Hướng dẫn học sinh lớp 9 cách làm bài nghị luân văn học có hiệu quả - Pdf 44

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
cố thủ tướng phạm văn Đồng từng nói: ''văn học là một hình thái ý thức
xã hội, là môn nghệ thuật vận dụng ngôn từ một cách tài tình và sáng tạo để
nhận thức và phản ánh đời sống xã hội để biểu hiện tâm lí, tư tưởng con người.
Văn học đã trở thành công cụ để giáo dục con người, cải tạo xã hội rất mạnh
mẽ, nó là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén có tác dụng to lớn, sâu rộng và bền bỉ
mà lịch sử loài người từ trước đến nay đã xác nhận''[1] .văn học ''chắp đôi
cánh'' để các em vươn tới thời đại văn minh với mọi nền văn hóa, xây dựng cho
các em niềm tin vào cuộc sống con người, trang bị cho các em vốn sống, hướng
các em tới đỉnh cao của chân -thiện- mĩ.
Vì vậy môn Ngữ văn trong nhà trường có vị trí rất quan trọng, nó không
những cung cấp cho các em kiến thức về tác phẩm văn học mà còn có giá trị
cao trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. như vậy
môn Ngữ văn ''dạy sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ''. không dừng lại ở đó
mà nó còn trang bị cho các em khả năng tiếp nhận văn học một cách có lí luận
và tiếp nhận văn học một cách văn học. Dạy học không phải là ''rót'' kiến thức
vào'' bình chứa ''mà quan trọng là phải làm sao để trang bị cho các em phương
pháp nghiên cứu, học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề để các em hiểu và
vận dụng được tốt hơn. Để đọc hiểu tác phẩm văn chương đòi hỏi ở người đọc
không chỉ là trực quan thẩm mĩ, thưởng thức, rung cảm mà còn ở khả năng phân
tích, lí giải, nhìn nhận vấn đề. Mục đích cuối cùng và cao nhất của dạy học văn
trong nhà trường là phát triển toàn diện học sinh. Điều đó đặt ra một yêu cầu là
tăng cường tính thực hành, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức
phong phú, sinh động của cuộc sống.
Thế hệ học sinh ngày nay rất ít em có hứng thú trong việc học văn, có em
chưa nắm được vai trò quan trọng của môn Ngữ văn trong đời sống và phát triển
tư duy của con người. vì thế đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức vừa hiệu
quả, vừa tạo được hứng thú cho các em đối với môn ngữ văn là rất cần thiết.
Vậy nhiệm vụ của giáo viên ngữ văn là phải làm cho học sinh hiểu được cái hay,
cái đẹp của tác phẩm văn học, kích thích hứng thú học văn ở các em. Vì vậy, để

Xuất phát từ tình hình trên, qua thực tế giảng dạy, tôi luôn trân trọng, đánh
giá cao những bài làm văn có nét riêng, thể hiện cảm xúc chân thật, phân tích
tinh khôi, sáng tạo của các em đối với tác phẩm. Đó cũng chính là nguồn động
viên giúp tôi tổng kết kinh nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học của giáo viên và học sinh . Qua đây tôi xin được góp tiếng nói, một ý kiến
nho nhỏ của bản thân trong việc: Hướng dẫn học sinh lớp 9 cách làm bài nghị
luận văn học có hiệu quả.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện, nắm
được những kĩ năng cơ bản của kiểu bài nghị luận văn học, tôi muốn các em có
được những kiến thức thành thạo để vận dụng vào việc làm bài văn nghị luận
văn học một cách hiệu quả . Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã
hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến kĩ năng làm bài.
- Nhận diện, phân loại các dạng đề.
- Hiểu được phương pháp, cách thức làm kiểu bài nghị luận văn học.
- Luyện tập một số đề để rèn kĩ năng làm bài.
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên trong trường tham
khảo khi dạy Nghị luận văn học hoặc ôn thi học sinh giỏi cho học sinh.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Văn nghi luận; Học sinh lớp 9 Trường THCS Thạch Định - Năm học
2015- 2016 và Năm học 2016-2017
1.4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
2


