LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế do Đại hội Đảng VI ( tháng 12/ 1986)
đề ra, ngày 26/3/1988 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký quyết định 53/HĐBT về
việc đổi mới tổ chức và hoạt động ngân hàng theo mô hình Ngân hàng 2 cấp và
thành lập các ngân hàng chuyên doanh : NHNN làm chức năng quản lý nhà nước về
tiền tệ - tín dụng - ngân hàng; NH chuyên doanh trực tiếp kinh doanh tiền tệ - tín
dụng và dịch vụ ngân hàng. Đây là bước ngoặt quan trọng, mang tính đột phá trong
sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nói chung và hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói
riêng. Theo đó, tháng 7/ 1988 NHCT Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động
19 năm xây dựng và trưởng thành, NHCT Việt Nam đã vượt qua nhiều khó
khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp phần tích cực
thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước; không ngừng phấn
đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những NHTM hàng đầu ở Việt
Nam, có bước phát triển và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu to lớn trên
mọi mặt hoạt động kinh doanh - dịch vụ ngân hàng; phát triển đồng đều cả kinh
doanh đối nội và kinh doanh đối ngoại, công nghệ ngân hàng tiên tiến, có uy tín với
khách hàng trong nước và quốc tế
NHCTVN đã góp phần đắc lực trong việc thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ
quốc gia, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng trong thời kỳ đổi mới, thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Sự đóng góp to lớn của NHCT trong sự nghiệp phát triển kinh tế được thông
qua các mặt nghiệp vụ của Ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng. Đây là hoạt
động vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nhất là trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, vì nó cung cấp nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế, là yếu tố đầu
vào của nền kinh tế.Chính vì lý do này mà em mạnh dạn chọn đề tài về hoạt động
tín dụng của Ngân hàng Công thương, cụ thể tại Chi Nhánh Thái Bình. Thái Bình là
một tỉnh có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, trao đổi giao
3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Những vấn đề chung về Ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng và các tổ chức tín dụng:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
Ngân hàng và các họat động khác có liên quan .
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ Ngân
hàng,Thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp
các dịch vụ thanh toán.
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ tái chiết khấu làm phương tiện thanh toán. Ngân
hàng thương mại là Ngân hàng trực tiếp giao dịch với công ty xí nghiệp, tổ chức
kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân…bằng tiền gửi tiết kiệm, cho vay và cung
cấp các dịch vụ Ngân hàng cho các đối tượng này
Nhận tiền gửi Cho vay Tiết kiệm cung cấp DVNH
Các khoản vốn tự có hay vốn cổ phần và lợi nhuận trước thuế hay tài sản ròng
cũng dược xem là những yếu tố cấu thành của tài sản Nợ.
Vốn tự có :
Bao gồm vốn điều lệ và các loại quỹ dự trữ và quỹ khác
- Vốn điều lệ : là số vốn ban đầu khi thành lập Ngân hàng do ngân sách cấp, hoặc
do cổ đông đóng góp hoặc 100% vốn nước ngoài, được ghi vào điều lệ của Ngân
hàng. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHNN quy định .
- Các quỹ dự trữ : Là các quỹ bắt buộc phải trích trong quá trình tồn tại và phát triển
của Ngân hàng. Nguồn hình thành quỹ dự trữ là trích theo tỷ lệ phần trăm theo quy
định trên số lợi nhuận ròng của Ngân hàng.Các quỹ này bao gồm : quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi,quỹ khác.
