Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
2
1 - Lí do chọn đề tài..........................................................................................2
2 - Mục đích nghiên cứu....................................................................................3
3 - Đối tượng nghiên cứu..................................................................................3
4 - Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 - Cơ sở lí luận.................................................................................................4
2 - Thực trang vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.......................5
3 - Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề............................................6
3.1/ Dạy học hợp tác theo nhóm......................................................................6
3.2/ Sử dụng phương pháp trực quan...............................................................9
3.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề..................................................10
3.4/ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh
trên
lớp.................................................................................................................13
3.5/ Xây dựng hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng...14
3.6/ Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp..............................15
3.7/ Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh.............................................15
Một số ví dụ minh họa...............................................................................16
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.........................................................................21
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
22
1. Kết luận.......................................................................................................23
năng truyền thụ tri thức của phương pháp dạy học, nên thường sử dụng phương pháp
dạy học theo hướng thông báo, liệt kê, nghiêng hẳn về khía cạnh tái hiện kiến thức ...
Trên lớp học sinh chủ yếu phải nghe giảng, chép bài liên tục, ghi nhớ máy móc mà
không phát huy được tính tích cực trong quá trình học tập. Học sinh ít được lôi cuốn
động viên khích lệ để hứng thú, tự giác học tập, gây nên tình trạng chán học, bỏ
học ở một số bộ phận học lực yếu kém...
Chính vì vậy, bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí
nhiều năm, tôi rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí bằng cách
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm
sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh. Vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn đề xuất “Một số kinh
nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí 6 nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trường THCS Đông Nam, huyện Đông
Sơn” .
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh trong nhà trường.
- Rèn luyện tính tư duy độc lập, sáng tạo và phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh.
- Rèn luyện cho học sinh thực hiện thí nghiệm chứng minh trên lớp, sử dụng hình
ảnh trực quan, làm phiếu học tập…trong việc học tập môn Vật lí 6.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : Các phương pháp đổi mới dạy học môn Vật lí 6.
- Khách thể : Học sinh khối 6 trường THCS Đông Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp - khái quát.
trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập...Từ đó học sinh
dần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Đó là điều kiện cần thiết cho
bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội.
Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói
riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:
- Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh. Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấp
cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được,
mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm
đào tạo. Học sinh được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì
phẩm chất và năng lực của cá nhân được sớm hình thành phát triển và hoàn thiện.
Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại,
phải được hình thành ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng
truyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập và
nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ môn).
Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm cho học
sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn. Điều đó có ý nghĩa to lớn
với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa
trong dạy học. Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn giống
nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để
đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh.
- Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm.
Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:
Bước 1: Làm chung cho cả lớp
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao
nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
Bước 2: Hoạt động nhóm
Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác.
Thành viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến, phân công nhóm sau đó từng thành
viên làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần
thiết. Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học sinh.
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, giáo viên tổ chức cho học sinh ở các
nhóm khác nhận xét, đánh giá và giáo viên xác nhận lại khi cần thiết. Giáo viên
tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng sau khi các nhóm đã báo cáo xong.
Cuối cùng giáo viên động viên, khen ngợi các nhóm cũng như các cá nhân hoàn
thành tốt nhiệm vụ, phê phán những cá nhân và nhóm chưa hoạt động tích cực.
Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các
công việc sau:
* Tổ chức nhóm:
+ Quy mô nhóm:
Mỗi nhóm nên có từ 3 đến 6 học sinh. Nhóm 3 đến 4 học sinh là nhóm
nhỏ, thích hợp với các hoạt động giải bài tập rèn luyện kĩ năng hay thực hành
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
trong lớp. Với nhóm nhỏ, các em thảo luận, đề ra được quyết định nhanh hơn,
giáo viên quản lí các thành viên trong nhóm dễ dàng hơn, nhưng việc bao quát
các nhóm phức tạp hơn, việc theo dõi hoạt động và thời gian để các nhóm trình
Sáng kiến kinh nghiệm
dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các nhóm thực
hành có hiệu quả.
* Giao nhiệm vụ cho nhóm:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện. Sau khi giao
nhiệm vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh
đã hiểu được nhiệm vụ của mình chưa. Có thể thực hiện điều này bằng cách hỏi
một vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói rõ
nhiệm vụ của mình. Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải hoàn
thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7 phút.
* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:
Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh
theo các chú ý sau:
- Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn
thông qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp.
- Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn
nắn. Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời. Dù là khuyến khích
hay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân mật, hợp
tác, tạo niềm tin cho học sinh.
* Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử
đại diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như
đứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết bảng…
Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác quan sát,
nhận xét, bổ sung. Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là rất quan
trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả lớp trong
mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập. Sau khi mỗi nhóm đã trình bày và có sự
nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra ý kiến của
Cân đồng hồ
Bài 13: “Máy cơ đơn giản” - SGK Vật lí 6
Giáo viên cần đưa một số tranh ảnh minh họa cho học sinh thấy được một
số máy cơ đơn giản thường dùng là mặt phẳng nghiêng, đòn bẩy và ròng rọc.
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 9
Sáng kiến kinh nghiệm
3.3/ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình
huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học
sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ
thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ.
Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi
vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới, rèn
luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:
- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được
thông báo tri thức dưới dạng có sẵn.
Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động
tri thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải
là nghe thầy giảng một cách thụ động.
- Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá
a) Tính thể tích của 1 tấn cát.
b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m3
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt
Thực hiện lời giải
học sinh làm bài tập theo trình tự các
bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán
- Em hãy cho biết đề bài đã cho những
đại lượng nào?
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
+ HS: Đề bài cho biết khối lượng và thể
tích của cát.
- GV: Bài toán yêu cầu tính những đại
lượng nào?
Cho biết:
+HS: Bài toán yêu cầu tính thể tích và
V = 10dm3 = 0,01m3
m
D
với m = 1tấn = 1000kg
Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán
-GV: Em hãy cho biết công thức tính
trọng lượng của cát?
+HS: Công thức tính trọng lượng là P = 10m
-GV: Muốn tính được trọng lượng của
một đóng cát có thể tích 3m3, trước hết
ta phải tính được khối lượng của cát.
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 12
Sáng kiến kinh nghiệm
Vậy khối lượng của cát được tính theo
công thức nào?
+HS: Khối lượng của cát được tính theo
công thức m = D.V
Khối lượng riêng của cát là
-GV: Sau khi các em tính được khối
D=
lượng của cát, ta áp dụng lại công thức
P=10m sẽ tính được trọng lượng của cát.
lớp:
Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm. Các tri thức Vật lí là sự khái quát
hóa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời
sống. Không có thí nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư
duy để tiếp nhận tri thức mới. Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến
học sinh về bản chất là áp đặt. Chính cách dạy chay là một trong những nguyên
nhân của tình trạng chất lượng học tập bộ môn còn thấp và cũng đồng thời là sự
tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và cuộc sống.
Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm
chứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh
động hơn, hiệu quả hơn.
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế. Để thực hiện các thí
nghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy cần
thực hiện các bước sau:
+ Chủ động và có kế hoạch làm đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học. Cùng
với việc lập kế hoạch dạy học, giáo viên phải tính đến các điều kiện cụ thể trong
nhà trường mà xây dựng kế hoạch làm và sử dụng trang thiết bị dạy học phù
hợp.
+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực
hiện các thí nghiệm chứng minh.
3.5/ Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát hiện
tượng, phân tích các kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có liên
quan…để đi đến tri thức mới.
học bài và làm bài ở nhà. Tuy vậy, không thể bỏ qua những đối tượng khá, giỏi.
Nên có những bài tập có yêu cầu cao hơn cho các em này. Khâu luyện tập cần
được dành thời gian hợp lí, tốt nhất là khoảng 10 phút cho mỗi tiết học. Coi
trọng những bài tập có nội dung thực tế, gắn với đời sống để giúp học sinh biết
vận dụng kiến thức giải quyết những nhiệm vụ hàng ngày.
Nói chung học sinh phải được tạo điều kiện để làm việc một cách độc lập,
đặc biệt trong giai đoạn luyện tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài học. Mọi cuộc
trao đổi thảo luận, mọi chỉ dẫn hay nhận xét, đánh giá của giáo viên, chỉ có hiệu
quả cao khi học sinh đã được chuẩn bị và có sự chứng kiến của giáo viên.
