Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 - Pdf 44

A- MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bậc Tiểu học là bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc
hình thành nhân cách ở học sinh. Mục tiêu giáo dục Tiểu học là “ Hình thành
cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở” (Điều 23 luật Giáo dục).
Chính vì xuất phát từ mục tiêu đó, Nghị quyết hội nghị lần 2 - BCH TW
Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “ Nâng cao chất lượng toàn diện bậc Tiểu học”.
Trong tổng số các môn học ở Tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm thời gian và
thời lượng nhiều nhất trong tất cả các môn học. Nó đảm nhận nhiệm vụ hình thành
năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực ấy được thể hiện trong 4 dạng
hoạt động tương ứng với chúng là 4 kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Trong đó Tập đọc
là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng của chương trình Tiếng Việt. Nó đảm
nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc cho học sinh- một kỹ năng quan
trọng hàng đầu của học sinh ở những lớp đầu bậc Tiểu học.
Đọc là một chìa khoá giúp học sinh mở cửa, khám phá và tiếp thu kho
tàng kiến thức của loài người, tìm hiểu những kinh nghiệm của đời sống, những
thành tựu văn hoá, khoa học, những tư tưởng tình cảm của con người. Đây cũng
chính là hành trang giúp học sinh hoà nhập giao tiếp với cộng đồng, hình thành
một nhân cách toàn diện. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì biết
đọc lại càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng và xử lí các nguồn thông
tin tốt hơn, có hiệu quả hơn.
Năng lực đọc được hình thành qua thực hành, nó được hình thành trong 2
hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm, trong đó đọc thành tiếng là hình
thức quan trọng hàng đầu, không thể thiếu trong quá trình luyện đọc.
Bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học, là một trong những người đặt nền
móng tri thức cho các em, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ trong từng bài dạy, tiết dạy
“ Dạy như thế nào để đem lại cho các em nhiều lợi ích thiết thực trong nghe,
đọc, nói, viết”. Không những dạy cho các em biết nói những lời hay mà còn phải
dạy cho các em đọc đúng, hiểu đúng, viết đúng.

Chính vì vậy, Trường tiểu học có nhiệm vụ dạy đọc cho học sinh một cách
có kế hoạch và có hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn
Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này. Đó là hình thành và
phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Thông qua việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy rằng khả
năng đọc là có ích cho và giúp các em trong cuộc sống. Phải làm cho học sinh
thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống
trí tuệ đầy đủ và phát triển.
Muốn đọc đúng, đọc diễn cảm thì trước hết giáo viên cần luyện phát âm
đúng cho học sinh. Phát âm chuẩn sẽ được nhiều cái lợi trước hết nó giúp học
sinh viết đúng chính tả sau đó còn giúp học sinh phát âm dễ dàng hơn khi học
ngoại ngữ và các môn học khác.
2.. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM:
1- Về phía nhà trường và giáo viên :
Trường TH&THCS Thị Trấn Quan Sơn, là một trường nằm ngay tại trung
tâm huyện Quan Sơn. Đây là một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, nên dân
cư chủ yếu là dân tộc Thái, Kinh, Mường,… Nên việc chăm lo đến việc học của
con em chưa được quan tâm chu đáo. Điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.
Qua việc dự giờ, tìm hiểu quả trình dạy Tập đọc của anh chị em đồng nghiệp,
và các trường bạn tôi nhận thấy nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất lượng
dạy Tập đọc chưa tốt và cũng chính là những hạn chế của giáo viên, đó là một số
giáo viên của chúng ta vẫn còn thiếu hụt các kỹ năng đọc, vì vậy không làm chủ
được các kỹ năng dạy Tập đọc, nhiều giáo viên đọc không đúng chính âm hoặc đọc
không hay, không diễn cảm, chưa thể hiện được giọng đọc của nhân vật, hiểu
không đúng những điều đã được đọc từ cấp độ câu, đoạn và cả nội dung, đích
thông báo của toàn văn bản. Giáo viên ít nhiều còn thiếu hụt các kỹ năng dạy học
Tập đọc, không làm chủ được các phương pháp, thủ pháp dạy Tập đọc ở tiểu học.
Một số giáo viên chưa biết chữa các lỗi phát âm cho học sinh, chưa có biện pháp


