụ âm đầu cho trước.
- Cá nhân (từ 2- 4 người) hoặc nhóm (từ 2- 4 nhóm) tham gia chơi.
- Dựa vào phụ âm đầu đã cho ở đề bài, trong khoảng thời gian quy định (3 hoặc
5 phút); mỗi người ( nhóm) cố gắng tìm thật nhiều từ ghi vào mảnh giấy (hoặc
phần bảng) đã ghi sẵn tên mình ( hoặc nhóm mình). Hết thời gian quy định, cô
giáo nhận xét kết quả, Học sinh (hoặc nhóm) nào tìm được nhiều từ nhất sẽ
thắng cuộc.
Có thể sử dụng trò chơi như sau:
+ Giáo viên có thể cho học sinh tự ghi các từ theo sự liên tưởng, không theo các
bước lựa chọn thứ tự kết hợp âm vần.
VD: Với phụ âm đầu b, học sinh có thể đưa ra: Bà, bố, bi, bánh, bạn, biết,
bò. bút…; với phụ âm đầu c, học sinh có thể đưa ra: Cá, cơm, cò, cỏ, cờ, cấm,
canh, cột…
Cũng có thể tiến hành tìm các từ theo các bước sau:
- Ghép phụ âm đầu đã cho với 1 nguyên âm: a,o, ô, ơ, e, ê…rồi thay đổi lần lượt
các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Xét trong các tiếng đã ghép được, tiếng
nào có nghĩa thì ghi lại:
VD : b-ba, bà, bá, bả, bạ, bo, bò, bó, bỏ, bõ, bọ…
- Ghép phụ âm đầu đã cho với vần có 2 bộ phận( âm chính và âm cuối, âm đệm,
âm chính) đến vần có 3 bộ phận (âm đệm, âm chính, âm cuối) rồi thay đổi lần
lượt các thanh và chọn ra các tiếng có nghĩa.
VD: ban, bàn, bán, bản, bạn, bần, bấn, bẩn, bận…
+ Có thể kết hợp tìm từ đơn cũng có phụ âm đầu với từ theo chủ đề hoặc kết hợp
với tìm từ theo từ loại (Chỉ sự vật, chỉ hành động, chỉ tính chất)
VD: -Tìm từ chỉ đồ dùng trong nhà có phụ âm đầu ch (chén, chõng, chăn,
chiếu, chạn, chai…)
- Tìm từ chỉ gia đình họ hàng có phụ âm đầu ch (cha, chín, cháu, chắt..)
- Tìm từ chỉ nguời, vật có phụ âm đầu c (cô, cơm, cá, cò, cỏ…)
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh mở rộng vốn từ bằng cách tạo từ một tiếng đã cho. Rèn được kỹ năng
huy động vốn từ nhanh viết nhanh.
5. Trò chơi: Tìm nhanh từ đồng nghĩa
Mục đích:
- Nhận biết nhanh các từ ngữ đồng
nghĩa, làm giàu vốn từ của học sinh
- Luyện trí thông minh, nhanh mắt,
nhanh, tay.
Chuẩn bị:
- Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung
như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn
(xanh, đỏ , vàng…) tương tự quân bài
trong cỗ tam cúc. Mỗi bộ có 10 hoặc 12 quân bài đã ghi sẵn các từ.
- Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quân
bài của nguời chơi. Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng nghĩa với từ được
ghi trên quân bài của nguời chơi.
- Mỗi quân bài này đều được ghi từ ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầm
bài trên tay.
Học tập
Siêng năng
Cách tiến hành:
Từ hai đến 4 nguời chơi. Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12
quân)
9
- Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộ
1. Giáo viên nêu yêu cầu: Tìm số đồ vật được vẽ ẩn trong tranh( gọi là kẻ
trú ẩn) rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị. Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ
số lượng đồ vật ( tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất.
2. Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra ( hoặc trong
sách giáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số
lượng mỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút)
3. Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng. Giáo viên
hướng dẫn cả lớp hô ''đúng'' (hoặc ''sai'', hoặc ''thiếu'') giáo viên trợ giúp việc xác
nhận kết quả của từng nhóm.
- Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng
đồ vật tìm được để xếp giải nhất, nhì, ba (có thể xếp đồng giải nhất, nhì, ba hoặc
yêu cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng).
