MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài....................................................................................2
2. Mục đích - nhiệm vụ..............................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................3
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...........................................................................4
1. Cơ sở lí luận..........................................................................................4
2. Thực trạng vấn đề..................................................................................5
3. Các giải pháp.........................................................................................7
4. Hiệu quả.........……..............................................................................14
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ...........................................................................15
1. Kết luận................................................................................................15
2. Kiến nghị..............................................................................................15
1
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang tiếp tục đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế chính trị
văn hoá xã hội với mục tiêu: Tiếp tục sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hoàn thành thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.
Thể dục thể thao là bộ môn quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa,
là một trong những phương tiện để phát triển con người toàn diện, củng cố và
tăng cường sức khoẻ cho nhân dân lao động góp phần nâng cao đời sống văn
hoá, tinh thần cho con người.
Từ khi đất nước mới độc lập Bác Hồ đã nói về vấn đề sức khoẻ của con
người rất sâu sắc và nhất quán: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời
sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công. Mỗi một người dân
2
tạo khả năng chống đỡ những tác động có hại của môi trường. Hình thành và
hoàn thiện cho các em những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản. Hình thành thói
quen giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể thường xuyên, giáo dục phẩm chất ý
chí, đồng thời xây dựng niềm tin khát vọng sống lành mạnh trong mỗi học sinh.
Do đó, vai trò của môn học Thể dục ở các trường THCS là vô cùng quan trọng.
Tuy nhiên, hiện nay các trường THCS ở cả nước có nhiều sự khác biệt,
khác biệt ở chỗ giữa các trường ở nông thôn và thành thị; các trường đồng bằng
và miền núi. Do đó mỗi vùng miền và địa phương (có các cơ sở giáo dục) phải
có nội dung, cách thức, phương pháp giáo dục phù hợp với điều kiện, phong tục
tập quán ở mỗi địa phương đó. Đối với Trường THCS Sơn Lư cũng như các
trường trên toàn huyện Quan Sơn khác với các trường miền xuôi là trong mỗi
trường, mỗi lớp có đa phần học sinh là người dân tộc thiểu số khác nhau dẫn đến
sự thiếu mạnh rạn kết nối với nhau khi mới vào học chung ở đầu cấp học, giữa
các học sinh trong lớp cũng như trong trường. Để tạo được hứng thú và mối
đoàn kết giữa học sinh mà vẫn đảm bảo được lượng vận động trong tiết dạy thể
dục của mình, thì chỉ có trò chơi mới tạo được sự gần gủi, gắn kết được các em,
sẽ giúp giáo viên giải quyết được vấn đề này. Chính vì lý do đó mà tôi mạnh dạn
nghiên cứu đề tài:
“SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG DÂN GIAN VÀ TRÒ
CHƠI VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀO TIẾT HỌC THỂ
DỤC TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SƠN LƯ – QUAN SƠN”
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm:
- Tạo sự hứng thú trong tiết học thể dục.
- Tạo sự đoàn kết, hiểu biết và gắn kết các học sinh trong lớp và trong trường
góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.
II. NỘI DUNG
“SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG DÂN GIAN VÀ TRÒ
CHƠI VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀO TIẾT HỌC THỂ
DỤC TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SƠN LƯ – QUAN SƠN”
1. Cơ sở lý luận:
1.1.Trò chơi
Trò chơi là: “Hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí”. Trong cuộc sống, ở
lứa tuổi nào con người cũng cần được vui chơi. Trò chơi là một hoạt động tự
nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu (giao lưu, giải trí, vận động,
nhận thức, giáo dục, v.v...), đa dạng của con người. Xét về mặt hình thức, vui
chơi có khi thoải mái, không câu nệ vào luật lệ, quy định, cấu trúc chặt chẽ, chế
ước giữa các thành viên. Và ngược lại, có khi phải “giao ước” với nhau thế này
thế nọ, không được “phá luật”, nếu không thì “cuộc chơi” sẽ tan vỡ. Đó là
trường hợp “trò chơi”. Như vậy, đã gọi là “trò chơi” thì phải tiến hành có “các
bước” nhất định, có “quy ước” hay “luật” bất thành văn, phải tuân theo “đạt” thì
“thắng” (được), không “đạt” thì “thua” (không được). Nếu không theo những “lệ
luật” đó thì các thành viên sẽ “không chơi nữa”, trò chơi “phá sản”. Mục đích
của trò chơi không đạt được.
