THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS QUẬN 1 - TP HỒ CHÍ MINH - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Út THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP
QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG THCS QUẬN 1 - TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH

cách hiệu quả và sáng tạo, có kỹ năng thực hành cao. Sự phát triể
n nhanh của khoa học và công
nghệ, nhất là công nghệ thông tin ngày càng đòi hỏi người lao động phải cập nhật kiến thức
chính vì vậy người lao động phải có khả năng tự học để học tập suốt đời.
Để người lao động có thể học và tự học suốt đời thì họ phải được hình thành phương
pháp học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Hình thành phương pháp học cho người họ
c
liên quan đến nhiều bình diện của hoạt động dạy học như nội dung chương trình, bản thân
người học như kiến thức, động cơ và hứng thú học, nhất là phương pháp học. Ở người dạy cũng
cần có trình độ chuyên môn cao, nghiệp vụ sư phạm, có đạo đức tốt, môi trường học tập và
nhất là phương pháp dạy học (PPDH). Song phương pháp dạy học là bình diện d
ễ thay đổi và
nó nằm trong khả năng của thầy và trò. Do đó, đổi mới phương pháp là mấu chốt để hình thành
phương pháp học tập, nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với người lao
động trong tương lai.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong nghị quyết Trung
ương 4 khóa VII (1-1993). Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa
trong Luật giáo d
ục (2005). Điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú h
ọc tập cho học
sinh”.
Thực tế nhiều năm qua giáo dục Việt Nam đã đổi mới phương pháp dạy học trên diện
rộng, tuy nhiên phong trào và hình thức còn mang tính bộc phát, chưa hệ thống, chưa đi vào
chiều sâu, thiếu tính ổn định nên hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân của thực trạng này có thể là
do nội dung chương trình chưa tinh giản, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, đời sống giáo viên còn
nhiều khó khăn, tâm lí của giáo viên ngại đổi mới phương pháp, do trình độ và hiểu biết về
phương pháp dạy học mới ở giáo viên còn hạn chế, và do công tác quản lí việc đổi mới phương

4.2. Nguyên nhân của thực trạng trên có thể từ nhiều phía, trong đó, phải nói đến các
biện pháp quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường chưa hệ thống, chư
a
thường xuyên và chưa phù hợp với thực tiễn dạy học ở trường trung học cơ sở Q.1.
4.3. Cần thiết đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học mang tính
hệ thống, thiết thực, toàn diện để góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS tại TP
Hồ Chí Minh.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
5.2. Khảo sát thực trạng đổi mới phương pháp dạy học và quản lý việc thực hiện đổi
mới phương pháp dạy học ở THCS tại Quận 1, TP Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở
THCS.
6- Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ
nghiên cứu việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy và quản lý việc đổi mới
phương pháp dạy ở một số trường THCS Quận 1, TP Hồ Chí Minh.
7- Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
- Quan điểm hệ thống- cấu trúc
Dạy học là một hệ thống gồm nhiều thành tố có quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Phương
pháp dạy học là một trong các thành tố thuộc cấu trúc ho
ạt động dạy học nên khi nghiên cứu
việc đổi mới PPDH phải đặt nó trong mối quan hệ chi phối, ảnh hưởng của các yếu tố khác như
người dạy, người học, nội dung và môi trường.
- Quan điểm thực tiễn
Đổi mới PPDH và quản lí việc đổi mới PPDH phải dựa trên đặc điểm của thời đại – bùng
nổ thông tin, yêu cầu của đất nước – trong th
ời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
thực tiễn giáo dục của VN cả những thành công và tồn tại, đặt trong điều kiện dạy học ở phổ