3.7 / Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh:
Để hỗ trợ và thực hiện tốt các giải pháp trên. Phiếu học tập được thiết kế cho
từng tiết học. Nội dung của phiếu bao gồm:
- Các câu hỏi hoặc những chỉ dẫn cho học sinh quan sát và ghi lại các kết
quả thí nghiệm.
- Hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh phân tích hiện tượng, vận dụng các
kiến thức có liên quan…để đi đến tri thức mới.
- Các bài luyện tập.
Sử dụng phiếu học tập cho mỗi bài dạy cụ thể sẽ có tác dụng:
- Tiết kiệm được thời gian để giáo viên truyền đạt các yêu cầu hoặc
hướng dẫn đối với học sinh.
- Tăng cường tính độc lập trong khi làm việc của mỗi học sinh.
- Nhịp độ và khối lượng công việc làm được tùy thuộc vào năng lực của mỗi
học sinh. Bằng cách này quá trình học tập của học sinh từng bước được cá nhân hóa.
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 15
Sáng kiến kinh nghiệm
- Trong thời gian đầu, giáo viên có thể thu “phiếu học tập” sau tiết học để
Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm
*Thí nghiệm:
Dụng cụ: Chuẩn bị cho mỗi nhóm học sinh
Một giá treo, một lò xo, một thước có độ chia đến mm
Ba quả nặng giống nhau, mỗi quả có khối lượng 50g
Bước 1: Đo chiều dài tự nhiên của lò xo khi chưa kéo dãn (chiều dài tự nhiên
của lò xo): l0
Bước 2: Móc quả nặng vào đầu dưới của lò xo. Đo chiều dài l1 của lò xo khi bị
biến dạng.
Bước 3: Tính trọng lượng của quả nặng và ghi vào ô tương ứng.
Bước 4: Đo lại chiều dài của lò xo khi bỏ quả nặng ra. So sánh l0 và l1.
Bước 5: Móc thêm 2, 3 quả nặng 50g vào vào đầu dưới của lò xo và làm tương
tự như trên.
* Hệ thống câu hỏi: Từ kết quả thí nghiệm hãy cho biết chiều dài của lò
xo khi bỏ hết quả nặng ra và so sánh với chiều dài tự nhiên của lò xo?
Giáo viên đặt các câu hỏi hướng dẫn học sinh:
- Trọng lượng của các quả nặng tương ứng được móc vào lò xo được
xác định như thế nào?
- Đặt thước đo như thế nào để đo chiều dài của lò xo chính xác?
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 17
Độ biến dạng
lò xo
của lò xo
l0 =……(cm)
0
(cm)
l =……(cm)
l - l0 =……(cm)
l =……(cm)
l - l0 =……(cm)
l =……(cm)
l - l0 =……(cm)
toán chiều dài của lò xo tương ứng trong
từng bước thí nghiệm cụ thể, ghi vào phiếu học tập của nhóm, giáo viên chốt lại
cho học sinh thấy được rằng khi bỏ các quả nặng ra khỏi lò xo thì chiều dài của
lò xo trở lại vị trí ban đầu. Từ đó có thể kết luận rằng, lò xo là một trong những
vật có tính chất đàn hồi.
* Củng cố và luyện tập: Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi cho học sinh tham
gia trả lời:
1. Lực đàn hồi là gì? Đặc điểm của lực đàn hồi?
2. Nêu ví dụ về một số vật có tính chất đàn hồi?
3. Lực đàn hồi phụ thuộc như thế nào vào độ biến dạng của lò xo?
4. Các lực nào sau đây là lực đàn hồi?
A. Lực hút của trái đất lên các vật
B. Lực hút của mặt trời lên trái đất.
C. Lực kéo của một sợi dây khi treo một vật nặng vào
nhỏ hơn trọng lượng của vật thì các khoảng cách OO1 và OO2 phải thỏa mãn
điều kiện gì? Để giúp học sinh trả lời được câu hỏi mà giáo viên đặt ra, học sinh
phải thực hiện được thí nghiệm, ghi lại kết quả thí nghiệm trong từng trường
hợp cụ thể. Do đó giáo viên đặt một số câu hỏi gợi ý:
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 19
Sáng kiến kinh nghiệm
- Muốn xác định độ lớn của lực F1, ta dùng dụng cụ gì?
- Cho biết độ lớn của lực F2 ứng với từng trường hợp
(OO1 = OO2 ; OO1 > OO2 ; OO1 < OO2)?
