BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
CN. HOÀNG VĂN CƢỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU
THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI
CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN - HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HẢI PHÒNG – 2015
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
CN. HOÀNG VĂN CƢỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU
THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ TẠI
CHI CỤC THUẾ HUYỆN KINH MÔN - HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ; MÃ SỐ: 60340401
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
và tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên
cứu thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành
chƣơng trình học tập và thực hiện Luận văn này.
Tác giả luận văn
HOÀNG VĂN CƯỜNG
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU ............................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP
THUẾ ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƢỢNG NỘP THUẾ................................................... 5
1.1. Khái niệm về thuế và quản lý thuế ..................................................................... 5
1.2. Cơ chế tự khai tự nộp, những đặc điểm và điều kiện thực hiện cơ chế ........... 10
1.3. Nội dung của quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế ..................... 15
1.4. Quy trình nghiệp vụ quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế ........... 20
1.5. Kinh nghiệm áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp trong quản lý thu thuế ở một số
quốc gia và một số địa phƣơng . ...................................................................... 22
1.6. Bài học kinh nghiệm chung .............................................................................. 25
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THEO CƠ CHẾ
CCT
Chi Cục Thuế
CNTT
Công nghệ thông tin
DN
Doanh nghiệp
ĐTNT
Đối tƣợng nộp thuế
GTGT
Giá trị gia tăng
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
NNT
Ngƣời nộp thuế
QLT
33
huyện Kinh Môn
2.3
Kết quả công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT 2010 - 2014
42
2.4
Kết quả nộp tờ khai thuế năm 2010-2014
45
2.5
Báo cáo kết quả kiểm tra tại trụ sở NTT giai đoạn 2010-2014 46
2.6
Báo cáo kết quả quản lý thu nợ và cƣỡng chế nợ thuế (20102014)
vi
49
DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ quản lý thu nợ và cƣỡng chế nợ thuế (2010 - 2014)
vii
49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và
quan trọng nhất. Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thƣờng chiếm trên 80% tổng thu
của ngân sách. Ở nƣớc ta nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ
thuế cũng chiếm trên 90% tổng các khoản thu của ngân sách nhà nƣớc (NSNN)
trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây. Bên cạnh đó, chính sách thuế còn là công
cụ hiệu quả để quản lý vĩ mô nền kinh tế phát triển theo định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, tạo môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết
nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và hội nhập
quốc tế. Chính sách thuế là một trong những nội dung quan trọng của chính sách
tài chính quốc gia. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nƣớc và Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp
tục quan tâm đến chính sách thuế và công tác quản lý thu thuế nhằm hƣớng tới một
nền quản lý thuế hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo chƣơng trình cải cách hệ thống thuế ở nƣớc ta đến năm 2020 đã đƣợc
Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, thì việc triển khai áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp
thuế đƣợc xem là một bƣớc ngoặt quan trọng, bƣớc đột phá cơ bản trong chiến
lƣợc cải cách hệ thống thuế nói chung và cải cách công tác quản lý thu thuế nói
riêng. Cơ chế này đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nƣớc phát triển và ngày
càng có nhiều nƣớc đang phát triển nghiên cứu triển khai, áp dụng. Việt Nam chính
thức áp dụng cơ chế quản lý này kể từ ngày 01/7/2007 khi Luật Quản lý thuế có
hiệu lực thi hành.
Đối với địa bàn huyện Kinh Môn sau sáu năm thực hiện quản lý thu thuế
- “Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế trong
nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí Cộng Sản số
803(9), tr. 62-65, 2009.
Những đề tài trên đều đi sâu nghiên cứu về quản lý thu thuế nhƣng ở khía
cạnh và phạm vi khác so với đề tài này. Cho đến nay trên địa bàn huyện Kinh Môn
cũng chƣa thấy có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý thu thuế
theo cơ chế tự khai, tự nộp nhƣ đề tài tác giả lựa chọn.
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thu thuế theo cơ
chế tự khai, tự nộp, phân tích thực trạng quản lý thu thuế ở địa phƣơng, từ đó
tìm kiếm giải pháp, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
chính sách thuế trên địa bàn huyện và đóng góp vào việc tiếp tục hoàn thiện
chính sách thuế và quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp phù hợp với các
điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Kinh Môn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, trong
đó tập trung nghiên cứu về đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo mô hình
chức năng; công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT; công tác thanh tra, kiểm tra
thuế; công tác thu nợ và cƣỡng chế thuế.