Vốn đi vay
- Nợ các cá nhân và doanh nghiệp dưới các hình thức tiền gửi tại Ngân hàng, nó bao
gồm : tiền gửi không kỳ hạn của đơn vị, cá nhân, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, cả khoản tiền gửi
khác
- Nợ các NHTM khác thông qua thị trường liên Ngân hàng ( là thị trường mua bán
tiền ngắn hạn hoặc thị trường giao dịch vay và cho vay vốn ngắn hạn giữa các
NHTM và giữa NHTM với NHTW nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời của các
NHTM)
- Nợ NHTW lúc này NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng dưới hình
thức phát hành tiền qua kênh NHTM
- Vốn vay Ngân hàng nước ngoài hoặc các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm
tài trợ cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh
Vốn khác: 5
61.1.3 Vai trò chức năng của Ngân hàng thương mại
*Vai trò :
Trong nền kinh tế thị trường,Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng:
Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho quá trình sản xuất
kinh doanh
Ngân hàng là trung gian thanh toán, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng
hoá nhanh chóng
Góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường vốn
Thu hút và mở rộng đầu tư trong nước và cung cấp dịch vụ tài chính khác
* Chức năng:
Trong nền kinh tế hàng hoá, Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng
sau:
Chức năng thứ nhất : Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng cơ bản nhất của Ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển. Ngân hàng thương
mại huy động và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như
vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, tiết kiệm của dân
cư…để hình thành nguồn vốn cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế
Chức năng thứ hai : Ngân hàng là trung gian thanh toán và quản lý các phương
tiện thanh toán
Khi khách hàng đến gửi tiền vào Ngân hàng, họ sẽ được Ngân hàng đảm bảo
trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất là
những khoản có giá trị lớn cùng khắp địa phương mà nếu tự làm sẽ tốn kém khó
khăn. Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo ra những công cụ lưu
thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó như séc, giấy chuyển ngân, thẻ
giá cả chính là phần tiền tăng thêm so với giá trị ban đầu của số tiền đem cho vay.
Cụ thể là lãi suất của món vay chính là biểu hiện của giá cả trong quan hệ tín dụng
Như vậy, tín dụng là một chức năng cơ bản và quan trọng nhất của Ngân hàng.
Bên cạnh đó, tín dụng còn là nghiệp vụ kinh doanh mang lại phần lớn thu nhập cho
Ngân hàng và nó quyết định thành công hay thất bại của Ngân hàng trên thị trường.
Vì thế, dưới giác độ của Ngân hàng tín dụng được hiểu là :”Tín dụng là một giao
dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay.Trong đó bên 8cho vay chuyển giao phần tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất
định theo thoả thuận, bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi
cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.”
Quan hệ giao dịch giữa người cho vay và người đi vay thể hiện các nội dung sau:
Người cho vay hay còn gọi là trái chủ chuyển giao cho người đi vay hay còn
gọi là người thụ trái một lượng giá trị nhất định. Gía trị này có thể dưới hình thái
tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bị,bất động sản
Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau
khi hết thời gian sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho
vay. Xuất phát từ nguồn gốc Latinh, tín dụng là cred-sự tín nhiệm, điều đó có nghĩa
là trong quan hệ tín dụng người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một
thời gian nhất định trong tương lai mà hai bên đã thoả thuận
Gía trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác
người cho vay sẽ được thêm phần lãi ngoài số vốn gốc đã cho vay trước đó
Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, người đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả
tiền vay vô điều kiện khi đến hạn trả nợ. Tuy nhiên về mặt pháp lý thì cơ sở của
việc hoàn trả vô điều kiện này chính là các hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ,
giấy tờ có giá khác …
Tóm lại : Bản chất tín dụng thể hiện ở 3 đặc điểm sau:
-Chỉ thay đổi quyền sử dụng mà không thay đổi quyền sở hữu vốn tín dụng
-Có thời hạn xác định do thoả thuận của người cho vay và người đi vay
-Người sở hữu vốn tín dụng nhận được một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức
1.2.1.3 Chức năng tín dụng
* Chức năng phân phối lại tiền tệ
Từ bản chất của tín dụng đã cho thấy tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ
thể này sang chủ thể khác. Nhờ sự chuyển nhượng này mà chủ thể vay vốn nhần
được phần tài nguyên phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng
+ Tập trung vốn : Tín dụng là nơi thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế từ cá
nhân, các tổ chức kinh tế…
+ Phân phối vốn : Tín dụng cung cấp vốn cho nền kinh tế
Có 2 cách phân phối vốn là : trực tiếp và gián tiếp
* Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội 10 Trước kia tín dụng lưu thông chủ yếu dưới dạng hiện vật nhưng sau khi quan
hệ tín dụng phát triển thì tín dụng lưu thông bằng giá trị. Trong nền kinh tế thị
trường, hoạt động tín dụng phát triển đa dạng phong phú, chức năng này thể hiện
qua 3 điểm cơ bản sau:
+ Thay thế tiền tệ kim loại, tiền giấy bằng kỳ phiếu, séc … để giảm các chi phí
in ấn bảo quản .
+ Sự ra đời của loại tiền ghi sổ (bút tệ) đã làm giảm khối lượng tiền phát hành,
giảm chi phí trung chuyển, cất giữ tiền tại doanh nghiệp. Ngoài ra thanh toán thông
qua Ngân hàng an toàn nhanh chóng, hiệu quả và tiện lợi hơn.