Hoàn thành

Chưa hoàn thành

HS
28

SL

TL

SL

TL

16

57,2%

12

42,8%

Bảng 1: Bảng thống kê kết quả khảo sát của tổ chuyên môn ở lớp 1
( vào cuối tháng 9 )
Với thực trạng đã làm tôi băn khoăn, trăn trở, thôi thúc tôi cố gắng tự học,
tự tìm tòi, nghiên cứu tìm ra phương pháp dạy và hình thức dạy để rèn kĩ năng
đọc bằng nhiều cách, giúp cho học sinh đọc tốt hơn, hay hơn và tự tin hơn khi
đọc bài trước mọi người và đấy cũng chính là giúp cho các em có khả năng nói
và giao tiếp tốt hơn.

đến sách 25-30 cm, cổ và đầu thẳng, thở chậm, thở sâu để lấy hơi. Khi đứng lên
đọc, phải bình tĩnh, tự tin, đứng dậy không được hấp tấp đọc ngay mà phải để có
thời gian tạo tâm thế. Thỉnh thoảng, tôi gọi học sinh lên bảng đọc để đối diện với
tất cả các bạn, tạo cho học sinh sự tự tin đồng thời tôi sửa luôn tư thế đọc cho
học sinh, vừa đàng hoàng, thoải mái, sách mở rộng và cầm bằng hai tay có như
thế mới giúp cho quá trình đọc thành tiếng được tốt hơn.
Biện pháp 3: Hướng dẫn luyện đọc đúng :
3.1- Đọc đúng phụ âm :
Do tình hình đặc điểm của ngôn ngữ địa phương, tôi thấy học sinh lớp tôi hay
đọc sai phụ âm r, s, tr . Khi luyện đọc cho học sinh, trước khi lên lớp tôi thường đọc kĩ
bài đọc để dự tính lỗi học sinh hay mắc và đề ra phương án sửa lỗi. Đối với các âm
khó, tiếng khó, từ khó đọc, tôi giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, tìm ra lỗi phát âm

5


sai ở âm hay vần hay thanh tôi sẽ đọc mẫu các tiếng này, từ này cho học sinh đọc theo,
nếu học sinh vẫn đọc sai, tôi sẽ mô phỏng cách phát âm.
Ví dụ :
+ Để đọc đúng các phụ âm r, tr cần chú ý: không bật hơi , đầu lưỡi cong
trong các tiếng: rễ, rổ rá, rô (cá rô) - (Bài 19 trang 40 Tiếng Việt 1, tập 1); tre
(tre ngà), trê (cá trê), trí (trí nhớ), trẻ (nhà trẻ) - (Bài 26 trang 54 TV 1, tập 1) .
+ Để đọc đúng âm s cần chú ý: không bật hơi , lưỡi cong trong các tiếng:
sẻ, su su, số (chữ số) - (Bài 19 trang 40 Tiếng Việt 1, tập 1)…
3.2- Đọc đúng nguyên âm :
Học sinh ở vùng miền núi thường đọc đúng các nguyên âm đôi, nhưng ở
địa bàn Thị Trấn dân cư có đầy đủ các dân ở huyện miền xuôi lên làm ăn, công
tác, đặc biệt các em thuộc các huyện miền xuôi của tỉnh Thanh Hóa, khi đọc các
nguyên âm đôi thì các em thường bỏ đi một âm và ngược lại khi đọc nguyên âm
đơn lại thêm vào 1 âm.

