Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 3
----------o0o----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH
LỚP 12 - BAN KHTN ÔN TẬP VĂN NGHỊ LUẬN
XÃ HỘI MỘT CÁCH HỨNG THÚ
Ở TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 3
------------*****------------
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Thủy
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn.
THANH HÓA NĂM 2016
1
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
6
1.2. Nghị luận xã hội.
6
2. Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 12 Ban
KHTN.
7
2.1. Kĩ năng nhận dạng đề văn.
7
2.2. Kĩ năng tìm hiểu đề.
9
2.3. Kĩ năng lập ý.
11
2.4. Kĩ năng lập dàn ý.
13
3. Kĩ năng tìm dẫn chứng.
này, học sinh được rèn luyện các thao tác nghị luận như giải thích, phân tích,
chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận, qua các kiểu bài tự sự, biểu cảm, thuyết
minh, nghị luận (Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội).
Thời gian trước đây, môn làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào
nghị luận văn học, coi trọng nghị luận văn học, khiến học sinh chỉ quẩn quanh
với kiến thức sách vở, sự liên hệ với thực tế đời sống ít ỏi. Việc dạy và học văn
phần nào đó trở nên phiến diện, máy móc, giáo điều. Kiểu bài nghị luận văn học,
giúp học sinh cách cảm thụ, phân tích đánh giá một áng văn, một bài thơ, nhân
vật, tình tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương.
Những năm gần đây chương trình dạy học và thi môn văn có nhiều đổi
mới. Văn nghị luận xã hội được đưa vào chương trình các cấp học từ THCS đến
THPT. Kiểu bài này, rèn luyện cho học sinh cách nhìn nhận, kiến giải, trình bày
những ý kiến riêng về một vấn đề tư tưởng đạo lí hoặc một vấn đề xã hội đáng
quan tâm. Rèn luyện cho học sinh kiểu bài nghị luận xã hội không chỉ đáp ứng
cho việc làm bài kiểm tra, tham gia các kì thi mà còn cần thiết cho học sinh
những kĩ năng bước vào đời. Bởi vì, trong cuộc sống, dù làm bất cứ việc gì,
trong lĩnh vực nào, mỗi người đều phải trình bày chính kiến, quan điểm của bản
thân về một vấn đề xã hội đáng quan tâm.
Đối với học sinh lớp 12, đặc biệt là học sinh lớp 12 học theo Ban KHTN
học văn, thi văn luôn là một áp lực gây căng thẳng tâm lí. Thời gian ôn tập
không nhiều, kiến thức của các môn học thì quá lớn. Vậy làm thế nào để cho
việc ôn tập và thi đạt kết quả tốt? Thiết nghĩ đây là một bài toán không đơn giản
cho học sinh và cũng là cho mỗi người thầy trong quá trình hướng dẫn học sinh
học tập và ôn thi đạt hiệu quả.
Trong thực tế các môn thi THPT Quốc gia, môn Ngữ văn bao giờ cũng là
một trong những môn cố định có tính bắt buộc đối với học sinh. Môn học này
chiếm một lượng kiến thức tương đối lớn đòi hỏi học sinh cần phải có kế hoạch
học tập, ôn tập chu đáo thì mới có thể đạt hiệu quả cao. Để làm được điều này
bên cạnh việc nắm vững các kĩ năng làm bài đòi hỏi mỗi học sinh cần phải có
phương pháp học tập hữu hiệu thì mới có thể đạt được kết qủa tốt. Tuy nhiên,
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực tế qua các kì thi: kiểm tra định kì, thi khảo
sát chất lượng, thi thử THPT Quốc gia.
- Phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm: bài viết của học sinh và thống
kê kết quả điểm kiểm tra.
- Khảo sát mức độ hứng thú của học sinh với Văn nghị luận xã hội.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, giáo dục đóng vai
trò vô cùng quan trọng. Mục tiêu giáo dục của quốc gia là đào tạo con người
phát triển toàn diện “vừa hồng vừa chuyên”. Tổ chức khoa học giáo dục thế giới
UNESCO cũng đã đề xướng mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học
để chung sống và học để khẳng định mình”.
