32 Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Kiên Giang - Pdf 23

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
1.1.1. Khái niệm NHTM:
NHTM (Commercial Bank) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có
tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa,
ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó – kinh
tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định
chế tài chính không thể thiếu được.
NHTM là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí nghiệp, TCKT,
tổ chức đoàn thể và các cá nhân,… bằng việc nhận tiền gửi các loại,… cho vay và
cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng nêu rõ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
có liên quan”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã nói: “Ngân hàng thương mại là
những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Như vậy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng
vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các
nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có
thể cho vay phát triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của NHTM thể hiện qua các điểm sau:
- NHTM là một TCKT, một doanh nghiệp;
- NHTM hoạt động mang tính chất kinh doanh.
1
1.1.2. Các nghiệp vụ của NHTM:
1.1.2.1. Nghiệp vụ nguồn vốn và tài sản nợ:

hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi vay (chi phí mua quyền sử dụng tiền tệ) cho bên
cho vay. Phạm trù tín dụng gắn liền với sản xuất, lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản
xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có tín dụng tồn tại và sự vận động của nó luôn
mang tính chất động lực của các quan hệ kinh tế.
1.2.1.2. Chức năng của tín dụng:
- Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này mà các nguồn
vốn tiền tệ trong xã hội được điều tiết từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng
nhằm phát triển nền kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi
của tín dụng.
+ Tập trung vốn tiền tệ: Nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các
nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốn
bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức đoàn thể, xã hội.
+ Phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là mặt cơ bản của chức năng này – đó là sự
chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu của sản
xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội.
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc
hoàn trả. Vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, thúc đẩy
việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Nhờ chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng, mà phần
lớn nguồn tiền trong xã hội từ chỗ tiền “nhàn rỗi” một cách tương đối đã được huy
động và sử dụng cho các nhu cầu sản xuất và đời sống, làm cho hiệu quả sử dụng vốn
trong toàn xã hội tăng.
- Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:
3
Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền
mặt và chi phí lưu thông cho xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau đây:
+ Hoạt động tín dụng, trước hết nó tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ
lưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các phương

của toàn xã hội.
- Tín dụng quốc tế: Tín dụng quốc tế là quan hệ tín dụng giữa các Chính phủ,
các tổ chức tài chính tiền tệ được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm
trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế xã hội của một nước.
1.2.2. Tín dụng ngân hàng:
1.2.2.1. Phân loại tín dụng ngân hàng:
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa theo
một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để
thiết lập các qui trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị RRTD. Phân
loại tín dụng dựa vào các căn cứ sau:
- Dựa vào mục đích vay: Bao gồm: Cho vay bất động sản; Cho vay công
nghiệp và thương mại; Cho vay các định chế tài chính; Cho vay cá nhân; Cho thuê
của các định chế tài chính; Cho vay khác;
- Dựa vào thời gian cho vay: Bao gồm: Cho vay ngắn hạn; Cho vay trung
hạn; Cho vay dài hạn.
- Dựa vào mức độ tín nhiệm: Bao gồm: Cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản; Cho vay có bảo đảm bằng tài sản.
- Dựa vào xuất xứ tín dụng: Cho vay trực tiếp; Cho vay gián tiếp.
1.2.2.2. Các phương thức cho vay:
Theo Điều 16 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước “V/v ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng”, các Tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay để lựa
chọn phương thức cho vay cho phù hợp. Các phương thức cho vay theo Quyết định
bao gồm:
5
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để

1.2.3. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế:
Nói đến vai trò của tín dụng là nói đến sự tác động của nó đối với nền kinh tế
xã hội. Vì thế, điều này bao gồm cả vai trò tích cực và tiêu cực. Chẳng hạn, nếu để tín
dụng tăng trưởng “nóng” sẽ dễ dẫn đến lạm phát cao, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế
- xã hội. Xét về mặt tích cực hoạt động tín dụng có các vai trò như sau:

Thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển:
Hoạt động tín dụng đã giải quyết được mâu thuẫn trong quá trình tuần hoàn và
chu chuyển vốn tiền tệ, trở thành cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, đáp ứng nhu cầu
vốn hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì liên tục và đáp ứng nhu cầu vốn để
đầu tư cho xã hội góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.

Ổn định tiền tệ và giá cả:
Khi thực hiện chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, hoạt động tín
dụng đã làm giảm lượng tiền lưu thông trong xã hội, làm giảm lạm phát, góp phần ổn
định tiền tệ,… làm cho sản xuất ngày càng phát triển, đáp ứng được nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội, góp phần ổn định thị trường giá cả trong nước.

Ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm ổn định và ổn định trật tự xã
hội:
Hoạt động tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát
triển đáp ứng nhu cầu xã hội, mặt khác nhờ hoạt động tín dụng tạo điều kiện và khả
năng khai thác các nguồn lực của xã hội như tài nguyên thiên nhiên, lao động,… do
đó hoạt động tín dụng ngày càng thu hút thêm nhiều lao động của xã hội góp phần ổn
định trật tự xã hội.
7
Ngoài ra hoạt động tín dụng còn phát triển, mở rộng ra phạm vi quốc tế nên
góp phần mở rộng và phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu
quốc tế.
1.3. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM:

hàng. Do đó, toàn bộ phần nghiên cứu hoạt động tín dụng của CN.NHCT.KG chỉ tập
trung nghiên cứu hoạt động cho vay, và sẽ được hiểu xuyên suốt trong các phần trình
bày sau này của luận văn.
1.3.1.2. Một số quy định về chất lượng tín dụng liên quan đến hiệu quả hoạt
động tín dụng:
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “V/v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” và Quyết
định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/4/2005” thì dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm,
cụ thể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn
lại;
- Đối với các khoản nợ quá hạn, khách hàng trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị
quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn
trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng đối với khoản nợ trung và dài
hạn, ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ
gốc và lãi bị quá hạn.
9
- Đối với các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khách hàng trả đầy đủ nợ
gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu sáu (06) tháng,
ba (03) tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và
lãi theo thời hạn được cơ cấu lại.
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:

nêu trên vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, tổ chức tín dụng phải phân
loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất đó.
- Đối với các khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực
hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định nêu trên và phải
thông báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn.
Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ
chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm
nợ của các khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức
tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho
vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối
phân loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo
nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn.
- Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào
các nhóm theo quy định phân loại nợ nêu trên vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo
đánh giá của tổ chức tín dụng khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
+ Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng;
+ Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào
nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin);
+ Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm
liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;
+ Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin
chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
11
Việc phân loại nợ theo Quyết định 493 và Quyết định 18 sửa đổi, bổ sung
Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước không chỉ dựa vào tiêu chí thời gian quá
hạn mà còn dựa vào tiêu chí rủi ro của khoản vay. Điều đó cho thấy Ngân hàng Nhà
nước muốn các NHTM phải đánh giá thực sự các khoản nợ đã cho khách hàng vay
hay nói chính xác là đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín dụng của mình để dần

Dư nợ bình quân
Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng
vay vốn đối với ngân hàng, quy mô hoạt động của ngân hàng, đóng góp của vốn tín
dụng cho nền kinh tế. Vòng quay vốn tín dụng càng lớn chứng tỏ chu chuyển vốn tín
dụng nhanh, tình hình hoạt động tín dụng lành mạnh, ngân hàng thu phí được nhiều
hơn.
b. Đối với nền kinh tế:
Chất lượng tín dụng gắn liền với quá trình và hiệu quả sử dụng vốn tín dụng
của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Doanh nghiệp, cá nhân
sử dụng đồng vốn tín dụng mà ngân hàng đầu tư có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng, phát triển; chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, đời sống kinh
tế - xã hội ổn định, lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa phát triển bình thường,
góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát.
c. Đối với cá nhân, doanh nghiệp vay vốn: Doanh nghiệp, cá nhân sử dụng
vốn vay có hiệu quả sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội,
thực hiện dúng cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, góp phần làm lành
mạnh tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển
của doanh nghiệp về mọi lĩnh vực.
1.3.1.4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và
hiệu quả hoạt động tín dụng:
Tăng trưởng tín dụng thông thường được hiểu là sự gia tăng về mặt lượng của
tín dụng như dư nợ cho vay trong một thời kỳ nhất định.
Tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng
(lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng) có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua
13
lại với nhau tuân thủ theo quy luật lượng chất, nói cách khác trong một hoàn cảnh
kinh tế - xã hội cụ thể để đảm bảo hoạt động tín dụng đạt chất lượng và hiệu quả như
mong muốn thì phải duy trì mức tăng trưởng tín dụng không vượt quá một giới hạn
nào đó, nếu tăng trưởng tín dụng “quá nóng” sẽ có nguy cơ tiềm ẩn làm giảm chất
lượng tín dụng từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động tín dụng kém, thậm chí thua lỗ là

- Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định
cho vay.
- Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm
bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý
các khoản cho vay có vấn đề.
b. Rủi ro danh mục (Portfolio risk):
Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế
trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại:Rủi ro
nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
- Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ
đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
- Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều
đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng
một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng
một loại hình cho vay có rủi ro cao.
1.3.2.3. Nguyên nhân của RRTD:
15
Nguyên nhân gây ra RRTD rất đa dạng, có thể phân loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Một cách phân loại được nhiều ngân hàng thừa nhận là phân tích nguyên
nhân gây ra từ phía người cho vay và người đi vay.
a. Những nguyên nhân từ phía các NHTM có thể bao gồm:
- Không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay;
- Chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích
khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét
phân tích còn hạn chế, chưa chính xác;

tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. RRTD không chỉ gây thiệt
hại trực tiếp cho ngân hàng cho vay mà còn thiệt hại đối với cả nền kinh tế:
- RRTD sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng. Nó làm mất vốn khi cho vay,
gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận,…
- RRTD làm suy giảm uy tín của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và
có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng. Một ngân hàng làm ăn thua lỗ làm cho
khả năng thanh khoản kém có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của
khách hàng, và phá sản là con đường tất yếu.
- RRTD khiến ngân hàng bị thua lỗ và bị phá sản, sẽ ảnh hưởng đến người gửi
tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn,… làm cho nền
kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự
xã hội và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đỗ của hàng loạt các ngân hàng trong nước,
trong khu vực.
- Hơn nữa, sự phá sản của một ngân hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của hàng
loạt các ngân hàng khác và làm ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế.
- Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì trong điều kiện
hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh tế của mỗi quốc gia đều
phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu
tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên RRTD tại một nước luôn ảnh hưởng trực
tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan. Thực tế đã chứng minh qua cuộc khủng
17
hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ
(2001-2002).
1.3.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng:
Hiệu quả hoạt động tín dụng thường được đánh giá ở ba góc độ: đối với ngân
hàng, đối với nền kinh tế và đối với người đi vay.
1.3.3.1. Đối với ngân hàng:
Ở nước ta hiện nay, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ tạo nguồn thu lớn nhất
trong hoạt động chung của các ngân hàng. Vì vậy nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng góp phần làm tăng thêm lợi nhuận của ngân hàng, hoạt động ngân hàng ngày

phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ, mở rộng ngành hàng, tạo thêm nhiều công
ăn việc làm cho người lao động. Mục tiêu cuối cùng là người vay tiền sử dụng vốn
đúng mục đích, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mức sinh lợi của đồng vốn vay
ngân hàng lớn hơn lãi suất tiền gởi tiết kiệm, đời sống của mọi người được nâng cao.
Kết luận Chương I: Hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM gắn liền với
chất lượng và rủi ro tín dụng. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hoạt
động của các NHTM có ý nghĩa rất quan trọng, nó quyết định đến sự tăng trưởng
hoạt động tín dụng của các ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM hoạt động kinh doanh
có lãi, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giữ vững mối liên hệ giữa lưu thông
hàng hóa và lưu thông tiền tệ, ổn định chính sách tiền tệ quốc gia. Với ý nghĩa đó, cần
phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM trong
nền kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đặt ra cho hệ thống NHTM.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG
19
2.1. TỈNH KIÊN GIANG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA CÙNG VỚI CẢ NƯỚC:
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý:
Kiên Giang là tỉnh ở cực Tây Nam của Tổ Quốc, nằm trong vùng đồng bằng
Sông Cửu Long, nằm ở tọa độ từ 104
o
40’ đến 105
o
32’40” kinh độ Đông và 9
o
23’50”
đến 10
o
32’30” vĩ độ Bắc (phần đất liền). Phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh Cần

lượng khai thác là 245 triệu tấn. Với nguyên liệu này đủ để sản xuất 2,8 – 3 triệu tấn
Clinker/năm trong thời gian trên 50 năm
- Du lịch: Du lịch Kiên Giang tiềm tàng nhiều tiềm năng chưa được khai thác
hoặc khai thác chưa đúng mức. Cụ thể: Hà Tiên được xem Hạ Long thứ 2. Đảo Phú
Quốc, hòn đảo lớn nhất Việt Nam được xem là hòn đảo ngọc. Hiện nay, tốc độ tăng
trưởng du lịch của Phú Quốc được coi là cao nhất với mức tăng luôn từ 100% trở lên
so với năm trước đó.
- Giao thông: Kiên Giang có hệ thống giao thông nối với hệ thống đường bộ,
đường thủy và hàng không quốc gia. Kiên Giang là một trong hai tỉnh có 02 sân bay
hoạt động (Sân bay Rạch Giá và Phú Quốc).
Chính phủ đã ưu tiên đầu tư xây dựng một số công trình đi qua hoặc kế cận
tỉnh Kiên Giang như: nâng cấp mở rộng 5 quốc lộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và
đường Xuyên Á; Nạo vét, mở rộng tuyến đường thủy từ TP.HCM đến Kiên Lương;
Nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới sân bay Phú Quốc và Rạch Giá. Đặc biệt là sân
bay Phú Quốc sẽ trở thành sân bay quốc tế.
2.2. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
NHCT.VN VÀ CN.NHCT.KG:
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống NHCT.VN:
NHCT.VN là một trong những NHTM Nhà nước lớn nhất của Việt Nam,
thành lập năm 1988 và được Nhà nước xếp hạng là doanh nghiệp đặc biệt. Theo
Quyết định số 196/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh của NHCT.VN được đổi thành Vietnam Bank
for Industry and Trade, viết tắt là VietinBank (tên giao dịch cũ là Industrial and
Commercial Bank of Vietnam, viết tắt là Incombank)
NHCT.VN có hệ thống mạng lưới gồm 2 Sở giao dịch, 02 văn phòng đại diện,
137 Chi nhánh, 158 phòng giao dịch, 144 điểm giao dịch, 287 quỹ tiết kiệm và hơn
500 “ngân hàng giao dịch tự động” (ATM), 01 Trung tâm đào tạo, 01 Trung tâm
21
Công nghệ Thông tin ở hầu hết các tỉnh, thành phố và trung tâm thương mại trong cả
nước, luôn là địa chỉ thuận tiện và đáng tin cậy của cả người gởi tiền, người đi vay và