10
Trò chơi này áp dụng cho bài tập 3 tiết luyện từ và câu tuần 6- T52; bài tập
1 tiết luyện từ và câu tuần 11- T 90.
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh.
Luyện được kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi.
7. Trò chơi: Ghép tiếng thành từ
Mục đích:
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.
- Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác
phong nhanh nhẹn.
Chuẩn bị :
- Dựa theo bài tập 1, tiết luyện từ và
câu tuần 12 ( sách giáo khoa TV 2 tập
1- T99) Giáo viên làm các bộ quân bài
ghi tiếng ( đủ cho số nhóm học sinh
- Học sinh mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng. Rèn khả năng nhận ra từ, rèn
tác phong nhanh nhẹn.
8. Trò chơi: Đoán từ
Mục đích:
- Rèn kỹ năng đoán nhanh 1 từ khi
biết nghĩa hoặc một số dấu hiệu
hình thức của từ đó.
- Củng cố về nghĩa của từ và mở
rộng vốn từ ngữ cho học sinh .
Chuẩn bị :
- Một số câu đố về từ, ghi sẵn vào
các phiếu.
VD: - Viên màu trắng dùng để viết lên bảng (Là gì?)
Có sắc để uống hoặc tiêm
Thay sắc bằng nặng là em nhớ bài (Là từ gì?)
- Nơi em đến học hàng ngày (Là gì?)
Còn sắc thì để nấu canh
Đến khi mất sắc theo anh học trò. (Là từ gì?)
Bóng gì treo ở trên cao
Đem bao ánh sáng tràn vào phòng em. (Là gì?)
- Mỗi phiếu ghi 1 câu đó, theo thứ tự 1,2,3…..làm các bộ phiếu giống nhau đủ
cho số nhóm chơi ( mỗi lần chơi chỉ nên 5 phiếu/ 1 nhóm x 4 nhóm)
- Giấy khổ to (hoặc bảng phụ) viết sẵn kết quả các từ (ghi theo số thứ tự trong
phiếu câu đố)
- Mỗi nhóm có đủ giấy bút để ghi kết quả.
- Giáo viên cùng 2; 3 học sinh (không tham gia chơi) làm trọng tài, phát thẻ đỏ
của 1 nhóm tham gia chơi.
Cách tiến hành :
1. Giáo viên lập 4 nhóm chơi (mỗi nhóm 4; 5 học sinh ) nêu yêu cầu:
- Sau khi nhận 1 bộ phiếu ghi các câu đố về từ, các nhóm thảo luận với nhau để
+Ngô, khoai, bắp cải, bí.
+ Ngô, lúa , su su, sắn, mướp
- Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu
Cách tiến hành :
1. Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng từ,
nêu luật chơi. VD: Dựa vào những đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong
bộ bài (bảng từ) hãy sắp xếp các từ trong bộ bài thành 2; 4 nhóm.
2. Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày các quân bài ra, đọc một
lượt các từ rồi dựa đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động….(cũng là nghĩa
của từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm
hoặc dùng bút đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2)
3. Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại
được đúng và nhanh sẽ được khen thưởng (mỗi từ phân loại đúng được tính 1
thẻ đỏ)
Trò chơi áp dụng cho các tiết luyện từ và câu sách giáo khoa TV 2 tập 2.
- Tuần 23- T45 (bài tập 1)
- Tuần 26 - T73 (bài tập 1)
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra những điểm giống nhau
của sự vật mà từ gọi tên. Rèn trí thông
minh, khả năng phân tích, khái quát
nhanh của đối tượng.
10. Trò chơi: Ai đúng ai sai
Mục đích :
13
- Rèn kĩ năng dùng từ đúng, nhận biết được kết hợp từ (từ chỉ người, chỉ sự vật
với từ chỉ hoạt động…) phục vụ cho kiểu câu: Ai làm gì?
- Luyện phản ứng nhanh, nhạy, tập vận động.
Cách tiến hành:
- Nhóm người chơi không hạn chế số lượng, đứng tại chỗ trong lớp hoặc đứng
vòng tròn ngoài sân chơi.
- Giáo viên hô lên 1 từ (VD: Nhanh) và giơ tay chỉ định người chơi.