người giáo viên dạy học sinh phương pháp làm văn nghị luận không thể nghèo
nàn cảm xúc. Bởi những trang thơ, trang văn hay đều có những số phận nhân
vật, cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm phong phú, đa dạng. Cho nên
hướng gợi ý cho học sinh cảm nhận, đánh giá phải xuất phát từ những rung cảm
chân thật, thẩm mĩ, phát huy tính tích cực sáng tạo của từng học sinh chứ không
gò ép theo khuôn mẫu. người giáo viên phải biết khơi gợi, kích thích, nuôi
dưỡng và phát triển ở học sinh nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận thức cái
mới. học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phải biết xây
dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến mức độ cao. khi rèn luyện kỹ năng làm bài nghị
luận văn học mỗi một giáo viên cần chú ý phát huy tính sáng tạo của học sinh,
phải biết khơi những nguồn chưa ai khơi. Phải xác định rõ đây là rèn luyện
phương pháp, kỹ năng làm văn chứ không phải giảng văn. Vì thế tránh sa vào
bình giảng một tác phẩm cụ thể. dạy như thế nào, học sinh cần phải học như thế

3


nào để có hiệu quả giáo dục ngày càng đi lên, đó là vấn đề mà thầy cô giáo phải
quan tâm và chú trọng.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, nó là vũ khí thanh tao bồi đắp tâm
hồn con người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn. vậy mà một thực
trạng đáng lo ngại của học sinh hiện nay là các em thờ ơ với môn Ngữ văn,
không còn hứng thú khi học văn, dẫn đến cảm thụ văn, viết văn không còn cảm
xúc, không còn mang tính văn chương nữa. Ban đầu những người trực tiếp dạy
môn Ngữ văn chỉ biết than thở với nhau nhưng nay đã trở thành vấn đề mà dư
luận xã hội phải lên tiếng. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh
những năm gần đây mới thấy sự cần thiết phải có nhưng thay đổi trong suy nghĩ
và phương pháp dạy học văn hiện nay.
Qua công tác giảng dạy tôi nhận thấy một thực tế những năm gần đây nhiều


cho các em phương pháp làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học
nói riêng đạt hiệu quả cao để làm cơ sở cho các em ở các lớp cao hơn.
Kết quả của thực trạng: Bài viết Tập làm văn số 6 ở nhà ( Tiết 120) và Bài
viết tập làm văn số 7 ( Tiết 134 + 135) Năm học 2015-2016 trường THCS Thạch
Định:
Khối lớp
9A
Năm học
2015-2016

Tổng
số HS

24

khá

Giỏi

Bài
viết

TS

Số 6

2

Số7


3

12,5

12,5

6

25

11

45,8

4

16,7

2.3. Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.
2.3.1. Các giải pháp thực hiện.
Khi dạy học sinh về kiểu bài nghị luận văn học, giáo viên cần chú trọng
cho học sinh khai thác cái hay cái đẹp của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật,
thấy được chiều sâu tư tưởng của tác giả gửi gắm vào đấy để từ đó học sinh có
kỹ năng sống phù hợp với xã hội hiện đại, sống có trách nhiệm với mọi người,
biết rung động để lĩnh hội kiến thức cơ bản.
Trong phạm vi sáng kiến này tôi sẽ hướng dẫn cho các em quy trình thực
hành để làm tốt một bài viết về nghị luận tác phẩm văn học:
* Hướng dẫn học sinh tích lũy những tri thức cần thiết cho viết bài nghị
luận văn học.