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý thu thuế nội địa đối với các sắc thuế bao
gồm: thuế giá trị gia tăng (GTGT); thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); thuế tiêu
thụ đặc biệt (TTĐB); thuế môn bài; thuế thu nhập cá nhân (TNCN); thuế tài
nguyên; thuế nhà, đất trên địa bàn huyện Kinh Môn giai đoạn 2010-2014 và đề
xuất giải pháp đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Vận dụng đƣờng lối chính sách của Đảng, pháp luật của
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ ĐỐI
VỚI CÁC ĐỐI TƢỢNG NỘP THUẾ
1.1. Khái niệm về thuế và quản lý thuế
1.1.1. Khái niệm về thuế, phân loại thuế và đặc điểm của thuế
1.1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nƣớc. Thuế là
công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng,
nhiệm vụ của mình. Sự phát triển kinh tế-xã hội qua các thời kỳ tạo sự hình thành
bộ máy Nhà nƣớc và đòi hỏi phải có một khoản thu NSNN ổn định - đó là Thuế.
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chƣa có thống
nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan
điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau.
Các quan niệm tuy cách diễn đạt khác nhau song đều thống nhất những nội
dung chính của thuế là:
Thuế là biện pháp động viên của Nhà nƣớc mang tính chất bắt buộc đối với
các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của
Nhà nƣớc về một khoản đóng góp cho ngân sách nhà nƣớc.
Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên
trong xã hội phải nộp vào NSNN.
Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tƣ chuyển vào khu vực công nhằm
trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nƣớc và trang trải các chi phí công
cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng.
Thuế là một hình thức phân phối thu nhập đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để
động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào
NSNN.
- Tính bắt buộc: Bằng quyền lực của mình, Nhà nƣớc đặt thành nghĩa vụ
cho mọi ngƣời phải đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật, thuế là một
trong những nghĩa vụ cơ bản của công dân đƣợc quy định trong hiến pháp, là đạo
luật cơ bản của mỗi nƣớc. Chỉ có Quốc hội - cơ quan thẩm quyền cao nhất trong
6
bộ máy quyền lực của mỗi quốc gia có quyền ban hành, sửa đổi và bãi bỏ các thứ
thuế. Thuộc tính cơ bản vốn có của thuế chính là tính bắt buộc.
- Tính không hoàn trả trực tiếp: Khoản nộp về thuế không có tính hoàn trả
và ngang giá trực tiếp, tạo điều kiện cho Nhà nƣớc sử dụng một cách linh hoạt,
hiệu quả khoản thu tiền thuế thu đƣợc. Trƣớc khi thu thuế, Nhà nƣớc không hứa
hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế,
Nhà nƣớc cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT. Lợi ích từ việc nộp
thuế sẽ đƣợc hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc cho
cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, sự hoàn trả này không có tính hoàn nguyên tuyệt đối
bởi sự hoàn trả không mang tính chất đối ứng. Đây chính là điểm khác biệt giữa
thuế và các khoản phí, lệ phí bởi nó có tính chất đối ứng và trao đổi ngang bằng
giữa các khoản phải trả và lợi ích mà ngƣời nộp có thể nhận đƣợc.
- Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao. Điều
đó đƣợc quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nƣớc. Thuế do cơ quan lập
pháp ban hành theo những quy trình, thủ tục quy định rất chặt chẽ. Vì vậy, trong
luật thuế phải quy định rõ phạm vi, hình thức, quy trình pháp lý liên quan đến
nghĩa vụ nộp thuế.
Tóm lại: Từ sự phân tích trên, thuế tồn tại một cách tất yếu khách quan
cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Đặc trƣng cơ bản thuộc về
bản chất thuế, đó là tính pháp luật đã quy định mức đóng góp theo nghĩa vụ của
các thể nhân và pháp nhân. Nhà nƣớc muốn có nguồn thu ổn định, vững chắc để
thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của mình đƣơng nhiên phải tiến hành bằng
hoạch thu, tổ chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra và xử phạt thuế đƣơng nhiên là
những nghiệp vụ thuộc nội hàm đặc quyền đó. Chúng đƣợc gọi chung và thuộc về
khái niệm là quản lý thu thuế. Có thể hiểu đơn giản đấy là những hoạt động thƣờng
xuyên của cơ quan thu hƣớng về phía đối tƣợng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy
đủ, kịp thời và đúng luật định. Đặc biệt, khi hiểu biết chung của toàn xã hội về ý
nghĩa và vai trò của thuế ngày càng gia tăng thì càng đòi hỏi bộ máy quản lý thu
thuế hoàn thiện tính chuyên nghiệp và hợp tác thân thiện với ĐTNT. Nộp thuế trở
thành hành vi thể hiện quyền công dân. Quản lý thu thuế phải góp phần hỗ trợ công
dân thực thi quyền và nghĩa vụ của mình.
