MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP
Tác giả: Nguyễn Kiều Thu Trang
Đơn vị: Tiểu học An Định 2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI:
Đọc là hoạt động nhận tin. Hoạt động đọc chỉ xảy ra khi người đọc nắm
được chữ viết. Trong trường tiểu học, phân môn tập đọc giữ vai trò chủ đạo, rèn
kĩ năng đọc thành tiếng với các mức độ đọc đúng, đọc rõ ràng rành mạch, đọc lưu
loát,… Bên cạnh đó là rèn kĩ năng đọc hiểu. Đây là cái đích lớn của việc dạy học.
Ngoài ra phân môn tập đọc còn có yêu cầu đọc diễn cảm, đọc diễn cảm thể hiện
trình độ đọc và năng lực cảm thụ văn bản của học sinh. Đọc diễn cảm tốt tức là
người đọc đã hiểu và truyền thụ được một phần nội dung và cảm xúc bài văn tới
người nghe mà chưa cần giảng giải.
Hiện nay do chất lượng cảm thụ văn học của học sinh còn hạn chế, một số
em đọc chưa rành mạch nên cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng đọc, đây là vấn
đề mà người giáo viên đang quan tâm
II. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Môn Tiếng việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo, việc dạy
Tiếng việt trong nhà trường nhằm tạo cho các em năng lực sử dụng Tiếng việt đáp
ứng nhu cầu của cuộc sống. Tập đọc là phân môn có ý nghĩa quan trọng trong
chương trình giảng dạy môn Tiếng việt ở tiểu học. Học tốt tập đọc không những
giúp rèn kĩ năng đọc – nghe – nói – viết, mà còn tạo điều kiện cho HS học tốt các
môn học khác. Cuối bậc tiểu học yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải đạt được là
đọc thông viết thạo, trước hết là đọc đúng tiến tới đọc hay trên cơ sở hiểu và cảm
thụ các văn bản nghệ thuật được chọn đưa vào sách HS.
- Trong chương trình Tiếng việt, phân môn Tập đọc giữ vai trò đặc biệt
quan trọng, hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho HS ở cấp học đầu tiên này.
Cuối cấp tiểu học, yêu cầu tối thiểu mà HS phải đạt được là đọc thông, viết thạo,
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học
môn Tiếng việt ở tiểu học.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Môn Tiếng việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở
tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình. Việc dạy Tiếng việt trong nhà trường
nhằm tạo cho các em có năng lực sử dụng Tiếng việt văn hóa để suy nghĩ, giao
tiếp và học tập. Cuối bậc tiểu học yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải đạt được là
đọc thông viết thạo. Dạy học tiếng việt ở bậc tiểu học là bốn hoạt động nói – nghe
và đọc – viết.
Ở tiểu học môn tiếng việt được chia thành nhiều phân môn khác nhau và
tập đọc là một trong những phân môn đó. Phân môn tập đọc được hình thành trên
cơ sở cung cấp kiến thức cơ bản để hình thành kĩ năng sử dụng Tiếng việt, đáp
ứng yêu cầu cuộc sống và giao tiếp bằng ngôn ngữ. Góp phần hình thành kĩ năng
đọc cho HS thông qua bài đọc cụ thể, trước hết là đọc đúng tiến tới đọc hay trên
cơ sở hiểu và cảm thụ văn bản nghệ thuật. Năng lực cảm thụ văn học được hình
thành từ việc học sinh đọc diễn cảm bài đọc. Đọc diễn cảm giúp HS khám phá ra
cái hay, cái đẹp của văn chương. Phân môn tập đọc phụ thuộc nhiều vào vốn
sống của các em, nên muốn học tốt trước hết phải bồi dưỡng vốn sống cho các
em, có vốn sống các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp nhận tác phẩm, và
giáo viên là người gợi mở dẫn dắt cho sự tiếp xúc của HS với tác phẩm.
Trên cơ sở đọc thông viết thạo hiểu được văn bản, kết hợp với đọc biểu
cảm, bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành nhân cách con người.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
- Đa số học sinh đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng tối thiểu được qui
định hướng giáo dục đã chuẩn bị trước. Qua giờ tập đọc học sinh bộc lộ mình,
nâng cao năng lực đọc, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn bản,
qua đó mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người,.. Để đạt được điều đó,
giáo viên cần chuẩn bị hệ thống các thao tác, hoạt động, hệ thống câu hỏi… tác
động tới mọi đối tượng học sinh. Đọc phải trở thành nghĩa vụ và quyền lợi của tất
cả mọi học sinh trong nhà trường.
Để giúp học sinh có kĩ năng đọc thành thạo, GV cần:
- Xác định mục đích yêu cầu rèn kĩ năng đọc cần đạt, chuẩn bị các đồ dùng
học tập cần sử dụng. Dùng từ điển HS hoặc các sách công cụ để tra cứu, ghi chép
thông tin.
- Giới thiệu bài: Có thể giới thiệu bằng lời một cách hấp dẫn hoặc giới thiệu
bằng lời kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan, tạo hứng thú học tập cho HS.
- Luyện đọc đúng: Đây là khâu đầu tiên của việc thâm nhập văn bản, tạo cơ
sở cho HS đọc diễn cảm tốt.
+ Cần chú ý giữa quan hệ đọc mẫu của thầy và luyện đọc của trò, giữa đọc
cá nhân, đọc nhóm, giữa đọc từng đoạn và đọc toàn văn bản.