1.2. Trò chơi “dân gian”
Trò chơi ngày nay của trẻ em có loại do người lớn tổ chức, hướng dẫn
(như trường hợp các trò chơi của học sinh ở trường mẫu giáo hay tiểu học); có
loại do các em tự tổ chức vui chơi với nhau (trong nhà, ngoài sân, ngõ xóm, sân
đình, bãi cỏ, sân trường, v.v...). Trước đây, trẻ em chơi những trò chơi được lưu
truyền từ ông bà, cha mẹ, anh chị; tức là lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác; từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Cách thức lưu truyền là thế hệ trước
“truyền dạy” và thế hệ sau “học/bắt chước”. Và mỗi thế hệ lại “bổ sung, sáng tạo
thêm” những yếu tố mới vào các trò chơi đó cho phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh, sở thích, nhu cầu, nguyện vọng, môi trường sống mới. Nguồn gốc của trò
chơi có thể do người lớn “nghĩ ra”; cũng có thể hoàn toàn do các em “sáng tạo
ra”. Rồi ngày một “hoàn thiện”. Tóm lại, đây là những trò chơi “dân gian”, đồng
tiết lên lớp, những vấn đề kiến thức có liên hệ thực tế đến bản thân học sinh thì
sẽ sôi nổi và hiệu quả. Do đó giáo viên cần lưu ý việc nêu gương những điển
hình tốt của học sinh trong lớp, trong trường về mọi mặt như trung thực, đoàn
kết, giúp đỡ mọi người, vượt qua mọi khó khăn để đến lớp,... Đó là những minh
chứng cụ thể nhằm dần dần hình thành cho các em những biểu tượng và khái
niệm về phẩm chất đạo đức tốt, đồng thời khắc phục dần những tàn dư lạc hậu
cũ rơi rớt trong nhận thức của một số em.Và đặc biệt là những bất đồng trong
một lớp nói riêng hay trong trường nói chung giữa các em khác dân tộc thiểu số
với nhau.
2.Thực trạng:
Trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Sơn đã tích
cực hưởng ứng, tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” và đạt được một số kết quả bước đầu, một số nội
dung trong phong trào thi đua đã đạt được kết quả tốt; tuy nhiên, việc thực hiện
5 nội dung của phong trào thi đua nói chung, đặc biệt việc tổ chức các trò chơi
dân gian trong các cơ sở giáo dục hiện nay còn nhiều hạn chế. Để tiếp tục thực
hiện hiệu quả phong trào thi đua góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện trong các trường học, đáp ứng yêu cầu “Đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục Việt Nam” trong giai đoạn tới, việc tổ chức các trò chơi dân gian trong
trường học là cần thiết và phải được duy trì thường xuyên. Để đưa trò chơi dân
gian vào trường học có hiệu quả, vấn đề đặt ra đối với các nhà lãnh đạo, quản lý
giáo dục, các thầy, cô giáo các trường học cần thực hiện tốt công tác tuyên
truyền về ý nghĩa, mục đích của trò chơi dân gian, trò chơi của các dân tộc thiểu
số; thực hiện hiệu quả việc khai thác và phương pháp tổ chức trò chơi dân gian
trò chơi của các dân tộc thiểu số; phân loại, lựa chọn trò chơi cho phù hợp tâm
lý lứa tuổi và mục tiêu đào tạo học sinh từng cấp học; việc bố trí thời lượng tổ
chức các trò chơi; công tác bồi dưỡng, tập huấn,... nhằm mang lại hiệu quả cao
nhất việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh đáp ứng yêu cầu đào
tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ đất nước thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
22/40 (55%)
động dân gian và trò
chơi vận động của các
dân tộc thiểu số
Hiểu biết về trò chơi
13/40 (32,5%)
27/40 (67,5%)
vận động dân gian và
trò chơi vận động của
các dân tộc thiểu số
Mạnh dạn tự tin tham
10/40 (25%)
30/40 (75%)
gia hoạt động trò chơi
Thể hiện tinh thần
12/40 (30%)
28/40(70%)
đoàn kết
Biết tự tổ chức trò chơi
10/40 (25%)
30/40 (75%)
đã được tham gia
Sáng tạo trong khi
9/40 (22,5%)
31/40 (77,5%)
chơi trò chơi
Kết quả học tập môn
24 (60%)
16 (40%)
thể dục
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi đã tìm hiểu, tham khảo và lựa chọn
được một số trò chơi phù hợp với việc luyện tập thể lực cũng như việc rèn luyện
đạo đức, tinh thần đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau của học sinh như sau:
*Trò chơi 1: “Rồng ấp trứng” là trò chơi dân gian truyền thống của dân tộc H ’
Mông.