+ Tín dụng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ
* Chức năng phản ánh và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kình tế
Để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách tài chính
tiền tệ trong một thời kỳ nhất định, lãi suất tín dụng trở thành công cụ nhạy bén và
linh hoạt để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền khỏi lưu thông nhằm ổn
định nền kinh tế
* Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn, tập trung sản xuất và
tác động tới việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả và có lợi tức.
Do đó, hoạt động tín dụng đã kích thích việc sử dụng vốn có hiệu quả. Các doanh
nghiệp được vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh và tăng cường năng lực nhưng
đồng thời cũng phải tôn trọng các điều kiện trong hợp đồng tín dụng.Từ đó, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường chế độ hạch toán
kinh tế của doanh nghiệp
* Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm., ổn định trật tự xã
hội
Khi kinh tế đang tăng trưởng và các điều kiện về tiền tệ ổn định thì xã hội mới
phát triển, các thành viên mới có đời sống ổn định. Chính sự đầu tư vốn thúc đẩy
sản xuất thì tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng của cải cho xã hội. Vì
thế cần phải đa dạng hoá các loại hình tín dụng để nhu cầu vốn của mọi thành phần
kinh tế đều được đáp ứng
1.2.1.5 Các loại tín dụng Ngân hàng 12 Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một số
tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập
quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại
cho vay dựa vào các hình thức sau đây:
Căn cứ vào mục đích
thì cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, còn trên thế giới thì thời hạn
này đến 7 năm
Tín dụng trung hạn chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định,cải tiến công
nghệ, thiết bị, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn
nhanh. Trong sản xuất nông nghiệp, cho vay trung hạn chủ yếu là đầu tư các đối
tượng như: máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây cà phê, tiêu, điều
* Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm trở lên ở Việt Nam và
trên 7 năm đối với thế giới, thời gian tối đa lên đến từ 20-30 năm, cá biệt có thể lên
đến 40 năm
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng cung cấp để đáp ứng các nhu cầu về nhà ở, các
thiết bị máy móc, phương tiện vận tải có quy mô lớn …
Các Ngân hàng thương mại từ lâu đã coi tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ truyền
thống nhưng từ thập niên 70 trở lại đây các Ngân hàng đã tăng dần cơ cấu vay
trung, dài hạn tăng lên trong tổng dư nợ
Căn cứ mức độ tín nhiệm khách hàng
Theo căn cứ này, cho vay chia làm 2 loại :
*Cho vay không đảm bảo : Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính
mạnh, quản trị hiệu quả thì Ngân hàng cấp tín dụng chỉ dựa vào bản thân khách
hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung thứ 2
* Cho vay có đảm bảo : Là loại cho vay dựa trên cơ sở như đảm bảo thế chấp,
cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng thì khi vay vốn phải
có đảm bảo. Sự đảm bảo này là cơ sở pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu nợ
thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Căn cứ phương pháp hoàn trả
Cho vay được chia làm hai loại :
Ngân hàng Khách hàng
15
Cấp vốn (1)
Thanh toán nợ (2)
Các Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
(1) Chiết khấu thương phiếu
Người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong hạn thanh toán có thế
nhượng lại cho Ngân hàng. Trong trường hợp này Ngân hàng cấp cho khách hàng
một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí. Khi các chứng
từ đến hạn thanh toán thì người thụ lệnh hoặc người phát hành lệnh phiếu có trách
nhiệm thanh toán cho Ngân hàng. Cần lưu ý, trong nghiệp vụ chiết khấu thương mại
người được cấp tín dụng và chịu trách nhiệm thanh toán là hai người khác nhau.