2.3.2.1. Hướng dẫn học sinh tích lũy tri thức.
Tích lũy tri thức là công việc diễn ra thường xuyên trong quá trình học tập
của học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình làm văn, giáo viên cần phải định hướng
để các em nắm được một số kiến thức cơ bản, từ đó các em vận dụng những
kiến thức ấy vào việc tạo lập văn bản mới.
Tập làm văn là môn học mang tính tích hợp, nó có mối quan hệ chặt chẽ
với phân môn văn, tiếng Việt và các môn học khác. Cho nên muốn học sinh làm
tốt một bài văn nghị luận văn học thì trước hết giáo viên cần cung cấp cho các
em kiến thức cụ thể về tác phẩm văn học, hướng dẫn các em có được kiến thức
văn học sử, kiến thức lí luận văn học. Ngoài ra còn định hướng cho các em có
được kiến thức tổng hợp về văn hóa, xã hội.
Trước hết là kiến thức cụ thể về tác phẩm văn học. tác phẩm văn học làm
nên diện mạo phong phú đa dạng của nền văn học, cũng là đối tượng nghiên cứu
của các môn như văn học sử, lí luận văn học. Học văn chính là học tác phẩm văn
học cụ thể, bởi vậy nếu không nắm được tác phẩm thì mọi kiến thức về văn học
sử, lí luận văn học, kỹ năng làm bài không có ý nghĩa. Kiến thức về tác phẩm
văn học là những hiểu biết cụ thể của học sinh về tác phẩm trong và ngoài
chương trình gồm kiến thức cơ bản và kiến thức mở rộng, nâng cao.
kiến thức cơ bản mà học sinh cần nhớ là: Đề tài, chủ đề ; nét chính về tác
giả: Thân thế sự nghiệp, phong cách; hoàn cảnh ra đời tác phẩm; khái quát nội
dung ý nghĩa, đặc sắc nghệ thuật. Những kiến thức cơ bản này các em được giáo
viên truyền thụ trong quá trình học văn học. Để nắm được kiến thức cơ bản, với
truyện: học sinh phải tóm tắt tác phẩm trên cơ sở xác định được nhân vật, ngôi
kể, các chi tiết tiêu biểu, tình huống…. Với thơ: học thuộc lòng thơ, chú ý những
ý tứ hay, đẹp, dấu hiệu đặc biệt về hình thức( dấu câu, biện pháp tu từ, viết
hoa..).
Kiến thức mở rộng: Là kiến thức ngoài văn bản. Mảng kiến thức này đa số
dành cho học sinh khá giỏi.
- Kiến thức này có thể là kiến thức hoàn chỉnh của tác phẩm, còn trong sách
giáo khoa các em mới chỉ học đoạn trích( Ví dụ : Đoạn trích: Chiếc lược ngà..)

kiến thức này còn ít, chưa hệ thống, chủ yếu có một phần nhỏ ở giới thiệu tác
giả, tác phẩm. cuối sách giáo khoa ngữ văn 9 mới có một bài mang tính sơ
lược. Cho nên trong quá trình làm bài nghị luận văn học giáo viên phải hướng
dẫn cho các em, tìm tòi , nghiên cứu. Khi các em giới thiệu khái quát tác giả, tác
phẩm, hoàn cảnh ra đời ở phần mở bài cũng là các em đang vận dụng kiến thức
văn học sử.
Chẳng hạn khi càm nhận về bài thơ ''Mùa xuân nho nhỏ'' của Thanh Hải
trong Ngữ văn 9 tập 2 các em không thể bỏ qua hoàn cảnh ra đời tác phẩm bao
gồm hoàn cảnh riêng của nhà thơ và hoàn cảnh chung của đất nước. Trước hết là
hoàn cảnh riêng đặc biệt của nhà thơ, bài thơ ra đời trước khi tác giả qua đời
chưa đầy một tháng, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh, từng ngày đối mặt
với cái chết. nhưng đọc bài thơ ta không thấy bất cứ hình ảnh nào của sự lụi tàn,
héo úa, không có tâm trạng bi quan, tuyệt vọng của con người sắp phải từ giã
cuộc đời. cả bài thơ tràn ngập âm thanh, màu sắc của mùa xuân và khát vọng
sống rạo rực. Điều này khiến ta khâm phục nghị lực, khát vọng sống mãnh liệt
của tác giả. Đặt bài thơ vào bối cảnh chung của đất nước năm 1980, đất nước ta
bước ra khỏi chiến tranh, nhiệm vụ của toàn dân tộc là xây dựng đất nước.
nhiệm vụ ấy đòi hỏi mỗi công dân việt nam yêu nước phải góp sức mình vào
công cuộc xây dựng đất nước. ta sẽ hiểu vì sao khát vọng đóng góp một phần
7


nhỏ bé của mình cho đất nước qua hình ảnh'' mùa xuân nho nhỏ'' lại mãnh liệt
đến như vậy. Hoàn cảnh chung và riêng trên chính là kiến thức văn học sử mà
các em cần sử dụng khi làm bài .
Bên cạnh kiến thức văn học sử, giáo viên cần trang bị cho các em hệ thống
kiến thức lí luận văn học. Đây là phần kiến thức khó so với học sinh THCS nó
mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt lõi bản chất của văn học.
Việc vận dụng kiến thức này vào bài làm cũng khá linh hoạt tùy theo từng
trường hợp mà có yêu cầu khác nhau. Trong bài nghị luận văn học, học sinh