- Mục đích:
Đây là trò chơi thể hiện sức khỏe, sự khéo léo, nhanh trí, thông minh của
người cướp trứng và sự nhanh nhẹn, dẻo dai của người giữ trứng.
- Chuẩn bị: Mỗi đội tham gia chơi Rồng ấp trứng có 4 người.
Trước khi bước vào trò chơi, cần có một bãi đất bằng phẳng, rộng rãi và sạch sẽ
để vẽ vòng ấp trứng. Đường kính vòng ấp trứng khoảng 2 mét, vòng cướp trứng
bao bọc lấy vòng ấp có đường kính lớn hơn cỡ khoảng 5 mét. Tâm vòng ấp
trứng đường kính 0,5m.
Trứng là những hòn sỏi to, thậm chí bằng đá được bà con mài dũa nhẵn nhụi to
hơn quả trứng gà, 6 quả trứng như vậy được đặt trong tâm vòng ấp trứng.
- Cách chơi: Trò chơi chia làm hai đội. Trong đó, đội một có nhiệm vụ cử một
người “giữ trứng”.
Với nhiệm vụ “đặc biệt quan trọng” này, đòi hỏi người giữ trứng phải lực
lưỡng, nhanh nhẹn. Có như thế, họ mới đảm trách được sự tấn công hung hãn
của những "kẻ thù" muốn xâm hại ổ trứng. Với trò chơi này, người giữ trứng
luôn ở thế hai tay chống xuống đất hai chân choài phía sau trong vòng tròn 2
8
mét, bụng gần như úp lên trứng và đánh trả người cướp trứng bằng chân trong
vòng tròn 2 mét. Tuy nhiên, luật chơi quy định người giữ trứng không được đá
vào mặt người cướp trứng, cũng như không được dùng tay đánh trả người cướp
trứng.
Trong khi đội một là người giữ trứng thì đội hai cử ba người cướp trứng.
nhất và vạch thứ 2, khoảng cách từ vạch đánh đến điểm đánh tùy vào khả năng
của các đội chơi.
- Cách chơi: Tó má lẹ có nhiều bước chơi nhưng thông thường người ta chơi
theo 5 bước:
+ Bước thứ nhất người chơi đặt má lẹ lên đầu gối, dùng ngón cái bật má lẹ sao
cho trúng má lẹ đội bạn và bay đến đích hoặc quá đích theo quy định.
+ Bước thứ hai người chơi đúng ở vạch quy định tung má lẹ về phía hàng má lẹ
đội bạn, má lẹ dừng ở điểm nào, lấy điểm đó làm điểm để đánh.
9
+ Bước thứ ba người chơi dùng tay búng má lẹ từ điểm đánh sao cho trúng má lẹ
Cái của đội bạn.
+ Bước thứ tư, đặt má lẹ lên mu bàn chân, vừa nhảy vừa dùng chân đánh má lẹ
sao cho má lẹ bắn vào má lẹ đội bạn.
+ Bước cuối cùng người đánh tung má lẹ đánh dấu vạch đánh, rồi từ vạch đánh
dùng má lẹ của mình đánh cho trúng má lẹ đội bạn. Người nào, đội nào vượt qua
được cả năm bước chơi trên sẽ thắng cuộc.
* Trò chơi 3: “Ném còn” là trò chơi truyền thống của dân tộc Tày, Thái,
Mường.
- Mục đích: Đây là một trò chơi thể hiện sự khéo léo, chính xác, bình tĩnh của
người chơi.