Sử dụng phần mềm SPSS for window để xử lý số liệu nhằm định lượng kết quả nghiên
cứu.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về các PPDH phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh đã được nhiều nhà
giáo dục học trên thế giới và trong nước nghiên cứu.
Ngay từ trước công nguyên, Socrate (469-390 Tr.CN) - Hylạp, ông đã từng nêu khẩu
hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh”, ông nêu phương pháp, trong đó người dạy chỉ giữ vai trò hướng
dẫn, giúp đỡ, còn người học tự mình tìm ra tri thức. Ông gọi phương pháp này là “Phép đỡ
đẻ”.
Khổng tử (551-479 tr.CN) quan tâm đến việc kích thích tư duy cho học sinh. Ông nói
“Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày
vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”
Đến thế kỷ XVI trở đi, có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra những tư tưởng
tiến bộ như Monteque (1533-1592) Người Pháp được mệnh danh là ông tổ sư phạm của Châu
Âu. Ông chủ
trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc các sự
vật trong đời sống hàng ngày. Muốn giảng dạy tốt “Phải cho học sinh chạy trước mà nhận xét”
chứ không bắt buộc trẻ em nhắm mắt theo những nhận định chủ quan của người thầy.
Comensky (1592-1670) – Slovaquia. Ông đòi hỏi người thầy phải dạy thế nào để cho học
sinh thích thú học t
ập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói : “Tôi thường
bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc
ứng dụng tri thức vào thực tiễn”.
John Dewey (1859-1952) - Người Mỹ, ông chủ trương phải dựa vào kinh nghiệm thực tế
của trẻ em. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy

thông, đây cũng là vấn đề nhà quản lý giáo dục cũng phải suy nghĩ cho chất lượng dạy và học
hiện nay.
Nhìn chung có khá nhiều tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS,
nhưng tài liệu về quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS chưa có đề tài nào
nghiên cứu, chỉ có mộ
t vài bài báo, tạp chí có nêu lên thực trạng về dạy học hiện nay nghiêng
về phương pháp truyền thống, giáo viên vẫn lúng túng khi chưa nhận thức đúng về phương
pháp mới hiện nay và nhà quản lý chưa thúc đẩy giáo viên dạy học theo hướng đổi mới phương
pháp một cách hiệu quả. Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài này để thực hiện ở trường
THCS quận 1-TP Hồ Chí Minh.
1.2. Đổi mới phương pháp dạ
y học
Phương pháp dạy học là một thành phần, bộ phận thuộc yếu tố người dạy. Đây là một
yếu tố động nhất và dễ thay đổi. Nếu thay đổi theo chiều hướng tích cực góp phần tạo nên chất
lượng đáng kể cho hệ dạy học. Để quản lí tốt việc đổi mới PPDH, cần làm rõ một vài khái niệm
liên quan như PPDH, đổi mới PPDH.
1.2.1. Phươ
ng pháp dạy học
Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy
học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của người thầy, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy
học [26, tr.187]
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức
các hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học [11, tr.5]
Dù định nghĩa như thế nào thì nói đến PPDH bao giờ cũng nói đến cách thức hoạt động
phối hợp giữa GV và HS, trong đó PP dạy qui định và chi phối PP học, còn PP học ảnh hưởng
đến PP dạy.
1.2.2.
Các phương pháp dạy học cơ bản trong nhà trường phổ thông
Dựa vào mục đích dạy học cơ bản và phương tiện dạy học chia phương pháp dạy học
thành 4 nhóm, đó là:

phải đổi mới PPDH, nhưng theo hướng nào?
Xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là:
- Tích cực hóa hoạt động dạy học.
-
Cá biệt hóa hoạt động dạy học.
- Công nghệ hóa hoạt động dạy học.
Tích cực hóa hoạt động dạy học là phát huy cao độ tính tích cực, độc lập của HS trong
học tập dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV.
Cá biệt hóa hoạt động dạy học là tổ chức hoạt động dạy học theo kiểu chương trình hóa
để tạo mọi đ
iều kiện cho HS phát triển ở mức cao nhất theo khả năng của mình. Việc dạy học
có thể được tổ chức theo hình thức dạy học không giáp mặt với hệ thống tài liệu in và tài liệu
điện tử.
Công nghệ hóa hoạt động dạy học được hiểu theo nghĩa hẹp là sử dụng các thiết bị kĩ
thuật vào dạy học mà ở đây là công nghệ thông tin.
Trong khuôn kh
ổ đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào hướng đổi mới thứ nhất là tích cực
hóa hoạt động dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
1.2.3.1. Tích cực hóa hoạt động dạy học trong các PPDH truyền thống
Như đã trình bày ở trên, đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ nhận các PPDH truyền
thống mà kế thừa có sáng tạo, phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điể
m của
PPDH truyền thống cũng là một cách đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực, độc lập của
HS trong học tập.
 Với PP thuyết trình
GV nên chuyển sang thuyết trình nêu vấn đề. Thuyết trình nêu vấn đề là một dạng của
thuyết trình, nó vẫn giữ nguyên bản chất của thuyết trình là GV sử dụng ngôn ngữ trình bày tài
liệu từ đầu đến cuối mà không dừng lại phát vấn HS. Cốt lõi của thuy
ết trình nêu vấn đề là GV
nêu vấn đề và tự mình giải quyết vấn đề.

Việc áp dụng các PPDH truyền thống trình bày ở trên có tác dụng hình thành khái niệm,
phương pháp học tập, phương pháp tư duy ở HS để HS có khả năng chuyển sang tình huống
học tậ
p mang tính độc lập cao hơn, đó là tình huống dạy học gợi mở và áp dụng các PPDH
tương ứng.
1.2.3.2. Áp dụng các PPDH hiện đại
Cũng cần nói thêm một chút về thuật ngữ “PPDH hiện đại”, PPDH hiện đại theo chúng
tôi hiểu là những PPDH phù hợp với trình độ phát triển của nhà trường trong thời đại hiện nay
và đáp ứng yêu cầu của dạy học trong giai đoạn hiện nay đồng thời phát huy cao độ
tính tự
giác, tích cực độc lập và sáng tạo của HS trong học tập.
Các PPDH hiện đại thuộc kiểu dạy học giải quyết vấn đề, trong đó có nhiều PPDH cụ
thể.

Dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là một kiểu dạy học, một hệ dạy học chứ không hiểu nó như là
một phương pháp dạy học cụ thể. Trước hết cần làm sáng tỏ một vài thuật ngữ liên quan:
Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có qui luật
sẵn cũng như những tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn cản trở cần
vượt qua.
Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần
▪ Trạng thái xuất phát không mong muốn
▪ Trạng thái đích: Trạng thái mong muốn
▪ Sự cản trở
Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục
đích muốn đạt
tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương tiện
(tri thức, kĩ năng,…) để giải quyết.
Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lí thuyết nhận thức. Giải quyết vấn đề có vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nh


bài tập, có thể mỗi nhóm, mỗi dãy bàn thực hiện các nhiệm vụ
riêng biệt.
- GV quan sát và can thiệp sư phạm khi cần thiết (như cố vấn, trọng tài, điều động) để
nhóm học tập đạt được kết quả và kích thích từng thành viên của nhóm tham gia tích cực.
- GV nhận xét, bổ sung và chốt lại các ý chính, nội dung quan trọng từ các ý kiến thảo
luận của các nhóm để HS lĩnh hội được nội dung bài họ
c.


PP Dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) có nguồn gốc từ châu Âu (thế kỉ 16, ở Ý và Pháp).
Đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho DHDA (Richard,
J.Dewey,.v.v.), và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào
người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm. Ban
đầu phương pháp DHDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau
được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội. Hiện nay phương
pháp DHDA được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc
biệt ở những nước phát triển.
Dạy học dự án được hiểu như một phương pháp hay hình thức dạy học, trong
đó người
học tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn,
thực hành.
Hay có thể hiểu: DHDA là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm người học thiết lập
một dự án có nội dung gắn kết với nội dung học tập. Dựa vào tri thức, kinh nghiệm và kĩ năng
vốn có, trên cơ sở phân tích thự
c tiễn thuộc phạm vi học tập, cùng với tài liệu, phương tiện,
người học đề xuất ý tưởng, thiết kế dự án, soạn thảo và hoàn chỉnh dự án.
* Một số đặc điểm của DHDA
-Định hướng vào người học: Trong DHDA, người học tham gia tích cực và tự lực vào

Các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau.
Ki
ến thức lí thuyết, phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Sản phẩm
được tạo ra.
Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Kết quả thực hiện dự án có thể được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau như văn bản
word, bài trình bày đa phương tiện (PPT), một Pub, trang web, một tiểu phẩm hay một hiện
vật,… Sản phẩm của dự án có thể được trình bày trong lớp học hoặc giới thiệu trong trường hay
ngoài xã hội.
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
GV và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả. Từ đó rút ra những kinh
nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Điều quan trọng ở giai đoạn này là GV xây dựng
chuẩn và thang đánh giá cho từng loại sản phẩm đã được qui định cho dự án. Ví dụ, chuẩn
đánh giá cho văn bản word, bài PPT, Pub, hay web,…để khách quan việc đánh giá, thống nhất
trong việc HS tham gia
đánh giá.
Phương pháp DHDA có nhiều ưu điểm như hình thành và rèn luyện kĩ năng tự học,
nghiên cứu khoa học ở HS, và nhiều kĩ năng sống khác như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc
nhóm, kĩ năng tự lãnh đạo bản thân,…Tuy nhiên DHDA có những hạn chế như rất tốn thời gian
và tổ chức không tốt sẽ không đảm bảo được rằng HS lĩnh hội đượ
c kiến thức của bài học, môn
học.
1.3. Một số khái niệm quản lý liên quan đến đề tài
1.3.1. Quản lý giáo dục
Khái niệm quản lí (QL) giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau như
quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô (quản lí cả hệ thống giáo dục quốc dân), và quản lí giáo dục ở
cấp độ vi mô (quản lí một trường học). Chúng tôi chọn khái niệm qu
ản lí giáo dục nói chung và
được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt
động của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất [18, tr 38]

gồm 3 bước :
 Xây dựng các tiêu chuẩn giáo dục.
 Đo đạc việc thực hiện.
 Điều chỉnh các sai lệch.
Thông qua ki
ểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các
thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
1.3.2. Quản lí trường học
QL trường học : Theo GS.VS Phạm Minh Hạc, QL nhà trường là thực hiện đường lối GD
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí
GD, để tiến tới mục tiêu GD, m
ục tiêu đào tạo đối với ngành QL, với thế hệ trẻ và với từng sinh
viên. Đó là đưa đối tượng của quá trình QL giáo dục từ trạng thái này sang trạng thái khác.
QL trường học còn được hiểu là QL của Hiệu trưởng một trường đến toàn bộ những con
người, những hoạt động, những tổ chức và những phương tiện vật chất kĩ thuật, tài chính của
nhà trường để
đạt được mục tiêu giáo dục.
QL trường học chính là quản lý các hoạt động của giáo dục, nhằm đạt mục tiêu của giáo
dục đề ra, trong đó phải lấy việc quản lý hoạt động dạy học là khâu cơ bản.
QL trường học hiệu quả theo tác giả Alma Harris, Nigel Bennett, Margaret Preedy. Họ
nhấn mạnh nhiều vào sự áp dụng lí luận hiện đại của quản lý nhà trường như:
-Văn hóa nhà trường
- Quản lý sự thay đổi trong trường học
-Tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược phát triển trong nhà trường
-Quản lý chất lượng giáo dục
-Phát triển các giá trị trường học
-Kiểm soát sự căng thẳng trong tổ chức nhà trường và kiểm soát các mâu thuẫn của quá
trình đào tạo
- Xây dựng động lực nhóm trong nhà trường
-Tuyên truyền và tổ chức thông tin trong QL nhà trường (EMIS)

1.4.1. Khái niệm : QL việc đổi mới PPDH được hiểu là những tác động của HT đến toàn
bộ con người, tổ chức và các điều kiện vật chất của nhà trường nhằm làm cho việc đổi mới
PPDH đạt được mục tiêu đ
ã đề ra.
Như vậy, chủ thể quản lí việc đổi mới PPDH là HT. Đối tượng chịu sự quản lí là Tổ CM,
công đoàn, Đoàn thanh niên, toàn thể GV, Ban quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ
việc đổi mới PPDH.
QL việc đổi mới PPDH phải thực hiện theo 4 chức năng của quản lí là kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ
đạo thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh.
1.4.2. Nội dung quản lý đổi mới PPDH
1.4.2.1. Kế họach hóa việc đổi mới PPDH
Kế hoạch đổi mới PPDH được coi như một nhiệm vụ của năm học trong kế hoạch hoạt
động của nhà trường. Cụ thể :
- Xác định mục đích đổi mới PPDH là phát huy cao độ tính tích cực học tập của HS
nhằm nâng cao chất l
ượng dạy học.
- Xác định xu hướng đổi mới PPDH và các PPDH cụ thể cần áp dụng.
- Xác định các nguồn nhân lực, vật lực cho việc đổi mới PPDH phù hợp với điều kiện
của nhà trường.
- Thiết lập lộ trình thực hiện đổi mới PPDH cho từng giai đoạn trong một năm, các năm
học tiếp theo.
HT chuyển giao kế hoạch đổi mới PPDH đến GV trong toàn trườ
ng bằng nhiều con
đường, hình thức như đưa vào trong nội dung họp giao ban với lực lượng cán bộ cốt cán của
nhà trường, qua các cuộc họp với Tổ CM trong các buổi họp Hội đồng GV.
1.4.2.2. Tổ chức việc thực hiện đổi mới PPDH
- Lập danh mục công việc cần làm để đạt mục tiêu đổi mới PPDH. Ví dụ như:
+ Thảo luận thống nhất mục tiêu đổi mới PPDH trong toàn tr
ường.


vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho việc đổi mới PPDH, tránh lãng phí, kém hiệu quả khi sử
dụng.
+ Công đoàn, Đoàn thanh niên hưởng ứng kế hoạch đổi mới PPDH của nhà trường lên kế
hoạch cho hoạt động phong trào đổi mới PPDH trong các công đoàn viên, trong các đoàn viên.
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng PPDH tích cực nhằm trang bị cho GV những
PPDH để GV có nhiều cơ
hội lựa chọn phù hợp. Chú ý nội dung, hình thức bồi dưỡng, thời
gian để thu hút nhiều GV và CBQL tham dự.
- Trong chỉ đạo thực hiện đổi mới PPDH, HT chú trọng chỉ đạo tổ CM thực hiện đổi mới
PPDH như :
+ Đưa việc đổi mới PPDH thành một nội dung chính của các buổi sinh hoạt chuyên môn
nhằm giải quyết, tháo gỡ những vấn đề nảy sinh như chưa thống nhất được mục tiêu, hướng đổi
mới PPDH, đăng kí tiết thao giảng, dự giờ để GV học hỏi PPDH lẫn nhau.
+ Tổ CM quản lí đổi mới PPDH của GV ngay từ kế hoạch bài dạy. Kiểm tra mức độ phù
hợp gi
ữa PPDH và mục tiêu bài dạy, PPDH được lựa chọn và thiết kế nhằm phát huy tính tích
cực nhận thức của HS.
+ Tổ CM quản lí việc đổi mới PPDH ở trên lớp của GV thông qua hình thức dự giờ định
kì, đột xuất và các giờ thao giảng. Chú ý khi dạy giáo viên đã sử dụng các PPDH được lựa chọn
và thiết kế trong tình huống lớp học cụ thể như thế nào? Có kết hợp khéo léo, linh hoạt các
PPDH hay không? các PPDH phát huy tính tích c
ực, độc lập, sáng tạo nhận thức của HS đến
mức nào?
Trong bài dạy ở trên lớp giáo viên kích thích hứng thú học tập, khơi dậy tính tò mò ham
hiểu biết, đòi hỏi và tạo điều kiện để HS phát huy tính tích cực học tập trong học tập từ đầu đến
cuối bài dạy hay không? Chẳng hạn như các câu hỏi được đề xuất ra sao, các bài luyện tập được
xây dựng như th
ế nào? Mức độ hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức khi củng cố bài học
được thực hiện như thế nào?