Để đọc đúng và hay một văn bản thì cần phải biết ngắt nghỉ đúng chỗ, phù
hợp với nội dung, cấu trúc của từng câu. Học sinh phải nhận biết được dấu hiệu
của câu để ngắt nghỉ, có khi dấu hiệu của câu là dấu câu nhưng cũng có khi nó
được thay bằng từ chỉ quan hệ. Vì thế, khi luyện đọc tôi giúp học sinh dựa vào
các dấu hiệu (dấu câu) để ngắt nghỉ hoặc sau một số cụm từ có nghĩa
(giáo viên đọc mẫu cho học sinh nghe và phát hiện chỗ cần ngắt nghỉ).
Ví dụ 1: “ Mùa thu, bầu trời như cao hơn. Trên giàn thiên lí, lũ chuồn
chuồn ngẩn ngơ bay lượn” (Bài 50 – trang 103 Tiếng Việt 1, tập 1 )
Ở ví dụ trên ngắt hơi ở dấu phẩy, ngắt hơi ở chủ ngữ và nghỉ hơi ở dấu chấm.
Đó là: “Mùa thu,/ bầu trời/ như cao hơn.// Trên giàn thiên lí,/ lũ chuồn
chuồn/ ngẩn ngơ bay lượn.”//
Vì vậy trước khi dạy một bài ứng dụng trong tiết Học vần cụ thể, tôi dự tính
những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định cách ngắt giọng đúng cho các em.
Với những câu dài không có dấu phẩy hay những câu văn tuy không dài
nhưng học sinh khó xác lập được các quan hệ ngữ pháp, cái đích thông báo .
Ví dụ 2: “Vầng trăng hiện lên sau rặng dừa cuối bãi. Sóng vỗ bờ rờ rào, rì rào.”
(Bài 53 Tiếng việt 1, tập 1, trang 109)
Ở bài ứng dụng này, khi dạy tôi sẽ hướng dẫn học sinh ngắt giọng dựa vào
ý nghĩa của câu, chủ thể của câu để làm nổi bật nội dung thông báo của câu .
Đó là :Vầng trăng/ hiện lên/ sau rặng dừa cuối bãi.// Sóng vỗ bờ/ rì rào,/ rì rào.//
Ví dụ 3 : “Mẹ gà mừng rỡ “tục, tục” dắt bầy con quây quanh vũng nước đọng
trong vườn ” (Bài “Sau cơn mưa”- Theo Vũ Tú Nam , TV1, tập 2, trang 124)
Để làm nổi bật nội dung thông báo của câu văn, tôi hướng dẫn học sinh ngắt
giọng như sau:
“Mẹ gà mừng rỡ “tục,/ tục” / dắt bầy con/ quây quanh vũng nước đọng trong
vườn //.”
Khi đọc thơ, việc ngắt giọng trong khi đọc không chỉ phụ thuộc bởi dấu
câu (ngắt giọng lôgíc) mà còn căn cứ vào tình tiết, nhịp điệu của thơ ca. Học
sinh đọc hay mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo áp
lực của nhạc thơ. Dường như học sinh sẽ ngắt nhịp tạo ra sự cân đối về mặt âm

giọng của các câu thơ, câu văn dài. Nếu gặp những câu khó, tôi sẽ đọc mẫu cho
học sinh nghe và học sinh khá giỏi tự phát hiện chỗ ngắt nghỉ đúng trong các
cây này. Sau đó học sinh sẽ luyện đọc cá nhân, đọc theo bàn, đọc theo tổ, đọc
đồng thanh từng câu. Cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh cả bài.
Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh đọc có ngữ điệu phù hợp.
Ngữ điệu đọc bao gồm những dấu hiệu biến đổi về ngữ âm trong khi đọc
như: tiết tấu của giọng đọc (kĩ thuật ngắt giọng đã nói ở trên), nhịp điệu đọc
(dồn dập hay chậm rãi), cường độ đọc (to hay nhỏ, nhấn giọng hay lướt qua),
cao độ đọc (giọng đọc trầm hay bổng, lên cao hay xuống thấp), sắc thái giọng
đọc (thông qua giọng đọc thể hiện những sắc thái tình cảm khác nhau của con
người như: buồn, vui…)
5.1 - Đọc đúng kiểu câu :
Song song với việc luyện ngắt nghỉ để đọc đúng câu, tôi còn giúp học sinh
luyện đọc đúng ngữ điệu câu. Lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể thay
đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu.
8


Ví dụ1: “Mẹ có yêu không nào? ” (Bài 64, trang 131 TV1, tập 1)
Ở câu này, tôi hướng dẫn học sinh lên giọng ở tiếng ”nào” để biểu lộ sự
nũng nịu của bé và sự âu yếm của mẹ.
Ví dụ 2: “- Cắt đuôi? Ấy chết...!
Tôi đi học thôi! ”
(“Mèo con đi học”- Theo P.Vô- rôn- cô, trang 103TV1, tập 2)
Đây là những câu thơ cuối của bài liên tiếp ba kiểu câu- câu cảm, câu khiến, câu
hỏi. Để diễn tả đầy đủ ý nghĩa giáo dục của bài thơ, tôi hướng dẫn học sinh đọc nhấn
giong ở tiếng”đuôi”, thấp giọng và hơi kéo dài tiếng”chết” đúng với tâm trạng của chú
mèo: chưa chăm học, ngây ngô tìm cớ cái đuôi của mình bị ốm để nghỉ học nhưng đã bị
Cừu điều trị bằng cách “cắt đuôi” khiến chú đã đi học trở lại.
Tuy nhiên tôi cũng lưu ý học sinh không nên cường điệu khi thể hiện ngữ