- Chuẩn bị: Cần 5-10 quả còn nhỏ, quả còn được khâu bằng vải, hình tròn hay
hình vuông bên trong bỏ cát hay vật liệu tùy theo… để tạo trọng lượng khi tung ,
bên trong chứa khoảng 200gr. Quả còn có gắn dây quay, trọng lượng, kích
thước không quy định hình dáng tùy theo bản sắc từng dân tộc. Sân là bãi cỏ
bằng phẳng, chiều dài tối thiểu 30m, chiều rộng 10m. Cột đỡ vòng tròn để tung
còn cao 8-10 (tùy theo độ tuổi, thể hình người chơi có thể làm thấp hơn). Được
cố định thẳng đứng với mặt sân. Vòng tung còn làm bằng tre, luồng hay mây
- Cách chơi:
+ Khi đang cầm cờ nếu bị bạn vỗ, chạm tay vào người thì bị thua cuộc.
+ Khi lấy được cờ chạy về vạch xuất phát của đội mình không bị đội bạn vỗ,
chạm tay vào người thì thắng cuộc.
+ Khi có nguy cơ bị vỗ vào người thì được phép bỏ cờ xuống đất để tránh bị
thua.
+ Số nào vỗ, chạm số đó không được vỗ, chạm vào số khác. Nếu bị số khác vỗ,
chạm vào thì không bị thua.
+ Số nào bị thua rồi “bị chết” quản trò (trọng tài) không gọi số đó chơi nữa.
+ Người chơi không được ôm, giữ nhau cho bạn cướp cờ.
+ Người chơi tìm cách lừa đối phương để mang cờ về, lựa chọn sân bải phù hợp
để tránh nguy cơ, cờ ra khỏi vòng tròn, để cờ lại vòng tròn chỉ được cướp cờ
trong vòng tròn.
+ Khoảng cách cờ (vòng tròn để cờ) đến hai đội bằng nhau.
*Trò chơi 5: “Đẩy gậy”
- Mục đích: Đẩy gậy vừa là trò chơi dân gian, vừa là môn thể thao truyền thống,
thường được tổ chức vào dịp đầu xuân, trong những ngày Tết, ngày Hội văn hoá
- thể thao…Vào những dịp này, Đẩy gậy đã tạo nên vẻ đẹp mang đậm màu sắc
dân tộc và là hình ảnh đặc trưng của lễ hội miền núi. Môn thể thao này phù hợp
với tố chất của đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó góp phần đẩy mạnh phong trào
TDTT, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần ở thôn - bản, đối với học
sinh tham gia tập luyện, chơi môn đẩy gậy tăng cường sức khỏe, ý chí, sự quyết
tâm vượt qua khó khăn thử thách. Ở đâu có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
thì ở đó - môn thể thao này được phát triển mạnh hơn.
- Chuẩn bị: Để tổ chức thi đấu môn Đẩy gậy chỉ cần có gậy thi đấu làm bằng
tre già (tre đực) thẳng hay những thanh gỗ tốt có chiều dài 2m, đường kính từ 45cm, được sơn 2 màu đỏ và trắng (mỗi màu 1m); đầu và thân gậy phải được bào
nhẵn và có đường kính bằng nhau. Sân thi đấu là một vòng tròn có đường kính
5m, vạch giới hạn rộng 5 cm nằm trong phạm vi của sân có mầu trắng hoặc khác
với màu nền sân!
- Cách chơi: Sau khi các VĐV đã hoàn tất thủ tục chuẩn bị thi đấu, trọng tài
thứ VI - năm 2010, là môn thể thao đưa vào thi đấu tại hội khỏe phù đổng Tỉnh
lần thứ IX năm 2015 và hội khỏe phù đổng toàn Quốc lần thứ IX năm 2016,
đánh dấu bước ngoặt phát triển cho môn thể thao dân tộc này!
*Trò chơi 6: “Kéo co”
- Mục đích: Trò chơi kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao
giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh ý chí, kỹ
thuật, tinh thần đoàn kết để kéo cho được bên kia ngã về phía mình và giành
chiến thắng.
- Chuẩn bị: Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong
trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa
chồng.
Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc
cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy
dây thừng để kéo. Một vị chức sắc, bô lão hay trọng tài cầm trịch ra hiệu lệnh (ở
các hội làng).