dự giờ đã xây dựng theo chuẩn đầu năm, nhằm phát hiện những trường hợp GV vẫn chưa đổi
mới PPDH để tạo điều kiện giúp đỡ, uốn nắn kịp thời.
BGH kiểm tra GV sử dụng đồ dùng trực quan, thực hành thí nghiệm, những phương tiện
DH giúp GV ứng dụng công nghệ thông tin như “Giáo án điện t
ử” phối hợp các PPDH hiện đại
khác, để tránh sự nhàm chán, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh hoặc giúp các em tự
khám phá kiến thức mới bằng PP dạy học theo dự án, một khi tự khám phá các em sẽ hiểu sâu
và nắm vững kiến thức, có như vậy các em mới vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. HT
chú trọng công tác tự kiểm tra các bộ phận và giúp các bộ phận tự
điều chỉnh, bổ sung những
thiếu sót.
Ngoài tiết dự giờ HT có thể như tham gia họp tổ, kiểm tra hồ sơ sổ sách chuyên môn,
nhất là “Giáo án” của GV, từ đó phát hiện những GV dạy đổi mới PP chưa hiệu quả thì điều
chỉnh cho phù hợp hoặc tổ chức các buổi chuyên đề hoặc mời các chuyên gia trong lĩnh vực về
đổi mới PPDH để tập huấn, có nh
ư vậy đổi mới PPDH mới đem lại chất lượng trong dạy và
học.
Đổi mới cách ra đề kiểm tra, theo hướng tái hiện kiến thức, hiểu và vận dụng tri thức
vào thực tiễn, dần dần chuyển sang hướng kiểm tra vấn đáp, đôi khi mạnh dạn áp dụng bài viết
tiểu luận thay cho bài viết truyền thống từ trước đến nay, đồng thời người quả
n lý chú trọng xây
dựng ngân hàng đề để tránh tình trạng học lệch, học tủ. Kiểm tra phải thật nghiêm túc, từ đó
mới đánh giá kết quả học tập của HS và chất lượng giảng dạy của mỗi GV.
Mỗi học kỳ HT tổ chức đánh giá các chuyên đề, các báo cáo khoa học, những bài viết về
đổi mới PPDH, sự đánh giá công bằng, khách quan từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và
có khen th
ưởng động viên những GV có đóng góp cao trong việc thực hiện đổi mới PPDH.
Hiệu trưởng có những biện pháp kích thích tâm lý GV, khơi dậy lòng tận tâm, yêu nghề,
trách nhiệm, nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH, động viên về mặt
tinh thần lẫn vật chất, nhằm lôi cuốn các bộ phận hoạt động tích cực. Khen thưởng những cá

THCS QUẬN 1-TP HCM

2.1. Khái quát về mẫu khảo sát
2.1.1. Khái quát về dạy học ở trường THCS tại Q.1 TP Hồ Chí Minh
Quận 1 là quận trung tâm của TP Hồ Chí Minh, có điều kiện phát triển về mọi mặt như
kinh tế, văn hoá xã hội, là một trong các quận có sự đầu tư về cơ sở vật chất và đầu tư cho giáo
dục cũng được chú trọng, nhất là về phương tiện dạy học hi
ện đại, nhờ vậy mà Phòng Giáo Dục
quận 1 đã chỉ đạo triển khai sớm nhất về thiết kế bài giảng trên máy tính. Ngoài ra quận 1, có
một số trường được sự quan tâm chú ý của của phụ huynh ở quận khác về cơ sở vật chất, chất
lượng dạy học, vì vậy họ rất muốn gởi con vào trường quận 1 như trường Nguyễn Du, Trần
Văn Ơ
n. Bên cạnh những mặt mạnh, quận 1 có những mặt cần quan tâm, mặc dù là quận trung
tâm, cũng có một số trường đóng trên địa bàn như khu vực Cầu Muối như trường Đồng Khởi,
Minh Đức hay trường Đức Trí đóng ở khu Mã Lạng… những nơi này dân cư xảy ra nhiều tệ
nạn như cha mẹ buôn bán ma túy hoặc dân nhập cư, cha mẹ HS lao động chân tay, ít quan tâm
đến việc học hành của con em củ
a mình, cũng ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học cho toàn
quận, vì đa số phụ huynh thiếu sự quan tâm đến việc học con em họ, mặt khác cũng có thành
phần phụ huynh khá giả nhưng bận rộn công việc kiếm sống nên cũng không quan tâm việc học
tập của con mình, để HS trốn học chơi điện tử, nên tình trạng chung hiện nay vẫn có nhiều HS
lười học, đến l
ớp thiếu tập trung, điều đó cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện đổi mới PPDH
của GV. Hiện nay về thực hiện đổi mới PPDH đang được xã hội quan tâm và rất nhiều báo đài
đề cập đến, mặc dù Bộ Giáo dục – Đào tạo có chú trọng đến đổi mới PPDH, nhưng thực tế vẫn
chưa nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mớ
i PPDH ở quận 1, chỉ áp dụng đối với một số thầy cô
trẻ và tích cực, còn hầu như chỉ áp dụng trong các tiết thao giảng chuyên đề ở cấp trường, cấp
quận. Vì áp dụng phương pháp mới đòi hỏi người thầy đầu tư nhiều hơn khi soạn giáo án, thiết
kế bài giảng theo hướng lấy hoạt động học sinh làm trung tâm, trong đó phải có hoạt động của

Mức 4: Ứng với r
ất cần thiết/ thực hiện thường xuyên/ đạt kết quả tốt/ Rất quan trọng.
Mức 3: Ứng với cần thiết/ thực hiện thỉnh thoảng/ đạt kết quả khá/ Quan trọng
Mức 2: Ứng với ít cần thiết/thực hiện không thường xuyên/ kết quả trung bình/ Ít quan
trọng
Mức 1: Ứng với không cần thiết/ không thực hiện/ kết quả yếu/ Không quan trọng.
Phiếu h
ỏi được thăm dò trên ba đối tượng là GV, CBQL và HS. Nội dung phiếu hỏi của
GV và CBQL là giống nhau. Tuy chỉ có phiếu hỏi HS có khác bởi có những vấn đề liên quan
đến việc đổi mới PPDH và QL việc đổi mới PPDH học sinh không biết nên chúng tôi không
hỏi. Vì thế, mẫu khảo sát của HS lớn nhưng các số liệu chỉ mang tính tham khảo, hỗ trợ còn
thông tin thu được từ CBQL, GV mới là chính cho vấn đề chúng tôi khảo sát.
2.2. Thực trạng đổi mớ
i phương pháp dạy học ở THCS, Q1 -TP HCM
Tâm lí học đã khẳng định nhận thức là cơ sở, nền tảng cho hoạt động của con người diễn
ra. GV chỉ tích cực thực hiện đổi mới PPDH khi họ nhận thấy cần thiết phải đổi mới và CBQL
chỉ quản lí hiệu quả việc đổi mới PPDH khi nhận thấy cần thiết phải đổi mới PPDH trong hoạt
động dạy học của nhà trường. V
ậy kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV, CBQL về các
vấn đề liên quan đến đổi mới PPDH như thế nào?
2.2.1. Thực trạng nhận thức về đổi mới PPDH
Kết quả khảo sát về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH được thể hiện ở bảng dưới đây.
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi nhận xét như sau:
Bảng 2.2. Nhận thức về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH
Mức độ Rất cần thiết Cần thiết Ít cần thiết Không
GV CBQL GV CBQL GV CBQL GV CBQL
Tỉ lệ (%)
36.7 48.3 52.0 43.3 10.2 6.7 0.0 1.7

- Đa số GV và CBQL đều cho rằng đổi mới PPDH là rất cần thiết (36.7% và 48.3%) và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status