5.3- Hướng dẫn học sinh biểu hiện nét mặt, điệu bộ trong khi đọc.
Tư thế, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt của người đọc là những yếu tố
kèm ngữ điệu, được sử dụng kết hợp với giọng đọc, tạo nên sự giao cảm giữa
người đọc với người nghe, tạo nên hiệu quả tiếp nhận tốt hơn ở người nghe.
Khi đọc những văn bản vui, tôi dặn học sinh cần nhoẻn miệng cười trước
khi đọc và khi đọc thì mắt nhìn về phía người nghe, có khi tôi làm mẫu cho học
sinh quan sát nhận xét thấy rõ hiệu quả của việc làm để các em thực hành.
Ví dụ 1:

“ Ai trồng cây
Người đó có tiếng hát
Trên vòm cây
Chim hót lời mê say.”
(Bài 68 TV1 tập 1, trang 139)

Với khổ thơ này, khi đọc tôi hướng dẫn các em rạng ngời nét mặt, ánh mắt
tươi vui sẽ lôi cuốn người nghe có nhu cầu muốn trồng cây.
Ví dụ 2:

“ Vì bây giờ mẹ mới về ”

Cậu bé cắt bánh bị đứt tay nhưng không khóc. Mẹ về, cậu mới khóc òa
lên. Mẹ cậu hoảng hốt:
- Con làm sao thế?
- Con bị đứt tay.
- Đứt khi nào thế?
- Lúc nãy ạ.
- Sao đến bây giờ con mới khóc?
- Vì bây giờ mẹ mới về.
(TV1, tập 2, trang 88)

nghe. Còn khi học sinh bị lỗi đọc nhỏ quá, tôi thường nhắc các em nâng cao
giọng đọc, mở rộng vòm họng, mở to miệng khi đọc. Nếu chưa thực hiện được,
tôi tập cho các em đọc to khi nào bạn ở xa nhất lớp nghe được mới thôi.
Khi luyện đọc tôi cho học sinh nhận xét giọng đọc của bạn, giải thích vì
sao đọc như thế là hay? là chưa hay? Tôi tổ chức cho học sinh thi đọc theo tổ
và cho học sinh nhận xét tìm ra giọng đọc đúng và hay nhất. Cứ như vậy, dần
dần học sinh lớp tôi học tốt hơn.
Để giúp học sinh luyện đọc thành tiếng đạt hiệu quả cao, tôi nghĩ người
giáo viên còn phải thật chú ý quan sát cách đọc của học sinh, có như vậy, cô
giáo mới phát hiện ra chỗ nào học sinh đọc đúng, chỗ nào đọc sai để tìm ra cách
sửa chữa. Giáo viên không nên nhận xét chung mà phải nhận xét cụ thể giọng
đọc của từng học sinh. Làm được như vậy thì kết quả luyện đọc cho học sinh
mới đạt kết quả cao.
Luyện đọc thành tiếng yêu cầu phải có thời gian thực hiện luyện tập lâu
dài và kiên trì. Vì thế tôi không chỉ tập luyện đọc thành tiếng cho học sinh trong
các giờ Học vần, Tập đọc mà tôi còn lồng ghép dạy vào tất cả các môn học.
Ví dụ: Khi dạy Toán, tôi gọi học sinh đọc đề toàn và yêu cầu các em phải
đọc to, rõ ràng, ngắt nghỉ đúng thì người đọc và người nghe mới hiểu được yêu
cầu của đề. Hay đọc yêu cầu của bài tập trong các môn khác như môn Đạo đức,
11


Tự nhiên Xã hội… Tôi luôn hướng cho học sinh muốn trình bày một ý kiến thì
phải có thói quen chững chạc, tự tin, nói to, dõng dạc để cả lớp cùng nghe. Như
vậy nên tất cả học sinh lớp tôi đều có kỹ năng luyện đọc thành tiếng rất tốt.
Tóm lại, khi học sinh biết thực hiện tốt các hướng dẫn trên của giáo viên
thì tôi tin rằng các em đã biết đọc diễn cảm, học tốt môn Tiếng Việt nói riêng và
còn học tốt các môn học khác, làm nền tảng cho chất lượng mũi nhọn, là hạt
nhân của nhà trường.
Biện pháp 7: Sử dụng phương pháp dạy học theo kiểu phân hóa các

12


đã động viên học sinh nên tìm tòi, sưu tầm các cuốn sách, báo, truyện phù hợp
với lứa tuổi để đọc và tìm hiểu thêm. Cuối tuần vào tiết sinh hoạt lớp các nhóm
sẽ báo cáo kết quả trong tuần nhóm đã đọc được bài nào. Đại diện nhóm sẽ thi
đọc với nhau và tôi thường có những phần thưởng nhỏ để thưởng kịp thời cho
nhóm có kết quả tốt nhất.
Bên cạnh đấy, tôi cũng thường xuyên sưu tầm thêm sách báo truyện thiếu
nhi và mượn ở thư viện nhà trường để cho các em đọc vào các tiết sinh hoạt 15
phút, giờ sinh hoạt ngoại khóa, ra chơi. Cũng chính nhờ những việc làm nhỏ
này, mà tôi đã khích lệ được tinh thần luyện đọc trong toàn lớp.
Biện pháp 9:Tổchức trò chơi để luyện đọc và mở rộng vốn từ cho học sinh.
Đây là một hình thức mà tôi thường xuyên áp dụng vào các tiết dạy Học
vần, Tập đọc vì tôi thấy mỗi lần tổ chức các trò chơi thì không khí lớp học sôi
nổi hẳn lên, các em trở nên rất hào hứng với tiết học. Cụ thể tôi thường tổ chức
các trò chơi bằng các hình thức sau:
Cuối tiết 1 của bài Học vần tôi thường tổ chức cho học sinh chơi trò chơi
“Tìm nhanh tiếng mới?” với nội dung: tìm tiếng (từ) mang âm (vần) đã học. Sau đó
cho đọc các từ vừa tìm được, giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của từ. Trò chơi này
giúp học sinh mở rộng vốn từ và củng cố âm (vần) các em vừa học.
Bài 80: iêc- ươc

Ví dụ:

Tôi nêu tên trò chơi “ Tìm nhanh từ mới có vần iêc- ươc”, phổ biến luật chơi,
tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: học sinh nêu từ , giáo viên ghi bảng (từ học sinh
vừa nêu kèm theo tên học sinh bên cạnh), tổng hợp xem ai tìm được nhiều từ đúng
thì bạn đó chiến thắng. Tôi ghi bảng như sau:
iêc


“ Kể cho bé nghe ”
13


(trích)
Học sinh A:

Hay nói ầm ĩ

Học sinh B:

Là con vịt bầu.

…….

Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện.
Hay chăng dây điện
Là con nhện con.
Ăn no quay tròn
Là cối xay lúa.
Mồm thở ra gió
Là cái quạt hòm.
Không thèm cỏ non
Là con trâu sắt.
Rồng phun nước bạc
Là chiếc máy bơm.
Dùng miệng nấu cơm
Là cua, là cáy....