- Học sinh được chỉ định nêu được so sánh đúng (VD: nhanh như cắt, nhanh như
chớp, nhanh như tên bắn,…) thì đứng yên. Nếu không nói được hoặc nói sai, giáo
viên sẽ hô: "nhẩy", người đó sẽ phải nhẩy tại chỗ 3 lần hoặc nhẩy lò cò 1 đoạn.
- Tiếp tục chơi, giáo viên có thể hô lại từ đó (nếu còn cách so sánh nữa) hoặc hô
từ khác và chỉ định người thứ 2 chơi.
14
Hiệu quả của trò chơi: - Học sinh được luyện sử dụng từ ngữ bằng cách
tạo nhanh các cụm từ có hình ảnh so sánh đúng. Luyện phản ứng nhanh, trau dồi
trí tưởng tượng liên tưởng.
12. Trò chơi: Đặt câu theo tranh
Mục đích:
- Luyện cho học sinh biết dựa
vào ý mà các bức tranh gợi ra, đặt
được câu đúng ngữ pháp, đúng nội
dung tranh.
- Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý,
đặt câu, luyện tác phong nhanh
nhẹn.
Chuẩn bị :
- Tranh vẽ dùng để đặt câu theo
tranh đã được phóng to (theo sách giáo khoa TV 2).
- Các băng giấy, hồ dán để đính băng giấy lên bảng; bút dạ để viết câu lên băng
giấy.
- Tên các nhóm chơi ghi sẵn lên bảng lớp (khoảng 3; 4 nhóm chơi mỗi nhóm 3;
- Số học sinh tham gia không hạn chế.
Cách thực hiện:
- Giáo viên nêu ra một từ cần đặt câu và chỉ định 1 học sinh bất kỳ đứng lên
đặt câu. Nếu học sinh đặt câu đúng, giáo viên sẽ đưa ra 1 số từ khác để học sinh
đó chỉ định người tiếp theo đặt câu sai sẽ phải nhảy tại chỗ 5 lần. Giáo viên sẽ
chỉ người kế tiếp.
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh được rèn kĩ năng dùng từ đặt câu đúng ngữ pháp. Luyện phản
ứng nhạy, tác phong nhanh nhẹn.
14. Trò chơi: Thi đặt câu với từ cho trước
Mục đích:
- Rèn kĩ năng nói, viết câu
đúng mẫu: Ai là gì? có sự tương
hợp về nghĩa giữa thành phần chủ
ngữ và thành phần vị ngữ.
- Luyện óc so sánh, liên tưởng
nhanh, tác phong nhanh nhẹn.
Chuẩn bị :
- Giáo viên chuẩn bị một số từ
ngữ (danh từ, ngữ danh từ) phù hợp
với đối tượng học sinh lớp 2, phục
vụ cho việc dạy các bài tập đặt câu theo mẫu Ai là gì? trong sách giáo khoa TV2.
Cách tiến hành :
- Những người chơi chia thành từng cặp (2 người) hoặc thành 2 nhóm (A;
B) Người thứ nhất hoặc học sinh ở nhóm thứ nhất nêu vế đầu.
(VD: Học sinh) ; người thứ 2 (hoặc học sinh ở nhóm thứ 2) nêu vế thứ
(VD: Là người đi học). Sau đó 2 người (hoặc 2 nhóm) đổi lượt cho nhau. Người
nào (hoặc nhóm nào) không nêu được sẽ không nhận được thẻ đỏ. Hết giờ chơi,
ai hoặc nhóm nào được nhiều thẻ đỏ hơn sẽ thắng cuộc.
Các kiểu mẫu câu khác (Ai làm gì? Ai thế nào?…) có thể tiến hành tương
- Học sinh B :…
Hiệu quả của trò chơi:
- Học sinh được luyện sử dụng các câu nói phù hợp trong các tình huống
gián tiếp khác nhau.Tăng cường vốn sống, rèn khả năng nhập vai, ứng xử, sử
dụng lời nói đúng có văn hoá.
V. Những kết quả đạt được:
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn áp dụng các trò chơi phù hợp trong mỗi
bài tập, mỗi tiết dạy. Kết quả thu được là các em tiếp thu bài tốt, phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh , giúp các em học tập một cách tự
nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả. Chất lượng học sinh học môn Tiếng Việt nâng lên
rõ rệt. Câu văn của các em ít có từ dùng sai hơn. Đặc biệt rèn kĩ năng nói, diễn
đạt của các em rất mạch lạc, phong phú, tự nhiên. Nhiều câu văn hay, từ ngữ
''đắt'' gây sự bất ngờ thú vị, có sức gợi cảm lớn. Điều đó chứng tỏ vốn từ của các
em được nâng lên, các em biết sử dụng vốn từ một cách hợp lý hơn, sinh động
hơn. Sau mỗi giờ học gây được sự sảng khoái ham thích học tập.
Để có kết quả đối chiếu, tôi tiến hành khảo sát tại lớp 2B do tôi chủ nhiệm
và lớp 2A bên cạnh (không áp dụng tổ chức trò chơi). Kết quả khả quan:
Mức
Giải nghĩa từ
Đặt câu
đạt
Chưa
Hoàn
Hoàn
Hoàn
Chưa
Chưa
thành
Đạt
Lớp
kiên trì. Học sinh phải thực hành nhiều tạo thói quen, từ đó hình thành kĩ năng,
kĩ xảo. Tuỳ theo từng bài, từng đối tượng học sinh để có những phương pháp và
những hình thức trò chơi khác nhau, thích hợp, giúp học sinh nắm vững kiến
thức.
2. Đề xuất kiến nghị với các cấp:
Là một giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy cũng như năng lực sư phạm hạn
chế còn phải học hỏi và rèn luyện nhiều. Để nâng cao tay nghề vừa hồng vừa
chuyên cho bản thân, cũng như nâng cao chất lượng dạy và học tôi xin được đề
xuất, kiến nghị một số điểm sau:
* Đối với giáo viên :
- Phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của phân môn (củng cố và mở rộng vốn
từ, giải nghĩa từ, sử dụng từ) để có các hình thức tổ chức và phương pháp dạy
cho phù hợp, tránh dạy nhồi nhét, cứng nhắc áp đặt; mất hứng thú cho trẻ.
- Giáo viên phải tự trau dồi cho mình có kiến thức từ ngữ phong phú, ngôn
ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trong sáng gần gũi đời sống
ngôn ngữ trẻ thơ.
- Xác định rõ mục tiêu của tiết dạy để chuẩn bị bài dạy một cách chu đáo và
đầy đủ các phương tiện dạy học phục vụ cho bài dạy. ở mỗi bài dạy, giáo viên
phải xác định được: bài dạy cần những gì? và dạy như thế nào? Để tiết dạy nhẹ
nhàng, tự nhiên và hiệu quả từ đó lựa chọn phương pháp và cách tổ chức các trò
chơi phù hợp với nội dung bài học, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh
- Biết cung cấp chọn lọc vừa phải số lượng từ ngữ theo chủ đề, song cũng
phải biết lựa chọn những từ xa lạ không cần thiết với vùng địa lý, với cuộc sống
hàng ngày của trẻ chỉ mang tính chất cung cấp để tham khảo, khi cần dùng tới.
Coi trọng nguyên tắc dạy học vừa sức nhằm phát huy tiềm lực và năng khiếu
tiếng Việt ở mỗi học sinh.
- Phân loại đối tượng học sinh trong lớp (vốn từ, đặt câu…) để có biện pháp
giúp đỡ, động viện sự cố gắng của các đối tượng trong lớp.
- Biết lựa chọn hệ thống phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với nội
dung bài dạy và đối tượng học sinh trong lớp tạo nên sự hoạt động đồng bộ giữa
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Trần Anh Vân
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN THỊ XÃ BỈM SƠN
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 – Tập 1 + 2, Nhà xuất bản Giáo dục năm
2016.
2. Sách Giáo viên Tiếng Việt lớp 2 – Tập 1 + 2, Nhà xuất bản Giáo dục năm
2009.
3. Bài soạn Tiếng Việt lớp 2 – Tập 1 + 2, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2009.
4. Sách Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học. Nhà xuất bản Giáo dục năm
2010.
5. Sách tuyển tập các trò chơi trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Nhà xuất
bản Giáo dục năm 2008.
6. Sách phương pháp dạy trò chơi học tập cho học sinh Tiểu học. Nhà xuất
bản Giáo dục năm 2011.
20