- So sánh cường độ lực F2 và F1 trong từng trường hợp?
- Muốn lực nâng vật nhỏ hơn trọng lượng của vật (F2 < F1) phải thỏa mãn
điều kiện gì?
- Từ kết quả thí nghiệm, em rút ra được kết luận gì?
Sau khi học sinh làm thí nghiệm, quan sát kết quả và ghi vào phiếu học tập
của nhóm, giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận. Giáo viên cũng cần
chú ý cho học sinh trước khi làm thí nghiệm, cần kiểm tra lại các dụng cụ thí
nghiệm để trong quá trình thực hành ta thu được kết quả tốt nhất.
Phiếu học tập của nhóm
Lực
Trọng lượng của vật
Tổng 2 lực dùng để kéo vật lên
Cường độ
………(N)
………(N)
C. 1000N
D. 150N
Trả lời: .....................................................................................................................
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:
* Đối với học sinh:
Trong quá trình giảng dạy bộ môn và thực hiện áp dụng đối mới phương
pháp dạy học, tôi nhận thấy học sinh có sự tiến bộ, các em tích cực trong việc
trao đổi, thảo luận giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trong
thực hành thí nghiệm các em cẩn thẩn thực hiện các thao tác nhằm đem lại kết
quả chính xác nhất, độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra. Qua
đó các em có sự hứng thú, tích cực tìm hiểu nội dung bài học để hình thành và
chiếm lĩnh kiến thức mới. Cụ thể qua điều tra kết quả học tập của học sinh, tôi
nhận thấy sự tiến bộ của các em thông qua các giai đoạn sau:
*Trước khi khảo sát:
Lớp
6A
6B
TS
HS
14,8
*Sau khi khảo sát:
Lớp
6A
6B
TS
HS
28
27
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
TS
%
TS
%
TS
%
TS
%
7
25
11
39,3
9
32,1
minh họa trong tiết học thì tiết học sẽ trở nên đơn điệu, tẻ nhạt và dẫn tới sự nhàm
chán đối với học sinh. Không sử dụng đổi mới phương pháp thì không thể đạt được
kết quả cao và tạo được cho học sinh sự hứng thú, yêu thích bộ môn Vật lí.
Từ vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học, bản thân giáo
viên giảng dạy bộ môn cần phải nắm vững được lý luận của phương pháp, kết
hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy. Nắm được yêu cầu của từng bài
học cụ thể để từng bước phát huy được hiệu quả của phương pháp dạy học, hình
thành cho học sinh khả năng tự học, độc lập, sáng tạo...
Để thực sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi học chương
trình Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng, giáo viên cần vận dụng các phương
pháp đổi mới nhằm tạo mọi điều kiện cho học sinh hoạt động trong tiết học. Tuy
nhiên trong quá trình dạy học, học sinh cần chú ý:
- Thu thập thông tin: Cá nhân học sinh thực hiện.
- Xử lý thông tin: Chủ yếu là hoạt động nhóm.
Đối với giáo viên, là người đóng vai trò, tổ chức điều khiển hoạt dộng học
của học sinh, giáo viên cần sử dụng các câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh,
đặt ra các câu hỏi gợi mở, đồng thời dự kiến trước các phương án trả lời của học
sinh và cách xử lí các tình huống có thể xảy ra. Từ đó chỉnh lại câu hỏi mở cho
phù hợp hơn với trình độ thực tế của học sinh.
Trong quá trình sử dụng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, tôi nhận thấy:
- Học sinh hứng thú, tích cực hoạt động, trao đổi, thảo luận nắm được một số
kiến thức cơ bản tại lớp.
- Học sinh trả lời được một số câu hỏi gợi mở do giáo viên đặt ra.
- Học sinh có tinh thần hợp tác, quan sát thí nghiệm theo tổ, nhóm.
- Vận dụng kiến thức, giải thích một số hiện tượng cơ bản trong đời sống.
Tuy nhiên thực hành thí nghiệm chứng minh trên lớp là một trong những
phương pháp đặc thù của bộ môn, trong quá trình thực hành thí nghiệm học sinh
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 22
Trịnh Quốc Trung
Giáo viên: Trịnh Quốc Trung
Trang 23