Hiện nay thường sử dụng dây thừng to chia 2 đội để kéo có vạch ở giữa sân, có
thể chia 2 đội theo số lượng người bằng nhau hoặc chia 2 đội theo cân năng
tương đương nhau để kéo.
- Cách chơi: Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên
ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng “dô ta”, “cố lên”.
Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu
hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Đang
giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba
keo.
Hiện nay kéo co cũng đã đưa vào các cuộc thi ở các xã, huyện, tỉnh. Không đơn
thuần giành cho người lớn mà lứa tuổi học sinh cũng được tham gia và tập
12
Ghi chú
và khảo sát
cực
tích cực
Ham thích trò chơi vận
36/40 (90%)
4/40 (10%)
động dân gian và trò
chơi vận động của các
dân tộc thiểu số
Hiểu biết về trò chơi
37/40 (92,5%)
3/40 (7,5%)
vận động dân gian và
trò chơi vận động của
các dân tộc thiểu số
Mạnh dạn tự tin tham
34/40 (85%)
6/40 (15%)
gia hoạt động trò chơi
Thể hiện tinh thần đoàn
25/40 (62,5%)
15/40 (37,5%)
kết
Biết tự tổ chức trò chơi
30/40 (70%)
10/40 (30%)
đã được tham gia
13
cũng thấy được kết quả của việc đưa sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy là
phù hợp, mang lại hiệu quả tích cực được đồng nghiệp đánh giá cao. Không
những có sức ảnh hưởng từ những tiết học, những cuộc thi đấu mà còn có ảnh
hưởng đến các phong trào do nhà trường, đoàn – đội tổ chức cho học sinh toàn
trường như tổ chức thi các môn TDTT kéo co, đẩy gậy, ném còn,… trong các
ngày lễ, tết, ngày kỉ niệm trong năm học như: 2/9, 20/10, 20/11, 22/12, 8/3, 26/3,
30/4, 15/5,…được tất cả học sinh trong nhà trường tham gia đông đảo, vui vẻ
giúp các em nâng cao sức khỏe, tham gia tốt việc học tập và rèn luyện trong một
năm học. Bản thân cũng tích cực tham mưu với các ban ngành đoàn thể trong xã
để thường xuyên tổ chức các trò chơi, môn thể thao dân tộc vào các dịp lễ, hội ở
địa phương tăng tình đoàn kết dân tộc, phát huy và giữ gìn các trò chơi, các môn
thể thao của dân tộc mình. Qua đó các em học sinh được tham gia nhiều hơn,
được giao lưu với nhiều bạn trong xã, cũng có thể những bạn ở trong huyện tăng
thêm tình hưu nghị, đoàn kết và hiểu biết lẫn nhau của mọi người, của các dân
tộc anh, em.
14
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Cơ sở lý luận, thực trạng là những căn cứ đặc biệt quan trọng trong việc lựa
chọn chính xác các trò chơi thực nghiệm.
Hiệu quả phát triển nhân cách học sinh cần phải kết hợp hài hòa tất cả các
môn học trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong đó có môn Thể dục, cần
chú ý đến học sinh để phát triển không chỉ mình thể chất mà còn giáo dục về
đức, trí, mĩ. Trò chơi dân gian và trò chơi của các dân tộc thiểu số phản ánh nét
văn hoá cộng đồng của dân tộc, khu vực hoặc vùng miền vì thế việc tổ chức cho
các em học sinh chơi các trò chơi dân gian và trò chơi của các dân tộc thiểu số là
một trong những cách thức giáo dục, hình thành nét nhân cách mang bản sắc văn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên môn Thể dục 6, 7, 8, 9
2. Phân phối chương trình môn thể dục
3. Tài liệu lí luận và phương pháp giảng dạy thể dục thể thao
4. Tài liệu truyền thống về các môn TDTT dân tộc của Xã, Huyện
5. Trò chơi vận động dân gian và dân tộc thiểu số
6. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn thể dục ở trường THCS
7. Luật thi đấu các môn TDTT dân tộc
8. Luật thi đấu kéo co (26/4/2014)
9. Luật thi đấu đẩy gậy (26/4/2014)
10. Hướng dẫn giảng dạy TDTT; Tác giả GS – TS: Trịnh Trung Hiếu
16
17