tiến bộ khéo léo động viên những học sinh đọc chưa tốt để các em có niềm tin,
chí hướng vươn lên.
Đặc biệt vào lớp học tôi thường xuyên chú ý đến ánh sáng sao cho các em
có đủ ánh sáng cho việc học bằng việc bật bóng điện, mở rộng tất cả cửa phòng
học, học sinh có khuyết tật về mắt thì tôi cho ngồi bàn đầu, học sinh nhỏ thì ngồi
trên, học sinh lớn thì ngồi bàn dưới.
Đối với việc phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường:
- Ngay từ đầu năm học, trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã thông
qua chất lượng khảo sát đọc của học sinh để phụ huynh nắm được trình độ đọc
của con em mình
- Tôi hướng dẫn học sinh cách giúp cho các em đọc đúng và lưu ý phụ
huynh cần chú ý cách đọc đúng các âm, vần, dấu thanh.
- Tôi thường xuyên thông báo sự tiến bộ hoặc chưa tiến bộ cuả từng em thông
qua sổ liên lạc, qua họp phụ huynh các kỳ, hoặc gặp gỡ trao đối với phụ huynh
- Tôi động viên phụ huynh nên mua thêm các sách, báo truyện thiếu nhi
để các em đọc thêm ở nhà.
- Ngoài ra tôi còn vận động những phụ huynh có điều kiện tài trợ vật chất
để mua vở tặng học sinh đọc tốt, đọc có tiến bộ sau mỗi đợt kiểm tra.
Nhờ công tác phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường và việc tạo
môi trường thuận lợi mà quá trình rèn đọc cho học sinh của tôi gặp rất nhiều
thuận lợi và nhiều em có tiến bộ rõ rệt.
4. HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Qua một năm học thực hiện các biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1.
Tôi nhận thấy việc rèn đọc cho học sinh phải được thực hiện một cách thường
xuyên, liên tục. Với những biện pháp cụ thể nêu trên, tôi đã nỗ lực cố gắng
trong suốt năm học vừa qua, kết quả thật đáng phấn khởi không phụ lòng
mong đợi của tôi cũng như Ban giám hiệu nhà trường và các bậc phụ huynh
học sinh. Qua kiểm tra chất lượng thực của Ban giám hiệu nhà trường, lớp tôi
có kết quả như sau:
15

\

16


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN:
Qua một năm học, với sự nỗ lực của mình và sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường,
tổ chuyên môn , sự kết hợp chặt chẽ của phụ huynh tôi đã thu được kết quả rất đáng khích lệ.
Sau khi nghiên cứu và thực hành trên lớp dạy của mình, tôi đã rút ra những bài học kinh
nghiệm để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh Tiểu học như sau :
- Một là: Giáo viên phải có giọng đọc mẫu chuẩn vì đó là một trong những biện pháp
dạy học có tác dụng tốt nhất.
- Hai là: Biết quan sát cách đọc của học sinh, biết tái hiện lời đọc của học sinh đối chiếu
với lời đọc mẫu để tìm ra lỗi và sửa lỗi cho học sinh.
- Ba là: Trước khi lên lớp giáo viên phải dự tính trước các lỗi mà học sinh hay mắc để
từ đó đưa ra phương án đúng để chữa các lỗi.
- Bốn là: Tạo cho giờ học nhẹ nhàng, thoải mái, gần gũi học sinh. Nhận xét giọng đọc
của học sinh chính xác. Tuyệt đối không phê phán gay gắt những học sinh đọc sai, khen chê
đúng lúc, kịp thời giúp học sinh tự tin, thoải mái khi luyện đọc.
- Năm là: Lồng luyện đọc cho học sinh trong tất cả các môn học, trong giao tiếp hằng
ngày.
2. KIẾN NGHỊ:
2.1. Về giáo viên:
- Phải thực sự tâm huyết với nghề. Luôn tìm tòi, học hỏi trau dồi kiến thức, chuyên môn. Phải
biết vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học. Giáo viên cần kiên trì, nhẫn nại,
thường xuyên học hỏi kinh nghiệm. Nắm vững quan điểm dạy học, chương trình, nội dung dạy
học.
2.2. Về chuyên môn:
Thường xuyên thăm lớp dự giờ để rút kinh nghiệm cho giáo viên, nâng cao chất lượng

Nhà xuất bản Giáo Dục
4. SGV Tiếng Việt 1 ( Tập 2). Tác giả: Đặng Thị Lanh ( chủ biên) – Hoàng
Hòa Bình – Hoàng Cao Cương – Trần Thị Minh Phương – Nguyễn Trí.
Nhà xuất bản Giáo Dục.

STT

Nội dung

Trang

19


1

A. Mở đầu

1

2

1. Lí do chọn đề tài

1

3

2.Mục đích nghiên cứu


3

9

3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

4

10

4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

15

11

C. Kết luận, kiến nghị

17

MỤC LỤC

20


STT

Nội dung

Trang


6

B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

3

7

1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

3

8

2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

3

9

3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

4

10

4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

15


trang 2

II. Các biện pháp thực hiện

trang 3

III. Kết quả

trang 15

C. Kết luận

trang 17

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status