thức hội họa để thấy được sự phối màu, đường nét tài tình của Nguyễn Du để tạo
nên một bức tranh xuân nổi tiếng bằng thơ. Khi phân tích hình ảnh khó khăn của
những người lính lái xe trong “bài thơ về tiểu đội xe không kính” ( Phạm Tiến
duật) có câu '' Bụi phun tóc trắng như người già'' hay ''Mưa tuôn mưa xối như
ngoài trời''.Ta phải biết tác giả lấy cơ sở từ tự nhiên, sự khác biệt giữa khí hậu
8


sườn Đông và sườn tây của dãy Trường Sơn (Bên nắng gắt bên mưa quay).
Kiến thức này các em tiếp nhận từ môn Địa lí.
Nói tóm lại các kiến thức cơ bản về tác phẩm là rất cần thiết trong quá trình
tạo lập văn bản. Bên cạnh nguồn cung cấp kiến thức từ thầy cô, từ bài học trên
lớp thì chính các em phải luôn có ý thức tự học, tự tìm hiểu, tích lũy để sử dụng
hiệu quả trong quá trình học và viết văn.
2.3.2.2. Hướng dẫn học sinh viết bài nghị luận văn học đạt hiệu quả
Muốn làm tốt một bài văn nói chung và nghị luận văn học nói riêng học
sinh cần thực hiện các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài, đọc sửa bài.
a. Hướng dẫn học sinh phân tích đề
tác phẩm văn học là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ. một đề tập làm văn
được xem là một bài toán nghệ thuật ngôn từ. Bởi vì bao giờ trong một đề tập
làm văn cũng có những yêu cầu bắt buộc mà người thực hiện đề bài phải tìm ra
phương pháp giải. Vì thế bước phân tích đề được xem là khâu đầu tiên có vai trò
quyết định'' dẫn đường chỉ lối'' cho người làm bài. nếu phân tích đúng yêu cầu
của đề bài thì sẽ có hướng đi đúng. nếu phân tích sai sẽ dẫn đến không đáp ứng
được yêu cầu của đề bài. Vì thế giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phân tích
kỹ đề bài để các em xác định đúng thể loại, yêu cầu, nội dung nghị luận của đề
bài đó. Một đề văn nghị luận văn học không đồng nhất một dạng đề mà nó có
nhiều dạng. Trước hết, học sinh cần đọc kỹ đề bài xác định mệnh lệnh của đề bài
nghị luận văn học là phân tích, suy nghĩ hay cảm nhận. Giáo viên phân biệt cho
học sinh rõ 3 mệnh lệnh này:

Tùy theo mỗi dạng đề mà giáo viên hướng dẫn học sinh các thao tác làm
bài khác nhau. Đối với dạng đề 1 và 2 học sinh thường hay nhầm lẫn, giáo viên
phải hướng dẫn để học sinh phân biệt suy nghĩ và phân tích. suy nghĩ thiên về
cảm nhận chủ quan của người viết không nhất thiết phải đầy đủ mà có thể chọn
những nét nổi bật mà mình câm nhận sâu sắc nhất để viết. Còn phân tích nhân
vật là yêu cầu người viết phải đánh giá, nhận xét đầy đủ từng đặc điểm của nhân
vật, từng giá trị nội dung, nghệ thuật. Đối với dạng đề 3: Đây là dạng đề ở mức
độ cao hơn, khái quát hơn, yêu cầu học sinh phải biết tích hợp kiến thức để giải
quyết vấn đề. Với ví dụ ở dạng 3: Trước hết học sinh phải phân tích được những
biểu hiện cụ thể tình cảm cha con của hai nhân vật ông sáu và bé Thu. Sau đó
phải trình bày cảm nhận của mình về tình cha con trong chiến tranh: Đó là tình
cảm cảm động, thiêng liêng nhưng phải chịu nhiều thiệt thòi, mất mát, chia ly.
Cuối cùng học sinh mới trình bày suy nghĩ về tình cha con, tình cảm gia đình,
tình yêu quê hương đất nước hòa quện với nhau . Đây là tình cảm đáng trân
trọng, vun đắp, giữ gìn, phát huy. Vì đó là đạo lí tốt đẹp của người Việt nam.
Như vậy các mệnh lệnh đề trên chỉ khác nhau về sắc thái chứ không phải
là các kiểu bài khác nhau. Ngoài dạng đề có mệnh lệnh đề còn có những đề bài
không có mệnh đề (Đây là dạng đề mở), yêu cầu người viết phải tự xác định
hướng làm để bày tỏ ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra trong đề. Đây là dạng
đề khó phù hợp với học sinh khá giỏi. Dù ở dạng nào thì trước khi làm bài HS
cần tìm hiểu đề. Để làm tốt bài nghị luận văn học cần xác định đúng nội dung
yêu cầu của đề. Khi xác định đề cần xác định những nội dung sau:
- Đề thuộc loại đề nào?
- Vấn đề ( nội dung) nghị luận là gi?
- Yêu cầu vận dụng những phương pháp nghị luận nào?
- Phạm vi kiến thức cần vận dụng là gì?
Chẳng hạn: Với đề bài: Cảm nhận của em về bức tranh thu trong bài thơ
Sang thu của Hữu Thỉnh ( SGK ngữ văn 9- Tập 2).
Học sinh cần xác định đề như sau:
+ Thể loại: Nghị luận văn học: bài thơ Sang thu của hữu thỉnh.

nhà văn Kim lân.
- Muốn tìm được ý hay cho đề bài trên, các em phải đọc kĩ tác phẩm để
khám phá nét mới nhất trong tình cảm của nhân vật ông Hai. Đó là chuyển biến
trong tình cảm của người nông dân Việt nam thời kì đầu kháng chiến chống
Pháp. Tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương, tự hào về truyền thống quê
hương là đặc điểm có tính truyền thống nhưng cái đặc sắc mà Kim lân muốn nói
tới ở đây chính là đặt nhân vật vào những tình huống gay cấn để thử thách lòng
yêu làng, yêu nước của nhân vật, buộc nhân vật phải đấu tranh nội tâm quyết liệt
để lựa chọn giữa quay về làng hay không quay về. Sau những đấu tranh nội tâm
đau đớn để cuối cùng nhân vật mới đi đến quyết định'' Làng thì yêu thật đấy,
nhưng làng theo tây thì ta phải thù''.
- Rõ ràng các em muốn có được những suy nghĩ sâu sắc về nhân vật thì
phải đọc thật kĩ mới cảm hết được tình huống thú vị, những chi tiết, câu nói
tưởng rất nhỏ trong tác phẩm nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn. Từ đó ý tứ mới
tuôn trào, suy nghĩ về nhân vật mới sâu sắc. Sau khi đọc kỹ tác phẩm. học sinh tự
đặt ra câu hỏi để có ý lớn, ý nhỏ cho bài văn:
? Làng là truyện ngắn ra đời trong hoàn cảnh nào?
? Truyện xoay quanh nhân vật nào? Tình cảm gì là nét nổi bật nhất ở nhân
vật ông Hai?
? Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tình
huống nào?
11


? Em nhận xét, đánh giá gì về tư tưởng, tình cảm của người nông dân thời
kì đầu kháng chiến chống Pháp qua nhân vật ông hai?
? Nhân vật này để lại tình cảm gì trong lòng em? ( Sự yêu mến, trân trọng,
cảm phục, tự hào).
Sau khi đã có được các ý, bước tiếp theo giáo viên hướng dẫn các em sắp
xếp các ý theo một trình tự hợp lý. Bước này gọi là lập dàn ý.

bài thơ nhưng mở ra một cảnh tượng huy hoàng….
- Niềm phấn khởi và thắng lợi của người dân làng biển.
+ Hình ảnh'' câu hát căng buồm''-> Là sự lặp lại có thay đổi ( Vẫn là hình
ảnh ẩn dụ nhưng từ ''cùng'' thay bằng từ ''với'').
+ Hình ảnh mặt trời khép lại một hành trình nhưng mở ra một ngày mới
huy hoàng.
+ Sự nhân lên gấp bội của mặt trời trong mắt cá.
12


- Khổ thơ mang đến cho bài thơ một dư âm đẹp về thiên nhiên và cuộc
sống lao động tươi đẹp của con người lao động trên biển cả.
* Kết bài:
- tài quan sát và miêu tả thiên nhiên, tâm hồn nghệ sĩ.
- Tình yêu của những con người làm giàu đất nước.
Lưu ý: khi lập dàn ý học sinh cần tránh các lỗi:
- Lạc ý: là những ý không đúng với yêu cầu về nội dung và phương pháp
nghị luận nêu trong đề bài.
- ý không phù hợp nội dung: Ví dụ : Đề yêu cầu nêu suy nghĩ về nhân vật
mà dàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hay sa vào bình luận về
giá trị tác phẩm. Hoặc đề chỉ yêu cầu nghị luận 1 đoạn thơ thì học sinh nghị luận
cả bài.
- Thiếu ý: Có thể thiếu ý lớn hoặc ý nhỏ. Cho nên khi lập dàn ý giáo viên
phải cho các em xác định hết các ý ( luận điểm) của bài tránh tình trạng đề bài
yêu cầu phải có 4 ý mà dàn ý chỉ nêu được 2 hoặc 3 ý.
- Lặp ý: ý sau lặp lại ý trước.
- Sắp xếp ý lộn xộn: Không theo một thứ tự nào. Đây là hiện tượng viết văn
tùy tiện, gặp đâu nói đó.
Khi đã có dàn ý, giáo viên hướng dẫn học sinh sang phần viết văn với mục
đích rèn cho các em kỹ năng viết các đoạn văn từ phần mở bài đến kết bài để các

+ Đầy đủ: Đọc xong mở bài người đọc biết được vấn đề nghị luận.
+ Độc đáo: tức là gây được chú ý cho người đọc với vấn đề mình sẽ viết.
Muốn thế phải có cách nêu vấn đề khác lạ. Để tạo nên sự khác lạ cần suy nghĩ
dẫn dắt và câu nêu vấn đề phải tạo được sự bất ngờ.
+ Tự nhiên: Viết văn nói chung cần giản dị, tự nhiên, mở bài và nhất là câu
đầu chi phối giọng văn của toàn bài. Vì thế vào bài cần độc đáo khác lạ nhưng
phải tự nhiên, tránh gượng ép, giả tạo.
Mở bài hay cần tránh:
- tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi rồi mới vào vấn đề.
- tránh dẫn dắt không liên quan đến vấn đề sẽ nêu.
- tránh nêu vấn đề một cách dài dòng, chi tiết có gì nói hết rồi đến phần
thân bài nói lại.
Từ những vấn đề trên , ta có thể thấy có nhiều cách mở bài., tùy vào dụng ý
của người làm ta có thể vận dụng một trong những cách sau:
- Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay vấn đề nghị luận. Cách mở này nhanh,
gọn, giản dị, dễ tiếp cận, thích hợp với bài viết ngắn. nhưng nếu vận dụng không
khéo sẽ trở nên khô khan, ít hấp dẫn.
- Mở bài gián tiếp: Tức là dẫn một ý khác có liên quan gần gũi, sau đó nêu
vấn đề sẽ bàn trong bài. Để bài viết có không khí tự nhiên và có chất văn ta
thường mở bài theo kiểu gián tiếp. Có nhiếu cách mở bài gián tiếp: Từ khái quát
đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản, đi từ thức tế đến vấn đề,
dẫn 1 câu thơ, danh ngôn, mẫu chuyện ngắn…Dù viết mở bài gián tiếp theo
cách nào thì trong đó cũng làm rõ 3 vấn đề:
1. Nêu ngắn gọn tác giả, tác phẩm, xuất xứ.
Mở bài
2. Nêu vấn đề ( Dựa vào gợi ý ở đề bài).
3. Cảm nhận sơ bộ về vấn đề.
Ví dụ: Phân tích bài thơ ''Đồng chí '' của Chính hữu . Ta có thể mở bài như
sau:
Cách mở bài trực tiếp:

Đây là phần giải quyết vấn đề đã nêu ra ở mở bài. Trong bài văn, thân bài
có nhiệm vụ quan trọng trong việc làm sáng tỏ vấn đề mà đề bài yêu cầu bằng
các phương pháp lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, so
sánh….
Để có được một bài văn hay người giáo viên nên hướng dẫn cho các em
một số kỹ năng khi làm bài nghị luận văn học .Trước hết là kỹ năng phát hiện
cái hay, cái đẹp trong tác phẩm. Tác phẩm văn học là sản phẩm của nghệ thuật
ngôn từ. cái hay, cái đẹp là một trong những giá trị đặc sắc tạo nên thành công
cho tác phẩm. Nó được tạo nên từ tài năng sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Một
bài nghị luận văn học hay là bài làm đúng và mang tính phát hiện, sáng tạo. Vì
thế ngoài kiến thức thầy cô giảng, các em phải suy nghĩ, tìm tòi phát hiện cái
hay, cái mới của văn bản ( Không suy diễn không có căn cứ). Trong một cuốn
sách của mình thạc sĩ Lê Xuân Soan từng phân tích: Trong bài '' Sang thu"' có
khổ thơ :
''Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi''
từ trước đến nay trong giảng dạy, thì ta cho rằng đến khổ thơ thứ ba này
hình ảnh con người mới xuất hiện- đây là hình ảnh ẩn dụ chỉ con người từng trải
trong cuộc đời. Phát hiện này đúng nhưng chưa đủ. Nếu đọc kĩ ta đã thấy con
người đã xuất hiện ở khổ 2:
''Sông được nước dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
vắt nửa mình sang thu”.
15


Đặt vào hoàn cảnh đất nước sau 1975, thì đây là hình ảnh con người trong

ngôn ngữ phải có chất tạo hình mặc dù lập luận trong văn nghị luận thuộc tư duy
lô gic.
Làm văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng yêu cầu luận
điểm phải rõ ràng, lập luận phải chặt chẽ, có những lí lẽ sắc bén, dẫn chứng tiêu
biểu sinh động trong tác phẩm, việc đưa dẫn chứng phải thật linh hoạt, khi nào
nên trích nguyên văn, khi nào chỉ cần trích ý. Mỗi luận điểm lớn nên triển khai
thành một đoạn văn, giữa các đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp một cách
linh hoạt, uyển chuyển tránh máy móc, gò bó.
Sau khi hướng dẫn cho các em một số kỹ năng để có một bài văn vừa đúng
vừa hay. Giáo viên hướng dẫn cho các em kỹ năng viết đoạn. Đối với nghị luận
tác phẩm truyện ( SGK chỉ tập trung nghị luận nhân vật). Có nhiều cách trình
trình bày đoạn văn, giáo viên hướng dẫn cho học sinh trình bày 2 cách sau: Diễn
16


dịch và quy nạp. Giáo viên có thể mô tả 2 cách viết này ( học lớp 8) cho học
sinh nhớ lại.
Diễn dịch: (1)- Câu chủ đề nêu luận điểm.
(2)
(3) (4)…
- Các câu nêu các ý chi tiết để làm sáng tỏ chủ đề.
Ví dụ: (1) Anh thanh niên là người rất khiêm tốn.( 2) khi ông họa sĩ muốn vẽ
chân của chân dung anh, anh hào hứng giới thiệu về những con người đáng để vẽ
hơn mình.( 3) Đó là ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa vượt qua bao khó khăn vất vã
để tạo ra những củ su hào to ngon cho nhân dân và anh cán bộ khí tượng dưới trung
tâm suốt mười một năm chuyên tâm nghiên cứu và thiết lập bản đồ sét.(4) Anh thấy
đóng góp của mình bình thường so với những con người ấy.(5) Anh thấy thấm thía
sự hi sinh thầm lặng của những con người ngày đêm làm việc lo nghĩ cho đất nước.
Như vậy câu (1): Câu chủ đề: Nhận xét khái quát về đức tính khiêm tốn
của nhân vật. Câu (2), (3), (4), (5)…: là dẫn chứng, đánh giá, nhận xét của người


(3) ''Tròn vành vạnh'' là trăng rằm, tròn đầy, một vẻ đẹp viên mãn. (4)''Im
phăng phắc'' là im như tờ, không một tiếng động nhỏ.(5) Vầng trăng cứ tròn đầy
và lặng lẽ'' kể chi người vô tình''. (6)''Trăng cứ tròn vành vạnh'' như tượng trưng
cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, cho sự bao dung độ lượng,
của nghĩa tình thủy chung trọn vẹn.(7) ''Ánh trăng im phăng phắc'' là hình ảnh
nhân hóa, trăng chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc
đang nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta.(8) Con người có thể vô tình, có thể lãng
quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy bất diệt.
Từ đoạn văn trên, học sinh sẽ nhận thấy:
Câu 1: Nhận xét khái quát về nội dung đoạn thơ.
Câu 2: Dẫn chứng đoạn thơ.
Câu 3, 4: Cắt nghĩa, giảng giải từ ngữ.
Câu 5, 6, 7: Phân tích về nghệ thuật.
Câu 8: từ đó nhận xét về nội dung.
Như vậy, ở đoạn văn trên không có mở rộng nâng cao, điều này không cần
thiết với học sinh trung bình trở xuống mà mở rộng còn phụ thuộc vào khả năng
của các em, thường chỉ dành cho học sinh khá, giỏi. Khi học sinh đã quen thì
giáo viên nên hướng dẫn cho các em trung bình đề nâng cao khả năng cảm thụ.
trong quá trình viết bài nghị luận văn học không nên chỉ dùng một cách diễn đạt
mà nên thay đổi khi dùng diễn dịch , khi dùng quy nạp, khi nêu dẫn chứng trước
phân tích sau… để bài viết thêm sinh động, phong phú. Đặc biệt phải kết hợp tốt
các phương thức biểu đạt như tự sự, miêu tả, biểu cảm trong bài nghị luận văn
học thì hiệu quả diễn đạt sẽ cao hơn, bài văn trở nên có hồn và hấp dẫn hơn.
Nói tóm lại, để có một bài văn đáp ứng yêu cầu đề ra và hay thì kỹ năng tạo
lập văn bản ở mỗi học sinh là hết sức quan trọng. Học sinh phải nắm chắc kiến
thức lí thuyết và thực hành thành thạo. Để bài văn có tính liên kết khi trình bày
đoạn văn người viết dùng các phương tiện liên kết để nối câu , nối đoạn để tạo
thành bài văn thống nhất về nội dung và hình thức. Bố trí các phần, đoạn rành
mạch, hợp lí. Sau khi thực hiện nhiệm vụ ở phần thân bài, giáo viên hướng dẫn