toán điện tử năm 2003, giải thưởng ngân hàng có “Hoạt động xuất sắc trong thanh
toán quốc tế 2003/2004 với tỷ lệ STP cao” do Citigroup trao tặng và giải thưởng
“Thương hiệu mạnh Việt Nam" năm 2004 và năm 2005, 2006 trong đó năm 2005 và
2006 đạt Topten; giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt” năm 2004, 2005 cho thương hiệu
NHCT; Giải thưởng "Thương hiệu cạnh tranh 2006" do Cục Sở hữu trí tuệ trao tặng;
Giải thưởng "Ngọn Hải đăng" năm 2006 do Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ trao
tặng; Giải "Cầu vàng" 2007 do Phòng Thương mại và Công nghiệp VN và Hiệp hội
DNVVN tổ chức bình chọn, Giải "Cúp vàng Thương hiệu và nhãn hiệu" năm 2007,
…tin tưởng NHCT.VN sẽ phát triển toàn diện để vững bước hội nhập.
Quá trình hình thành tổ chức bộ máy hoạt động của NHCT.VN có thể được
chia thành 03 giai đoạn sau:
- Giai đoạn thứ nhất (từ tháng 7/1988 đến hết năm 1990): Trong giai đoạn này,
NHCT Trung ương chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý như một liên hiệp Xí nghiệp đặc
biệt, các Chi nhánh thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập.
- Giai đoạn thứ hai (từ tháng 1/1991 đến tháng 9/1996): Sau khi Pháp lệnh
Ngân hàng có hiệu lực thi hành (10/1990), theo quyết định 402/CT ngày 14/11/1990
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), NHCT.VN mới
thực sự trở thành một NHTM có chức năng kinh doanh tiền tệ. Mô hình tổ chức kinh
doanh được định hình rõ: NHCT.VN là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, thực
hiện hạch toán kinh tế độc lập, có các Chi nhánh là các đơn vị thành viên hạch toán
phụ thuộc.
- Giai đoạn thứ ba (từ tháng 9/1996 đến nay): Theo mô hình Tổng Công ty
Nhà nước, NHCT.VN được quản lý bởi Hội đồng quản trị, điều hành bởi Tổng Giám
đốc, có các Chi nhánh là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc (Chi nhánh cấp
I).
2.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển CN.NHCT.KG:
23
CN.NHCT.KG là Chi nhánh trực thuộc hệ thống NHCT.VN, được thành lập
theo Quyết định số 61/NH-TCCB ngày 14/7/1988 của Tổng giám đốc NHNN.VN, có
trụ sở đặt tại số 63, đường Lê Lợi, P. Vĩnh Thanh Vân, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên

Kho quỹ, Phòng Tổ chức – Hành chính, Tổ quản lý rủi ro và nợ có vấn đề, Tổ điện
toán
- 06 Phòng giao dịch trực thuộc: Số 4, Rạch Sỏi, Bến Nhứt, Kiên Lương, Hà
Tiên, Phú Quốc
Riêng phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ do NHCT.VN quản lý và chi trả
lương.
b. Nhân sự:
- Tổng số lao động tại CN.NHCT.KG đến ngày 31/12/2007: 101 người, trong
đó nam: 50 người, nữ: 51 người
- Trình độ chuyên môn:
+ Thạc sĩ: 01 người
+ Đại học và tương đương 80 người
+ Trung cấp: 13 người
+ Sơ cấp: 07 người
c. Sơ đồ bộ máy tổ chức:
25
Giám đốc
P.Giám đốcP.Giám đốc
Phòng
Tiền tệ
- Kho
quỹ
Phòng
Kế
toán
Phòng
Khách
hàng
Tổ
QLRR


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status