8
Nhƣ vậy, “ quản lý thu thuế là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức
năng trong bộ máy nhà nƣớc đối với quá trình tính và thu thuế nhằm tạo nguồn thu
cho ngân sách và đạt đƣợc các mục tiêu nhà nƣớc đặt ra theo đúng các qui định của
pháp luật liên quan” [17].
1.1.2.2. Vai trò của quản lý thuế
Quản lý thu thuế đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý của
Nhà nƣớc, thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Quản lý thu thuế sẽ tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho
NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dƣỡng và phát triển nguồn thu. Một nền tài
chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế
quốc dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, bộ phận cơ bản của nền tài chính
quốc gia lành mạnh. Do vậy, để có nguồn thu phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của
Nhà nƣớc thì công tác tổ chức, quản lý thu thuế phải đáp ứng đƣợc yêu cầu đề ra.
Quản lý thu thuế tốt một mặt sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy
đủ và kịp thời số thu cho NSNN, mặt khác với thuế suất chung hợp lý sẽ kích thích
mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng ĐTNT, do đó vừa tăng thu cho NSNN vừa
tăng qui mô của nền kinh tế.
minh, lịch sự. Hệ thống tin học ngành Thuế hiện đại và hiệu quả.
1.2. Cơ chế tự khai tự nộp, những đặc điểm và điều kiện thực hiện cơ chế [19]
1.2.1. Khái niệm
Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thu thuế trong đó các ĐTNT
căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào
những quy định của pháp luật về thuế để tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp
và tự nộp thuế vào NSNN theo đúng thời hạn quy định của pháp luật, đồng thời
chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai. Cơ
quan Thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của các ĐTNT, trừ khi
phát hiện ra các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế.
Trong cơ chế này, cơ quan Thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hƣớng dẫn để
ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ
nghĩa vụ thuế và thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời,
đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của ĐTNT.
10
1.2.2. Đặc điểm của cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thu thuế hiện đại, hiệu quả, đƣợc
hầu hết các nƣớc trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan Thuế phân bổ
nguồn lực theo hƣớng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý theo yêu cầu rõ
ràng, làm tăng sự minh bạch trong quản lý thu thuế, đồng thời giảm bớt chi phí
quản lý, thúc đẩy cải cách hành chính thuế.
Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đòi hỏi tổ chức, cá nhân nộp thuế phải nâng
cao trách nhiệm vì tờ khai thuế là do tổ chức, cá nhân nộp thuế tự lập trên cơ sở kết
quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần có
sự xác nhận của cơ quan Thuế. Tổ chức, cá nhân nộp thuế chịu trách nhiệm về kết
quả của việc tính thuế, kê khai thuế của mình trƣớc pháp luật.
Để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu và nắm vững các quy định của
Hai là, trình độ dân trí cao, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật của ngƣời dân
tốt, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đạt hiệu quả thiết thực.
ĐTNT là ngƣời trực tiếp tính toán số thuế mà mình phải nộp cho NSNN, do
đó đòi hỏi họ phải có một kiến thức cơ bản để hiểu đƣợc các quy định của luật
thuế. Mặt khác, cơ chế tự khai, tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao của ĐTNT do vậy mà
ngƣời dân cần phải có ý thức cao, tự giác tuân thủ pháp luật. Để đạt đƣợc điều kiện
này thì cơ quan Thuế phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục,
tuyên truyền, phổ biến các chính sách thuế.
Ba là, các cơ quan hành pháp phải có cơ chế phối hợp tốt với cơ quan Thuế
trong công tác quản lý hành chính.
Trong khi cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi ĐTNT phải có sự tự giác tuân
thủ cao thì có một bộ phận không nhỏ dân chúng có ý thức chấp hành pháp luật
chƣa tốt. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan hành pháp nói chung và cơ quan Thuế nói
riêng phải có trình độ quản lý cao để đảm bảo thực hiện đúng những quy định của
pháp luật.
Bốn là, các thủ tục nhƣ đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế phải đơn
giản. Các chƣơng trình thanh tra thuế và cƣỡng chế thuế phải có hiệu quả và hiệu
lực.
12
Các thủ tục về thuế phải đơn giản để giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng hoàn
thành nghĩa vụ của mình đối với Nhà nƣớc. Đồng thời cơ quan Thuế phải luôn
luôn thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các ĐTNT vì gian lận,
trốn lậu thuế là một căn bênh kinh niên tồn tại song song cùng với việc thu thuế
của Nhà nƣớc.
Năm là, cần có chế tài pháp luật đủ nghiêm để răn đe các hành vi vi phạm.