+ Với những em đọc chưa rành mạch, tốc độ đọc chậm người giáo viên
cần tạo điều kiện các em được đọc nhiều bằng các hình thức: Nhắc nhở tự luyện
đọc ở nhà, thường xuyên gọi đọc trên lớp, xây dựng đôi bạn học tập, hoặc gọi đọc
đề bài các môn học khác như: đề toán, đề LTVC, tổ chức thi đọc, động viên các
em đọc sách hay xem truyện, …
- Tìm hiểu bài: Đọc và cảm thụ là hai hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ
nhau, vì vậy để HS đọc diễn cảm tốt trước hết phải giúp các em cảm thụ được
văn bản.
+ Xác định ý chính của đoạn, bài thông qua việc trả lời các câu hỏi.
Muốn vậy giáo viên giúp HS tìm hiểu các từ ngữ, hình ảnh đặc sắc, các biện pháp
nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong bài đọc.
+ Bồi dưỡng cho HS các kiến thức về phân môn LTVC, TLV từ đó
Hoặc trong câu: “ Những đám mây nhỏ sà xuống cửa kính ô tô / tạo nên
cảm giác bồng bềnh huyền ảo. //
( Đường đi Sa Pa – Nguyễn Phan Hách)
Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe phát hiện chỗ cần ngắt là sau từ : “ô
tô”
+ Tập cho HS tự phát hiện chỗ cần ngừng nghỉ hay ngắt nhịp, bằng hình
thức cá nhân hay trao đổi thảo luận tìm ra chỗ ngắt nghỉ phù hợp.
+ Đối với thơ giáo viên cần hướng dẫn HS cách nhận biết thể thơ để tìm ra
cách ngắt giọng phù hợp. Lưu ý HS về giọng đọc
Ví dụ: Thơ lục bát thì nhịp thơ phổ biến là: 2/4 và 4/4, thể thơ thất ngôn
nhịp phổ biến là 4/3, thơ tự do nhịp thơ phụ thuộc vào ý nghĩa ngữ pháp của mỗi
dòng thơ, câu thơ, với thể thơ tự do GV có thể gợi mỡ cho các em.
+ Ngắt giọng biểu cảm thông qua hiểu và cảm thụ văn bản, cách ngắt
giọng biểu cảm tạo cho người nghe sự tập trung chú ý và góp phần tạo nên hiệu
quả nghệ thuật cao hơn.
Ví dụ:Trong câu thơ:
Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh / tre mãi / xanh màu tre xanh.
Từ việc HS hiểu qua bài thơ tác giả muốn ca ngợi cây tre Việt Nam. Cách
dùng điệp từ, điệp ngữ ( mai sau, xanh) thể hiện sự kế tiếp liên tục của các thế hệ
- tre già, măng mọc. GV gợi ý để HS ngắt nhịp thế nào làm nổi bật sự kế tiếp liên
tục, và học sinh phát hiện ngắt giọng sau dấu phẩy kết thúc mỗi dòng thơ
+ Phát huy năng lực sáng tạo của HS. Trên cơ sở cảm thụ văn bản, khuyến
khích các em thể hiện giọng đọc sáng tạo của mình sao cho phù hợp với nội dung
văn bản.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Thông qua các biện pháp thực hiện, học sinh trở nên ham thích học và đọc
tốt môn tập đọc. Học sinh không những đọc rành mạch, trôi chảy mà còn đọc diễn
cảm bài đọc.
Nâng cao chất lượng môn Tiếng việt, đặc biệt là đọc đúng, lưu loát.
PHẦN KẾT LUẬN
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Hiệu quả tiết tập đọc phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng đọc của HS và quá trình
chuẩn bị của các em, đồng thời phụ thuộc vào nội dung phương pháp giảng dạy
của giáo viên. Vì vậy để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh giáo viên cần:
- Chú trọng rèn luyện cho HS 4 kĩ năng nghe- đọc- nói- viết
- Bên cạnh tổ chức học sinh đọc thơ, thi đọc diễn cảm, thi kể chuyện,…
nhằm
bồi dưỡng vốn sống, tâm hồn cho các em
- Tạo cho HS niềm say mê văn học, tạo hứng thú đọc diễn cảm cho HS.
Xây dựng hứng thú và thói quen đọc sách cho học sinh, để giúp các em rèn kĩ
năng đọc.
- Củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm và đọc diễn cảm
- Rèn kĩ năng đọc – hiểu
- Cung cấp và mở rộng vốn sống.
- GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài nhằm mục đích trao dồi kĩ năng đọc
hiểu, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn học và tạo cơ sở cho HS luyện đọc
đóng góp chân tình.
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNH KIẾN KINH NGHIỆM:
- Khắc phục tình trạng học sinh đọc không rành mạch, lưu loát.
- Giúp học sinh đọc tốt và học tốt phân môn Tiếng việt kể cả các môn học
khác.
- Góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt và bồi dưỡng vốn sống
cho các em.
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI:
- Triển khai và ứng dụng trong tổ qua các lần họp tổ chuyên môn, thao
giảng và dự giờ đóng góp rút kinh nghiệm.
- Khảo sát chất lượng thực tế ở học sinh lớp bốn.
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT: Không
* TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tạp chí giáo dục
- Thế giới trong ta.