(2) Mua bán các phiếu bán hàng tiêu dùng và các máy móc nông nghiệp trả góp. Do
sự tác động của phương thức tiêu thụ hàng hoá gắn liền với tiếp thị nên thúc đấy các
(1) Doanh nghiệp thương mại bán chịu hàng hoá cho người mua,người tiêu dùng
hoặc nông đân
(2) Doanh nghiệp thương mại chuyển nhượng phiếu bán hàng trả góp cho Ngân
hàng để được tài trợ vốn
(3) Người mua thanh toán cho Ngân hàng theo định kỳ
(4) Mua các khoản nợ doanh nghiệp (factoring)
Nghiệp vụ factor hay còn gọi là vốn ngắn hạn. Nghiệp vụ này thường do các
công ty mua nợ thực hiện
1.2.1.6 Quy trình tín dụng :
* Khái niệm :
Quy trình tín dụng là tổng hợp những nguyên tắc, quy định của Ngân hàng
trong việc cấp tín dụng. Trong đó, xây dưngj các bước đi cụ thể theo một trật tự
nhất định từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt các
quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình liên hoàn theo một trật tự nhất định,
đồng thời có liên quan chặt chẽ gắn bó với nhau
Về mặt thời gian, quy trình tín dụng được chia làm 3 giai đoạn : trước khi
cấp tín dụng, trong khi cấp tín dụng và sau khi cấp tín dụng. Tuy nhiên về mặt
tác nghiệp, quy trình tín dụng được chia làm các bước sau:
(1) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Ngân hàng
Doanh nghiệp
thương mại
Người mua 17(2) Phân tích tín dụng
thẩm định 2. Phân tích tín
dụng
-Hồ sơ đề nghị vay
từ giai đoạn một
chuyển sang
- Các thông tin bổ
sung từ phỏng vấn
,
hồ sơ lưu trữ
Tổ chức thẩm định
về mặt tài chính và
phi tài chính do các
cá nhân hoặc bộ
phận thẩm định
thực hiện
Báo cáo kết quả
thẩm định để
chuyển sang cho
bộ phận có thẩm
quyền và quyết
định cho vay 3. Quyết định
tín dụng
- Các tài liệu và
thông tin từ giai
cơ sở giải ngân
điều kiện của hợp
đồng tín dụng
gửi cho khách
hàng hoặc
chuyển trả cho
đơn vị cung cấp
5. Giám sát và
thanh lý tín
dụng
- Thông tin từ nội
bộ Ngân hàng
- Các báo cáo tài
chính theo định kỳ
- Các thông tin
khác
- Phân tích hoạt
động tài khoản, các
báo cáo tài chính,
kiểm tra cơ sở của
khách hàng
- Tái xét và xếp
hạng
- Thanh lý tín dụng
- Báo cáo kết
quả giám sát và
đưa ra các giải
pháp xử lý
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Mục đính sử dụng vốn hợp pháp
Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quuy định của Chính phủ và
Ngân hàng nhà nước.
1.2.2 Một số khái niệm trong tín dụng
1) Thời hạn cho vay : Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc, lãi tiền vay và phí (nếu có) đã được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng cho vay và khách hàng.
2) Thời hạn giải ngân: Là khoảng thời gian từ ngày có hiệu lực rút vốn đến
ngày hết hiệu lực rút vốn của hợp đồng tín dụng.
3) Thời gian ân hạn: Là khoảng thời gian từ ngày khách hàng nhận tiền vay lần
đầu tiên đến trước ngày bắt đầu của kỳ hạn trả nợ đầu tiên.
4) Thời hạn trả nợ : Là khoảng thời gian do Ngân hàng cho vay và khách hàng
thoả thuận và ghi vào HĐTD, được tính từ ngày bắt đầu của kỳ hạn trả nợ đầu tiên
đến ngày khách hàng phải trả hết nợ gốc, lãi vay và phí (nếu có)
5) Kỳ hạn trả nợ: Là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả
thuận trong HĐTD giữa Ngân hàng cho vay và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng
thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã vay
6) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ : Là việc NH cho vay điều chỉnh kỳ hạn trả nợ,
điều chỉnh số tiền trả nợ hoặc gia hạn nợ vay đối với khoản nợ vay của khách hàng 207) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ : Là việc NH chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc
và (hoặc) lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong
- T hu nhập cá nhân : tiền lương và các khoản thu nhập tài chính và các khoản cho
vay tiêu dùng .
* Nguồn thu nợ thứ hai bao gồm : Gía trị tài sản thế chấp, cầm cố của bên vay
hoặc bên bảo lãnh đối với cho vay thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Bảo đảm tín
dụng thực hiện dưới hai hình thức chính :
+ Bảo đảm đối vật: Là hình thức bảo đảm tín dụng mà Ngân hàng đóng vai trò
là chủ nợ được thừa hưởng một số quyền lợi đối với khách hàng. Căn cứ thu hồi nợ
không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Các phương thức thực hiện : thế chấp tài
sản, cầm cố (các tài sản , các giấy tờ có giá…)
+ Bảo đảm đối nhân: Là việc cam kết của một hay nhiều người về việc trả nợ
thay cho khách hàng vay vốn trong trường hợp không hoàn trả được nợ. Được thực
hiện bằng phương thức bảo lãnh
1.3.1.2 Vai trò của bảo đảm tín dụng :
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều thành phần kinh tế cùng
tham gia hoạt động. Vì thế, ngoài những doanh nghiệp,cá nhân làm ăn chân chính
thì cũng không thể không có những kẻ có các hành vi bất chính như: lừa đảo, kinh
doanh chụp giặt, buôn lậu và làm trái pháp luật …Vì thế, NH muốn kinh doanh có
hiệu quả, thu hồi vốn vay, hạn chế rủi ro xảy ra, bắt buộc cho vay phải có đảm bảo.
Thứ nhất BĐTD có vai trò nâng cao trách nhiệm trả nợ của bên vay.Thứ hai, bảo
đảm tín dụng đóng vai trò ngăn ngừa các rủi ro,gian lận có thể xảy ra. Tuy nhiên,
bảo đảm tín dụng không thể coi là yếu tố quyết định trong việc ra các quyết định
cho vay
* Bảo đảm tín dụng thể hiện các lợi ích sau:
Bảo đảm tín dụng giúp Ngân hàng tạo thêm sự an toàn đồng vốn và chất lượng
tín dụng
Bảo đảm tín dụng tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng tín dụng, đồng thời tạo
thêm cơ hội trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Bảo đảm tín dụng góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng
với quy định của pháp luật;
Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ ;
Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín
dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng; cam kết 23trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản quy
định trên
Riêng đối với khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài những điều kiện trên thì
còn phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề với thời điểm
xem xét cho vay.
Chú ý : Một số biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp vay không có bảo đảm
bằng tài sản :
1) TCTD chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản
2) TCTD nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính
phủ
3) TCTD cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ
chức đoàn thể chính trị - xã hội.
1.3.2 Rủi ro tín dụng
1.3.2.1 Tổng quan về các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế thị trường luôn hàm chứa rất nhiều rủi
ro. Vì các rủi ro trong các hoạt động kinh tế luôn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến các hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Các rủi ro có thế xảy ra với Ngân
hàng thường là các loại chủ yếu sau:
Rủi ro tín dụng:
Là những rủi ro của Ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong quá trình cho vay, rủi
tệ. Các Ngân hàng gánh chịu nhiều rủi ro này do sự khác biệt đồng tiền giữa các
nước. Khi tỷ giá có sự biến động dẫn đến các khoản thu về ngoại tệ của Ngân hàng
phải theo tỷ giá mới. Biện pháp hạn chế thường không mấy hiệu quả do các yếu tố
khác từ bên ngoài. Tuy nhiên, bằng các cơ chế điều hành tỷ giá, quan hệ cung cầu
về tiền tệ và dự trữ ngoại tệ sẽ hạn chế các rủi ro xảy ra.
Rủi ro thanh khoản
Là những rủi ro mà Ngân hàng không thể đảm bảo được khả năng thanh
toán làm ảnh hưởng tới hoạt động .
Các nhu cầu thanh khoản gồm có :
Nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng
Nhu cầu thanh toán của khách hàng
Nhu cầu vay vốn của khách hàng (những khoản tín dụng hợp lý) 25 Một khi mất cân đối thanh khoản xảy ra khi vốn khả dụng của Ngân hàng
gồm: tiền mặt, nợ thu được, các khoản tăng tài sản nợ khác,… không thể đáp ứng
các khoản chi như : chi trả tiền gửi khi đến hạn, các loại khác,các khoản nợ của
Ngân hàng trên thị trường, nợ đáo hạn liên Ngân hàng, các khoản tín dụng hợp
lý…Vì thế nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giảm thiểu rủi ro thanh khoản
1.3.2.2 Những thiệt hại do rủi ro gây ra
Thiệt hại đối với Ngân hàng
Nguồn vốn huy động thường chiếm 80% đến 90% tổng nguồn vốn của
Ngân hàng. Do đó, thu hồi các khoản nợ không đúng hạn sẽ làm giảm khả năng chi
trả các khoản vay nợ của Ngân hàng, không thể thanh toán tiền gửi khi đến hạn. Vì
thế khách hàng sẽ mất long tin gây khó khăn cho kinh doanh của Ngân hàng. Nếu
xảy ra ở một tỷ lệ cao thì Ngân hàng làm ăn thua lỗ có thể dẫn đến phá sản
Thiệt hại đối với nền kinh tế