đoạn văn, hay các bài viết tại lớp cũng nh các bài tập đợc giao
về nhà. Tuy nhiên với thời gian trên lớp có hạn nên công việc này
chủ yếu đợc thực hiện ở các tiết tự chn, trong các buổi phụ
đạo, dy ụn thi.
Trong nm hc 2016-2017 tụi ó tin hnh kho sỏt cht lng lm bi
thụng qua bi vit Tp lm vn s 6 nh ( Tit 120) v bi Vit bi tp lm vn
s 7 ( Tit 134+ 135) ca hc sinh lp 9 trng THCS Thch nh v t c
kt qu nh sau:
Tng
khỏ
Gii
Trung bỡnh
Yu
Bi
Khi lp s HS
vit TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
9A
Nm hc
2016-2017

29

S 6


0

0

3. KT LUN V KIN NGH
- Kt lun:
Núi túm li, trong ging dy Ng vn bờn cnh vic giỳp hc sinh nm kin
thc trng tõm ca bi hc thỡ vic rốn luyn k nng s giỳp hc sinh cú nh
hng trong vic tỡm hiu, phõn tớch tỏc phm vn hc v to lp vn bn khi
thc hnh. Cho nờn vic hng dn hc sinh cỏch lm vn ngh lun v tỏc
phm vn hc s gúp phn nõng cao cht lng dy v hc, ỏp ng c chun
kin thc k nng trong phng phỏp dy hc mi hin nay. Kinh nghim trờn l
rỳt t thc t khi hng dn hc sinh trong ging dy v ụn thi nhiu nm lin.
Vi kinh nghim nh ny tụi ó giỳp hc sinh cú thờm kin thc k nng lm
bi. Tuy nhiờn, ú ch l kinh nghim mang tớnh cht ch quan, rt mong s
úng gúp ý kin, trao i, b sung ca cỏc bn ng nghip ti ny c
hon thin hn.
- Kin ngh:
19


* Đối với giáo viên: giáo viên chuẩn bị chu đáo hệ thống câu hỏi rõ ràng,
dễ hiểu, sát với mục tiêu của bài và phải phát huy được tính tích cực của học
sinh. Nghiên cứu, tham khảo tài liệu để bổ sung kiến thức cho bản thân.Tham
khảo các tiết dạy trên mạng Intenet, thăm lớp, dự giờ, học hỏi kinh nghiệm của
đồng nghiệp. Trong quá trình giảng, dạy giáo viên cần quan tâm đến từng đối
tượng học sinh để vận dụng phương pháp một cách linh hoạt, hiệu quả nhất.
* Đối với phụ huynh: Quan tâm đến việc học của con em mình, đầu tư
nhiều thời gian cho con cái, thường xuyên động viên nhắc nhở ý thức tự giác của

[3]Kinh nghiệm viết một bài phê bình văn học- từ Nguyễn Đăng Mạnh.
Tuyển tập , tập 2 ( sđd).
[4] Tuyển tập Nguyễn Tuân- NXB văn học Hà Nội-1996.
[5] Bình luận văn chương- Hoài Thanh- NXB giáo dục 1998.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status