Từ năm học 2008 - 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưa vào
đề thi môn văn kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trường Đại học,
Cao đẳng một câu nghị luận xã hội, chiếm 3 điểm trong tổng số đề ra. Từ năm
học 2013-2014, trong kì thi THPT Quốc gia ngoài câu nghị luận xã hội (3 điểm),
ở phần Đọc – hiểu còn có một câu hỏi nhỏ để các em học sinh bày tỏ chính kiến
4
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
của mình về vấn đề được đặt ra trong đề bài bằng một đoạn văn ngắn (5 đến 7
dòng). Kiểu bài nghị luận xã hội được đưa vào chương trình Ngữ văn ở bậc
trung học là hoàn toàn phù hợp với xu hướng giáo dục hiện nay. Nghị luận xã
hội là phưong pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức
làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu của vấn đề được
thuyết chỉ đủ để giáo viên giới thiệu khái niệm, kiểu bài, dạng đề và cách làm
bài một cách đơn giản nhất. Qua một số bài kiểm tra định kì, mỗi bài một câu
nghị luận xã hội chiếm khoảng 30% bài viết chỉ đủ để các em tiếp cận và làm
quen với cách làm bài chứ chưa thể đạt đến độ thuần thục, nhuần nhuyễn được.
Về phía học sinh, một thực tế ở hai lớp 12B1 và lớp 12B2 do tôi trực tiếp
giảng dạy, đó là học sinh không thích học văn, bởi nhu cầu xã hội ngày càng ít.
Các em tập trung nhiều vào các môn KHTN (Toán, Lý, Hóa) để ôn thi Đại học,
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
thời gian giành cho môn Văn không nhiều (nếu không nói là không còn thời
gian). Hơn nữa, các em học sinh đều ở độ tuổi mới lớn, lại ở vùng nông thôn
chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với thực tế đời sống đa sắc, đa chiều, vốn kiến
thức xã hội còn ít ỏi. Số học sinh hiểu thấu đáo vấn đề, có kĩ năng làm bài nghị
luận xã hội tốt không nhiều. Đa phần các em thường ngợp trước các vấn đề xã
hội, hiểu lơ mơ, viết hời hợt. Không có những trăn trở sâu sắc, không có cái nhìn
toàn diện, đa chiều. Học sinh thường cảm thấy khó khăn, ngần ngại trong việc
làm văn khi không hứng thú với đề văn, không nắm vững các thao tác nghị luận,
không nắm vững quy trình làm văn, không có ý tưởng để xây dựng dàn ý, không
tìm được dẫn chứng cho bài viết. Đôi khi viết theo cảm hứng, gặp phải đề lắt léo
hay vấn đề nghị luận ẩn sau câu chữ, hình ảnh ... là không làm được. Nếu không
đặt ra kế hoạch ôn tập cụ thể thì hiệu quả của môn học không cao.
Phụ huynh học sinh và một số giáo viên ở bộ môn khác cho rằng: ôn tập
môn Văn thì cần gì đến giáo viên. Sách tham khảo bán thiếu gì, mua về đọc là
được. Hơn nữa, học sinh khối A thi Văn chỉ cần chống điểm liệt, cần gì phải học
nhiều để dành thời gian ôn tập các môn thi Đại học.
Bùi Thị Thuỷ
phải luôn phát huy tính năng động sáng tạo của bản thân mình để lĩnh hội tri
thức”.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh ôn tập tôi chỉ đưa ra một số nội dung
mang tính định hướng và một vài ví dụ minh họa giúp học sinh nhận biết về lí
thuyết và vận dụng vào các bài tập thực hành theo từng dạng đề.
1. Khái quát chung về nghị luận và nghị luận xã hội.
1.1. Nghị luận.
Nghị luận là bàn bạc đánh giá một vấn đề. Văn nghị luận là dạng bài văn
người viết bàn bạc, trao đổi ý kiến, thái độ của mình về một vấn đề nhằm thuyết
phục người đọc, người nghe chấp nhận, đồng tình với quan điểm của mình. Để
thực hiện điều này, người viết phải vận dụng hợp lý, nhuần nhuyễn các thao tác
lập luận như: giải thích, phân tíc, chứng minh, bác bỏ, so sánh…Văn nghị luận
có tính khoa học, đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp bên cạnh khả năng diễn
đạt, cảm thụ. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm,
tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận.
Như vậy, làm văn nghị luận là một cơ hội để học sinh bộc lộ rõ nét nhất, tập
trung nhất vốn hiểu biết về nhiều mặt cùng những phẩm chất và năng lực của
mình, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, năng lực hoạt động ngôn ngữ.
Dựa vào phạm vi vấn đề được bàn bạc trong bài văn, có thể chia văn nghị
luận thành hai dạng: Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội.
1.2. Nghị luận xã hội.
Nghị luận xã hội là dạng bài văn nghị luận dùng lí lẽ, phán đoán, chứng
cứ để bàn luận về một vấn đề xã hội: chính trị, xã hội, triết học, đạo đức, đời
sống... nhằm thể hiện quan điểm tư tưởng, lập trường của người viết. Vấn đề
được nêu ra như một câu hỏi cần được giải đáp, làm sáng tỏ.
Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia,
để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin
đúng cho bài làm, tránh sai lạc trong trong quá trình làm bài. Nhận dạng đề là
khâu mở đường, xác định hướng đi của bài văn. Nếu như người viết xác định
đúng yêu cầu của đề thì sẽ có hướng viết đúng đáp ứng yêu cầu của đề văn còn
nếu như đã xác định đề nhầm ngay từ đầu thì giống như một người đi nhầm
đường lạc lối, không thể đến được cái đích cần tới, và toàn bộ giá trị của bài văn
coi như bằng không.
2.1.1. Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng đạo đức, lối sống, quan niệm của con người. Vấn đề tư tưởng đạo lí
thường được nêu lên trong các ý kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân, hay nhà
thơ, nhà văn, hoặc được nêu ra ở tục ngữ, ca dao….
Đề tài được đưa ra trong đề là những vấn đề về tư tưởng, đạo lí vô cùng
phong phú. Các vấn đề tiêu biểu thường gặp là :
- Nhận thức: Lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập, ý chí, nghị lực…
- Tâm hồn, tích cách: Lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao
dung, tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn,
thói ba hoa, ích kỉ, vụ lợi…
- Quan hệ gia đình: Tình mẫu tử, tình anh em, tình cảm gia đình…
- Quan hệ xã hội: Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…
- Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống.
Học sinh có thể nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhận
thấy đề bài yêu cầu bàn luận:
- Về một nhận định, một câu tục ngữ, tục ngữ hay một câu châm ngôn,
danh ngôn hoặc một câu thơ mang ý nghĩa triết lí.
- Về một mẫu truyện ngắn, một bài thơ ngắn mang tính triết lí.
Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt trong
dấu ngoặc kép.
8
đạo đức giả, hiện tượng mê muội thần tượng.... …). Đó có thể là một hiện tượng
tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê. Từ đó làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu
đúng, hiểu sâu, để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện tượng đó.
Học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống nhờ vào
đối tượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài. Đối tượng được
đề cập không phải là một câu nói nào đó mà là một vấn đề đang xảy ra trong
cuộc sống hiện tại. Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như: hiện
tượng, vấn đề, vấn nạn…. nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định được
dạng đề.
Ví dụ:
1. Hiện nay ở nước ta, có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em
cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình
thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh,
tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về hiện tượng đó (khoảng 600 chữ)
2. Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua
biên giới đang diễn ra nhức nhối hiện nay.
3. Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình
về hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra ở nước ta hiện nay.
4. Suy nghĩ của anh (chị) về phong trào “Góp đá xây Trường Sa” do
Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ phát động
đang diễn ra sôi nổi trên cả nước.
5. Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai
nạn giao thông.
6. Từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh
(chị) hãy phát biểu suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình.
Tuy nhiên với một số đề thì vấn đề lại không hoàn toàn đơn giản như vậy.
Có những đề có sự giao thoa giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghị luận
về một hiện tượng đời sống.
Ví dụ: Nhà hoạt động xã hội Martin Luther King từng nói: “Trong thế
Ví dụ 1: Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi nói: "Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường.
Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương
hướng thì không có cuộc sống”. Từ câu nói trên anh (chị) suy nghĩ gì về vai trò
của lý tưởng trong cuộc sống con người.
Để làm tốt đề này, học sinh cần hiểu đúng nghĩa của từ “lý tưởng” mới có
thể giải thích, phân tích, chứng minh đúng hướng. Theo Từ điển Tiếng Việt, “lý
tưởng” được hiểu là:
- Lý tưởng: điều tốt đẹp xuất hiện trong tâm lí con người, do con người
tưởng tượng, mong muốn.
- Lý tưởng: khái niệm diễn tả một vẻ đẹp tuyệt vời, một hình ảnh hoàn
hảo (người yêu lý tưởng, chỗ ở lý tưởng…)
- Lý tưởng sống: quan niệm về lối sống tốt đẹp, toàn thiện mà con người
ước mơ, khát khao kiếm tìm, xây dựng, nỗ lực phấn đấu để đạt tới. (Lý tưởng
sống của tuổi trẻ)
Ví dụ 2: Anh (chị) hãy viết bài văn nghị luận bàn về lòng vị tha trong
cuộc sống.
Đối với đề bài này, học sinh thường nhầm lẫn “vị tha” là “tha thứ”, khi
viết bài chỉ bàn về một vấn đề là phải tha thứ cho người khác. Cách hiểu này chỉ
đúng một phần, vì “vị tha” có nghĩa là vì người khác, không vị kỉ, không ích kỉ
vì mình.
Giáo viên có thể liên hệ thêm cho học sinh hiểu nghĩa của từ “vị tha” một
cách hứng thú, bằng cách ôn lại kiến thức đã học.
11
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
đến vấn đề bàn luận;
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí.
+ Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và
yếu tố biểu cảm nhưng phải phù hợp và có chừng mực.
(SGK Ngữ văn 12 Tập 1, NXB Giáo dục, trang
21)
Tôi xin triển khai cụ thể hơn về cách thiết lập luận điểm trong một bài
nghị luận về một tư tưởng đạo lí (các luận điểm trong phần thân bài) để học sinh
dễ nắm bắt hơn.
- Luận điểm 1: Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận.
12
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
Cần giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lí; giải thích các từ ngữ, thuật
ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa chung của tư
tưởng, đạo lí.
Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng trích dẫn một câu tục ngữ, một câu danh
ngôn hay một nhận định, người viết cần lần lượt giải thích, làm rõ nghĩa của vấn
đề theo cách đi từ khái niệm, ý nghĩa của các từ ngữ, hình ảnh đến các vế câu và
cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn; rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng,
đạo lí; quan điểm của tác giả qua câu nói.
- Luận điểm 2: Bàn luận, mở rộng vấn đề.
+ Luận cứ 1: Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lí
(thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để
chứng minh. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lí đối với
đời sống xã hội).
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
- Luận điểm 3: Nêu hậu quả mà hiện tượng đó gây ra, thực tế vấn đề
đang diễn ra như thế nào, có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống, thái độ của xã
hội đối với vấn đề.
Chú ý liên hệ với thực tế địa phương để đưa ra những dẫn chứng sắc bén,
thuyết phục từ đó làm nổi bật tính cấp thiết phải giải quyết vấn đề.
- Luận điểm 4: Lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống, đưa ra
các nguyên nhân nảy sinh vấn đề, các nguyên nhân từ chủ quan, khách quan, do
tự nhiên, do con người.
- Luận điểm 5: Đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống (từ
nguyên nhân nảy sinh vấn đề để đề xuất phương hướng giải quyết trước mắt, lâu
dài. Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp
với những lực lượng nào).
Để làm tốt kiểu bài này, học sinh cần phải hiểu hiện tượng đời sống được
đưa ra nghị luận có thể có ý nghĩa tích cực cũng có thể là tiêu cực, có hiện tượng
vừa tích cực vừa tiêu cực… Do vậy, cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề tìm ý
cho hợp lý, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích cực hay
tiêu cực.
2.4. Kĩ năng lập dàn ý.
Sau khi đã huy động kiến thức cần thiết cũng như đã tìm được các ý cho
bài viết, học sinh cần phải sắp xếp các ý theo một hệ thống nhất định, đảm bảo
yêu cầu mà đề đặt ra.
Lập dàn ý giúp học sinh viết đúng trọng tâm, tránh tình trạng lạc đề, lặp ý,
tránh việc bỏ sót ý hoặc triển khai không cân xứng. lập dàn ý giúp người viết
phân phối thời gian hợp lý cho từng phần, không bị rơi vào tình trạng “đầu voi,
đuôi chuột” như khá nhiều bài viết thường gặp. Điều quan trọng hơn là viết bài
C. Kết bài:
Đánh giá chung về tư tưởng đạo lý cần nghị luận.
Ví dụ minh họa.
Đề 1:
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của
Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì
lòng người ngại núi e sông”.
A. Mở bài:
- Nêu vấn đề cần nghị luận.
- Trích dẫn đề bài.
B. Thân bài:
1. Giải thích câu nói:
- Nghĩa tường minh: Trước đây, giao thông chưa thuận tiện, muốn đến
nơi nào đó phải trèo đèo lội suối rất vất vả. Những cuộc hành trình dài thường
khiến người ta mệt mỏi, sợ hãi, không dám đến đích cần tới.
- Nghĩa hàm ẩn: Đường đi còn có nghĩa là đường đời, cuộc sống con
người; Sông, núi là hình ảnh ẩn dụ cho những khó khăn thử thách.
- Ý cả câu: Mọi khó khăn thử thách đều có thể vượt qua nếu con người có
ý chí và nghị lực.
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề.
- Cuộc sống luôn chứa đựng muôn vàn khó khăn, trắc trở. Vượt qua
những khó khăn trắc trở đó, con người sẽ thành công.
Dẫn chứng: Mạc Đĩnh Chi phải học dưới ánh đèn đom đóm mà đỗ đạt
thành công.
Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí từ một cậu bé tật nguyền viết bằng đôi chân mà
trưởng thành.
Nick Vujicick, chàng trai khuyết tật bẩm sinh, không có cả tay và chân
nhưng anh không hề nản chí, với sự nỗ lực vượt bậc, anh đã vượt lên số phận,
vượt lên chính mình để trở thành một diễn viên xuất sắc, một nhà diễn thuyết nổi
tiếng, anh đã truyền lửa sống cho biết bao người đặc biệt là thế hệ thanh niên.
bền; Đào núi và lấp biển; Quyết chí ắt làm nên.”
C. Kết bài:
Khẳng định tính đúng đắn của tư tưởng đạo lý. Câu nói có ý nghĩa vô
cùng lớn lao đối với thế hệ trẻ ngày hôm nay và luôn đúng trong mọi thời đại.
Đề 2:
Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của bài thơ sau:
Ví không có cảnh đông tàn
Thì không có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Tự khuyên mình – Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)
A. Mở bài:
- Nêu vấn đề cần nghị luận
- Trích dẫn đề bài.
B. Thân bài:
1. Giải thích ý nghĩa của bài thơ.
- Bài thơ đề cập đến hiện tượng tự nhiên: Nếu không có cảnh mùa đông
tàn thì cũng không có được cảnh huy hoàng của mùa xuân. Đông qua rồi mới
đến xuân, đó là qui luật tất yếu của tự nhiên.
- Từ qui luật tự nhiên, bài thơ liên tưởng đến con người: Trong khó khăn
gian khổ, nếu con người chịu đựng được, vượt qua được những khó khăn thử
thách thì sẽ đến được với cảnh huy hoàng của cuộc sống.
16
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
2.4.2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Đề xuất dàn ý cho bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
A. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề cần nghị luận (nêu hiện tượng được đặt ra ở đề bài)
B. Thân bài:
1. Giải thích hiện tượng (nếu có).
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề
- Nêu thực trạng của hiện tượng.
- Hậu quả của hiện tượng ảnh hưởng đến đời sống xã hội, con người.
- Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó.
17
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
+ Nguyên nhân chủ quan.
+ Nguyên nhân khách quan.
- Giải pháp cụ thể để khắc phục những hậu quả mà hiện tượng gây ra cho
xã hội và con nghười.
3. Rút ra bài học cho bản thân
(Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó)
C. Kết bài:
Đánh giá chung về hiện tượng.
Ví dụ minh họa:
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay.
A. Mở bài:
Hiện tượng lạnh lùng thiếu quan tâm lẫn nhau trong quan hệ giữa người
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
- Đời sống tâm hồn con người trở nên nghèo nàn, vô trách nhiệm.
- Xã hội nhức nhối vì những bất công, ngang trái đang diễn ra trước mắt.
5. Giải pháp:
- Tích cực tham gia ngăn chặn và tuyên truyền giáo dục mọi người về một
lối sống đẹp, biết quan tâm chia sẻ lẫn nhau.
- Mỗi người cần tự rèn luyện để có lẽ sống đẹp, cao cả, nhân ái, vị tha.
- Cần tham gia những phong trào thanh niên với mục đích giúp đỡ, quan
tâm đến những số phận bất hạnh.
C. Kết bài :
Lên án nghiêm khắc trước những suy nghĩ và hành động vô cảm của con
người trước những vấn đề của cuộc sống đang diễn ra…
3. Kĩ năng tìm dẫn chứng.
Bài làm thiếu dẫn chứng cụ thể cũng là một thiếu sót thường xuyên xảy ra
trong các bài làm văn nghị luận xã hội của các em học sinh. Để chứng minh một
cách thuyết phục cho các luận điểm của một bài văn nghị luận xã hội, người viết
phải sử dụng các dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu về những người thật, việc thật. Đây
là một công việc vô cùng khó khăn đối với học sinh, bởi vì vốn hiểu biết về thực
tế xã hội của các em còn quá ít.
Để có thể có những hiểu biết nhất định về thời sự, về các vấn đề chính trị
xã hội nóng bỏng của đất nước, đặc biệt là các vấn đề đang được đưa ra bàn
luận, được dư luận xã hội quan tâm, từ đó tích lũy thành những dẫn chứng cụ thể
để đưa vào bài làm của mình, học sinh cần tích lũy từ nhiều kênh thông tin khác
nhau như: sách vở, báo chí, truyền hình, internet, đời sống thực tế.… như thông
tin về các vụ tai nạn giao thông, thống kê số người tử vong vì tai nạn giao thông
chí” đam mê âm nhạc. Chính việc đó đã giúp anh trở thành một nhạc sĩ sáng tác
và hát Rock thành công trong suốt 20 năm làm nghề.
Ở tuổi ngoài 40, khi bị mắc bệnh ung thư trực tràng anh vẫn say mê hát và
cống hiến. Có lẽ, không ít người đã phải rơi nước mắt cảm phục khi nhìn thấy
hình ảnh vị nhạc sĩ quá cố mũi đeo ống thở ô-xi, tay chằng chịt những dây dẫn
nước; nằm điều trị tại bệnh viện mà anh vẫn nở một nụ cười thật tươi, giơ tay
chào khán giả. Định mệnh cuộc đời đã không cho con người nghị lực ấy có cơ
hội vượt qua cửa tử thần một lần nữa. Nhưng những gì anh để lại cho đời vẫn
vững chãi như “ Bức Tường” anh đã đặt tên.
3. Khi học đoạn trích “Ông già và biển cả” của nhà văn Hê-minh-uê, chú
ý câu nói của ông: “Con người có thể bị hủy diệt, nhưng không thể bị đánh bại”.
Trong quá trình đọc sách báo, nghe tin tức trên các phương tiện thông tin
đại chúng, học sinh cần ghi lại thông tin về những nhân vật tiêu biểu, những sự
kiện, những con số chính xác về một sự việc nào đó để có thể huy động làm dẫn
chứng cho bài viết của mình.
Dĩ nhiên là các tư liệu về đời sống thực tế phải được các em tích lũy dần
dần trong cuộc sống của mình. Điều đặc biệt chú ý là học sinh phải nhớ được tên
cụ thể của con người hay hiện tượng đưa ra làm dẫn chứng, tránh việc đưa dẫn
chứng chung chung kiểu như: có những người, có bạn học sinh, ở một trường
học nọ.…
4. Kĩ năng diễn đạt.
Trong quá trình viết bài làm văn nghị luận xã hội, có một yêu câu vô cùng
quan trọng không thể bỏ qua là kĩ năng diễn đạt. Học sinh cần rèn luyện kĩ năng
diễn đạt tốt bằng cách vận dụng kết hợp các thao tác lập luận (thao tác lập luận
so sánh, giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ) và các phương
thức biểu đạt (thuyết minh, biểu cảm, nghị luận) đã học. Với những học sinh có
khả năng diễn đạt tốt và văn viết có cảm xúc, chắc chắn bài viết của các em sẽ
đạt được kết quả cao nhất nếu có sự chuẩn bị tốt theo các hướng dẫn ở phần này.
Trong quá trình dạy, trong các tiết trả bài, giáo viên cần quan tâm nhiều
đến việc rèn luyện các thao tác lập luận cho học sinh thông qua các dẫn chứng
Lớp 12B1
(48 HS)
Lớp 12B2
(45 HS)
Rất hứng
thú
0/48
0/45
10/48
8/45
Hứng thú
10/48
10/45
18/48
22/45
Bình
thường
(48 HS)
Lớp 12B2
(45 HS)
Lớp 12B1
(48 HS)
Lớp 12B2
(45 HS)
Giỏi
0/48
0/45
5/48
3/45
Khá
10/48
8/48
16/48
14/45
- Sau khi áp dụng đề tài này, học sinh hứng thú hơn khi làm văn nghị luận
xã hội, nắm vững hơn các kĩ năng làm văn, được tiếp cận với nhiều dạng đề, rèn
luyện được nhiều thao tác nghị luận.
- Nghị luận xã hội là dạng đề mở, kích thích tư duy sáng tạo của học sinh,
các em quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội.
- Không khí học tập trong các giờ ôn tập nghiêm túc và có tinh thần tự
giác cao hơn. Hoàn thành bài tập ở nhà khi giáo viên yêu cầu.
Từ kết quả trên, để học sinh hứng thú học tập trong quá trình ôn tập giáo
viên cần: kiên trì, nhẫn nại hướng dẫn học sinh; khuyến khích những ý tưởng
sáng tạo của các em; giúp học sinh phát triển khả năng biện luận, phản biện
trước vấn đề đặt ra; tạo ra một môi trường học tập để các em mạnh dạn trình bày
quan điểm, suy nghĩ riêng của mình trước những vấn đề của cuộc sống. Từ đó
giúp các em đến sự phát triển toàn diện, hướng đến CHÂN – THIỆN – MĨ.
21
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
C. KẾT LUẬN
Chương trình giáo dục THPT ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi
dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Theo đó, giáo viên cần phải đổi mới phương
pháp dạy học chú trọng việc giúp học sinh học tập để đáp ứng yêu cầu của cuộc
sống hiện tại và tương lai.
Bùi Thị Thủy
22
Sáng kiến kinh nghiệm
Bùi Thị Thuỷ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập II,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
2. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập I,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.
3. Nguyễn Duy Kha (Chủ biên), Hướng dẫn ôn tập kì thi THPT Quốc gia
năm học 2015-2016 môn Ngữ Văn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016
4. Phan Danh Hiếu, Cẩm nang luyện thi đại học môn Ngữ văn, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2014.
5. Phan Quốc Trung, Những bài làm văn nghị luận xã hội chọn lọc, NXB
Đại học quốc gia Hà Nội.
23