Khi áp dụng mô hình quản lý thu thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thì các chế
tài pháp luật nghiêm minh là rất cần thiết, rất quan trọng trong bối cảnh khả năng
trung thời gian và công sức cho các công việc quản lý khác nhƣ: Công tác phục vụ,
hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hiểu và tự giác thực hiện các nghĩa
vụ thuế của mình đối với NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra, công tác đôn đốc thu
nộp và cƣỡng chế thuế… Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho
ngành Thuế đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quản lý mà cụ thể là đẩy mạnh việc
ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý thu thuế. Đó là tiền đề để nâng
cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế.
Ngày nay, xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và tiến
tới toàn cầu hoá kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tất yếu khách quan, theo đó, hội
nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và sâu nhằm khuyến khích đầu tƣ, tự do hoá
thƣơng mại trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, ngoài việc phải xây dựng hệ
thống chính sách thuế tƣơng thích, công tác quản lý thu thuế phải đƣợc cải cách và
hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm thu hút mạnh mẽ đầu
tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam, tạo môi trƣờng thuận lợi thúc đẩy kinh tế phát triển.
Thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế chính là xu hƣớng cải cách quản lý
thuế quốc tế hiện nay. Cơ quan Thuế thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ
ĐTNT nâng cao tính tuân thủ tự giác chấp hành các nghĩa vụ thuế theo quy định
của pháp luật. Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Ứng dụng
CNTT vào tất cả các khâu quản lý thu thuế.
Áp dụng cơ chế quản lý thu thuế mới còn nhằm để thu hẹp khoảng cách
về trình độ quản lý thuế giữa nƣớc ta với các nƣớc tiên tiến trên thế giới. Nếu
không đẩy mạnh cải cách quản lý thuế, chúng ta sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn so
với trình độ quản lý thuế trong khu vực và các nƣớc phát triển cả về cơ chế quản
lý, công nghệ quản lý, tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý.
14
* Hạn chế
Khi áp dụng một cơ chế chính sách mới bên cạnh những lợi ích to lớn thì
hƣớng dẫn về thời hạn, thủ tục kê khai, nộp thuế và việc quyết toán thuế GTGT và
thuế TNDN có những thay đổi nhằm tạo thuận lợi cho cơ sở kinh doanh tự giác
tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo qui định. Thực chất, đây chính là việc thực hiện
thí điểm hiện đại hóa quản lý thu thuế trên diện hẹp, từ đó rút kinh nghiệm để triển
khai diện rộng trên toàn quốc. Ngày 30/6/2005 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành
Quyết định số 161/2005/QĐ-TTg về việc mở rộng thí điểm cơ sở sản xuất kinh
doanh tự kê khai, tự nộp thuế đối với thuế TTĐB ở khâu sản xuất trong nƣớc; thuế
tài nguyên, thuế nhà đất, thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao và thuế môn
bài. Trên cơ sở Quyết định số 161/2005/QĐ-TTg, Bộ Tài chính đã ban hành Thông
tƣ 82/2005/TT-BTC ngày 21/9/2005 hƣớng dẫn thí điểm cơ sở sản xuất kinh doanh
tự khai, tự nộp thuế TTĐB; Thông tƣ 83/2005/TT-BTC ngày 22/9/2005 hƣớng dẫn
thí điểm cơ sở sản xuất kinh doanh tự khai, tự nộp thuế tài nguyên; Thông tƣ số
41/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn mở rộng
thí điểm cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế nhà đất, thuế thu nhập
đối với ngƣời có thu nhập cao và thuế môn bài.
Bộ Tài chính cho phép thực hiện thí điểm mô hình tổ chức bộ máy theo chức
năng thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên phạm vi cơ quan Thuế cấp Cục. Bộ
Tài chính đã ban hành Quyết định số 3483/QĐ-BTC ngày 07/10/2005 của Bộ
trƣởng Bộ Tài chính về việc mở rộng thí điểm cơ chế tự khai, tự nộp đối với cơ sở
sản xuất kinh doanh; Quyết định số 3483/QĐ-BTC ngày 07/10/2005 của Bộ trƣởng
Bộ Tài chính về việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức của 5 Cục Thuế thí điểm. Theo mô
hình tổ chức mới, việc bố trí, sắp xếp cán bộ theo hƣớng tăng cƣờng nguồn lực cán
bộ cho các phòng có chức năng quản lý ĐTNT nhƣ: Tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT,
thanh tra thuế, quản lý thu nợ thuế, xử lý tờ khai và kế toán thuế. Trên cơ sở đó
nâng cao chất lƣợng cán bộ, xây dựng phƣơng pháp làm việc của CBCC theo
hƣớng chuyên nghiệp, chuyên sâu
Theo đó là một số quyết định của Tổng cục trƣởng Tổng cục Thuế đó là:
- Quyết định số 316/QĐ-BTC ngày 17/02/2009 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính
về việc ban hành Quy chế thi cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế.