SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀO BÀI
“NGƢỜI TRONG BAO” CỦA TÁC GIẢ SÊ- KHỐP
NGỮ VĂN 11 – BAN CƠ BẢN
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay dạy văn trong nhà trƣờng phổ thông đang là một thử thách lớn với
mỗi giáo viên. Dạy thế nào cho hay, để đạt đƣợc hiệu quả cao, tạo sự hứng thú,
say mê cho học sinh quả thực là cả một vấn đề lớn, đòi hỏi mỗi giáo viên dạy
văn phải không ngừng suy nghĩ, tìm tòi để có thể giúp học sinh không chỉ hiểu
đúng văn bản mà còn phải đam mê, yêu thích môn văn.
Trong một vài năm trở lai đây, các em học sinh dƣờng nhƣ đã “xem nhẹ”
việc học tập môn văn. Bởi vì trên thực tế, các em học văn thƣờng chỉ thi vào các
khối C và D, nhƣng những khối thi này có ít trƣờng tuyển sinh đặc biệt là khối
C. Nghề nghiệp cho môn văn không phong phú.Vì thế các em thƣờng ít chon
các môn khối C để thi. Mặt khác các em cũng cho rằng môn văn thƣờng dài
dòng, phải học thuộc lòng, phải ghi nhớ nhiều nên các em càng ngại với môn
văn hơn.
Hơn thế nữa là trong các kì thi THPT quốc gia, phần văn học nƣớc ngoài
không đƣợc đƣa vào đề thi, cho nên các em học sinh càng không chú ý nhiều
đến phần văn học nƣớc ngoài. Nhƣng tôi nghĩ rằng các tác phẩm văn học nƣớc
ngoài đƣợc đƣa vào chƣơng trình THPT đều là những tác phẩm tiêu biểu cho
kho tàng văn học nƣớc ngoài, là tinh hoa văn hóa nhân loại. Dạy văn học nƣớc
ngoài cho học sinh không chỉ giúp các em cảm thụ đƣợc thế giới tâm hồn phong
phú của con ngƣời trong văn học mà còn giúp các em tiếp cận đƣợc vốn văn hóa
phong phú của nhân loại. Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có một nền văn
hóa riêng và khi chúng ta đƣợc tiếp xúc , đƣợc tìm hiểu về văn học của các nƣớc
sẽ giúp cho đời sống tâm hồn trở nên phong phú hơn và vốn tri trức đƣợc rộng
mở hơn. Đồng thời nâng cao khả năng tự tin khi bƣớc vào thời đại hội nhập
mang tính toàn cầu mà vẫn giữ đƣợc bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam, vẫn
các đồ dùng thí nghiệm trực quan... . Tuy nhiên, phƣơng tiện dạy học không chỉ
dừng ở mức minh họa nội dung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là
một bộ phận hữu cơ của cả phƣơng pháp và nội dung dạy học. Do yêu cầu tăng
hoạt động thực hành, nên khi xây xây dựng chƣơng trình cần đặt đúng vị trí của
thiết bị dạy học bộ môn. Có thể nói, thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu
đƣợc cho việc triển khai chƣơng trình sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho
việc triển khai đổi mới phƣơng pháp dạy học hƣớng vào hoạt động tích cực,chủ
động của học sinh. Đáp ứng yêu cầu này, phƣơng tiện, thiết bị dạy học phải tạo
điều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt
động nhóm.
Mặt khác, nƣớc ta đang bƣớc vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng
của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực. Trong giáo dục
đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa phƣơng tiện, thiết bị dạy
học góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin
sẽ tạo ra đƣợc những ƣu thế nhƣ: giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng
đƣợc nhiều lần, tạo ra khả năng để giáo viên trình bày bài giảng sinh động hơn,
dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện
đại, học sinh không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy
nghĩ. Có thể thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin nhƣ một thiết bị dạy học
không những không thủ tiêu vai trò của ngƣời thầy mà trái lại còn phát huy hiệu
quả hoạt động của ngƣời thầy giáo trong quá trình dạy học
Tôi đã làm quen với công nghệ thông tin nhiều năm và rất trăn trở trong
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy. Vài năm trở lại đây, tôi
đã nhiều lần sử dụng công nghệ thông tin nhƣ là một thiết bị dạy học có hiệu
quả trong các giờ dạy. Tôi thấy rằng, việc sử dụng phƣơng tiện điện tử kết hợp
với các thiết bị dạy học khác nhƣ tranh ảnh, bảng phụ, các đoạn video clip... vào
2
việc giảng dạy là rất hiệu quả. Tôi đã thực hiện việc này nhiều lần, ở nhiều lớp
trong chƣơng trình Ngữ Văn 11- ban cơ bản.
- Để đạt đƣợc kết quả nghiên cứu, tôi đã vận dụng tổng hợp các phƣơng pháp :
quan sát, tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, thực nghiệm, xây
dựng kế hoạch bài học, giảng dạy cụ thể trong một giờ đọc văn “Ngƣời trong
bao” của tác giả Sê- khốp sau đó rút kinh nghiệm để triển khai đề này.
3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
a. Định nghĩa chung về phƣơng pháp.
- Phƣơng pháp : Theo tiếng Hilạp là " Mê tốt" có nghĩa là con đường, cách
thức, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ
nhất định.( phƣơng pháp ở đây gắn liền với việc làm) ( theo Phƣơng pháp dạy
học văn )
- Hêghen thì định nghĩa: Phương pháp là ý thức về hình thức của tự sự vận
động bên trong của nội dung, nội dung nào phương pháp ấy( phƣơng pháp gắn
liền với đối tƣợng) ( theo Hêghen bàn về văn học nghệ thuật).
b. Phƣơng pháp dạy học.
- Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: “phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức và thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
- Theo giáo sƣ Nguyễn Ngọc Khoa thì: phương pháp dạy học là cách thức
làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của
thầy nhằm làm cho trò tự giác tích cực tự học nhằm đạt tới mục đích dạy học.
-Phƣơng pháp dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinh
trong quá trình dạy học. Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những
“đắt” hoặc mang một ẩn ý sâu xa nào đó thì giáo viên yêu cầu học sinh phân tích
hoặc bình.
+ Sau khi học sinh phân tích hoặc bình xong thì giáo viên hỏi ý kiến của
những học sinh khác trong lớp và cuối cùng giáo viên sẽ cùng với học sinh đi
đến những đánh giá chung nhất.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƢỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
- Một trong những trọng tâm của đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa
giáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phƣơng pháp dạy học, thực hiện dạy
học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức
và hƣớng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát triển tƣ duy độc lập, sáng tạo
góp phần hình thành phƣơng pháp và nhu cầu, khả năng tự học, bồi dƣỡng hứng
thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập. Tiếp tục tận dụng các ƣu
điểm của phƣơng pháp truyền thống và dần dần làm quen với những phƣơng
pháp mới.
- Trƣớc đây khi chƣa sử dụng kết hợp các phƣơng pháp dạy học tích cực
cùng với việc sử dụng các phƣơng tiện dạy học, trong mỗi tiết dạy đọc văn, tôi
vẫn thƣờng xuyên sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau đặc biệt là phƣơng
pháp đàm thoại phát vấn, nêu vấn đề để học sinh trả lời. Song tôi vẫn nhận thấy
kết quả đạt đƣợc chƣa cao bởi chƣa thực sự phát huy đƣợc tính tích cực của học
sinh, kết của giờ dạy đƣợc phản ánh nhƣ sau :
+ 65 % học sinh nắm đƣợc nội dung ngay tại lớp và có thể làm đúng bài
tập, biết vận dụng vào các bài tập khác.
+ 35 % hiểu rất lơ mơ về bài học và không thể làm đƣợc các bài tập ứng
6
dụng.
+ 25 % học sinh tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài
+ 10 % học sinh khi giáo viên gọi lên mới trả lời và thƣờng trả lời chƣa đạt
hiểu, nắm bắt. Đối tƣợng tiếp nhận bài học lại là học sinh trƣờng trung du, điều
kiện kinh tế còn khó khăn nên nhiều em chƣa thực sự chú tâm vào học hành, còn
hạn chế nhiều về năng lực cảm thụ, lỗ hổng kiến thức còn nhiều nên không phải
em nào cũng yêu thích học văn và hơn nữa không phải em nào cũng có khao
khát tìm kiếm khám phá về bài học.
2.3. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN BÀI DẠY: NGƢỜI TRONG BAO- TÁC GIẢ SÊ- KHỐP
- Mức độ cần đạt của bài học này là:
7
+Nắm đƣợc đặc điểm tính cách và ý nghĩa xã hội của hình tƣợng nhân vật
Bê-li-cốp.
+ Nhận biết đƣợc bút pháp nghệ thuật sắc sảo trong việc xây dựng hình
tƣợng điển hình của Sê-khốp.
- Về mặt kiến thức của bài: giúp học sinh nhận thức đƣợc
+ Bi kịch “ngƣời trong bao” Bê-li-cốp; tính cách khái quát và ý nghĩa xã
hội của hình tƣợng này.
+ Tính cách nhân vật điển hình trong truyện ngắn Sê-khốp.
- Về kĩ năng giúp học sinh có thể:
+ Đọc - hiểu văn bản theo đặc trƣng thể loại.
+ Phân tích tâm lí, tính cách nhân vật
NỘI DUNG CỤ THỂ
I.TÌM HIỂU PHẦN TIỂU DẪN – GIỚI THIỆU CHUNG
Trƣớc khi vào bài học, để tạo sự hứng thú và có cái nhìn khái quát về văn
học Nga, giáo viên có thể trình chiếu và giới thiệu những nét khái quát về văn
học Nga và những tác giả văn học nổi tiếng của nƣớc Nga, đặc biệt là những tác
giả đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình phổ thông.
1. Tìm hiểu về tác giả Sê-khốp:
- Để tạo tâm thế cho học sinh khi tìm hiểu về tác giả Sê-khốp, giáo viên có
và yêu cầu trả lời câu hỏi: Nêu hoàn cảnh và mục đích sáng tác truyện ngắn
Ngƣời trong bao ?
- Học sinh sau khi đọc phần tiểu dẫn sẽ suy nghĩ và trả lời câu hỏi
+ Truyện ngắn Người trong bao được Sê – khốp sáng tác năm 1898, khi
nhà văn dưỡng bệnh ở thành phố I – an – ta, trên bán đảo Crưm, Biển đen. Lúc
này xã hội Nga đang thở trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề. Cuối
thế kỉ XIX, môi trường xã hội ấy đẻ ra lắm sản phẩm người kì quái.
+ Câu chuyện cười ra nước mắt về cuộc đời một con người mắc chứng
bệnh sợ hãi, bạc nhược đến thảm hại. Đó là lối sống tầm thường, hủ lậu, hèn
nhát, máy móc, giáo điều đến đê tiện. Lối sống ấy đã đầu độc tâm hồn con
người trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
+ Viết truyện Người trong bao, Sê – khốp đặt ra vấn đề hãy tìm mọi cách
để thoát ra khỏi cuộc sống, lối sống “trong bao”, tự mình làm khổ mình để vươn
tới cuộc sống lành mạnh có ý nghĩa cao đẹp.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc và tóm tắt tác phẩm. Giáo viên hƣớng dẫn
cách đọc cho học sinh và gọi một vài học sinh lần lƣợc đọc từng phần của văn
bản trong sách giáo khoa, sau đó yêu cầu học sinh nêu các sự việc tình tiết chính
trong tác phẩm.
- Học sinh tóm tắt sơ lƣợc các sự việc, tình tiết chính của truyện. Giáo viên
ghi lại sơ đồ:
Cuộc nghỉ đêm sau
chuyến đi săn muộn
tại làng Mi-rô-nô- xít
– xkôi – ê của bác sĩ
I-Van I-va – nứt và
Bu – rơ – kin, Bu – rơ
– kin kể chuyển về
Bê – li – cốp.
Chuyện về Bê – li – cốp
Chân dung – thói quen
- Luôn đi giày cao su, cầm
ô, mặc áo bành tô ấm cốt
bông, giấu mặt sau chiếc
cổ áo bành tô bẻ đứng lên,
đeo kính râm, mặc áo bông
chần,lỗ tai nhét bông, luôn
kéo mui khi ngồi xe ngựa.
- Luôn ca ngợi quá khứ,
khen tiến Hi Lạp cổ “thật
là tuyệt vời, êm tai”.
- Luôn giấu ý nghĩ vào
bao, sống theo thông tƣ,
chỉ thị, những bài báo cấm
đoán.
- Luôn duy trì mối quan hệ
tốt với các bạn đồng
nghiệp.
- Ở nhà cũng mặc áo khoác
ngoài, đội mũ, đóng cửa,
cài then.
- Buồng ngủ chật nhƣ cái
hộp, luôn kéo chăn trùm
đầu kín mít khi đi ngủ dù
trời ngột ngạt nóng bức.
Nhân vật Bê–li–cốp
Mối quan hệ với đồng nghiệp
và mọi ngƣời
- Bê–li–cốp và mọi ngƣời trong
giƣờng nằm
trong
màn,
đắp chăn kín
mít và không
bao giờ dậy
nữa,
không
nói thêm điều
gì.
- Năm trong
quan tài, trông
hắn hiền lành,
dễ chịu và
thậm chí còn
có vẻ tƣơi tỉnh
nữa. Thế là
hắn đã đạt
đƣợc mục đích
của cuộc đời.
-Trên cơ sở của việc thảo luận nhóm, giáo viên hƣớng dẫn học sinh thảo
luận, tìm hiểu tính cách, ý nghĩa của hình tƣợng nhân vật Bê-li-cốp.
* Tìm hiểu về chân dung Bê-li-cốp:
- Giáo viên hỏi: Ấn tƣợng của anh/chị khi bắt gặp bức chân dung, thói quen
sinh hoạt và lối sống của Bê-li-cốp? Những chi tiết nào đặc biệt đƣợc nhà văn
chú ý khi khắc họa nhân vật này?
- Học sinh phát biểu ấn tƣợng về nhân vật:
+ Đây là một bức chân dung dị thường. Chúng ta có cảm giác không nhìn
rõ thực ra Bê-li-cốp là như thế nào bởi lẽ hắn lọt thỏm, chìm lấp đi trong những
+ Hắn nhút nhát,ghê sợ hiện tại nhưng lại ca ngợi tôn sùng quá khứ:say
mê và ca ngợi tiếng Hi lạp
+ Máy móc,giáo điều,rập khuôn:phản ứng việc đi xe đạp của 2 chị em Varen-ca,thói quen trong quan hệ đồng nghiệp
+ Cô độc,luôn lo lắng và sợ hãi
+ Luôn luôn thoả mãn và hài lòng với lối sống cổ lỗ,hủ lậu,kì quái của
mình
Hèn nhát,cô độc,máy móc,giáo điều,thu mình trong bao và cảm thấy an
tâm sung sướng ,mãn nguyện
- Giáo viên cần làm rõ để học sinh có thể nhận ra:
+ Lối sống của Bê-li-cốp đã ảnh hưởng dai dẳng,mạnh mẽ đến lối sống và
tinh thần của mọi người
+Bê-li-cốp là điển hình cho một kiểu người,một hiện tượng xã hội đã và
đang tồn tại trong cuộc sống của một bộ phận tri thức Nga cuối thế kỉ XIX.Hắn
không phải là một cá nhân quái đản mà là con đẻ của chế độ phong kiến chuyên
11
chế đanh phát triển mạnh trên con đường tư bản hóa ở nước Nga cuối thế kỉ
XIX
+ Một tính cách điển hình,một nhân vật độc đáo,một sản phẩm nghệ thuật
của thiên tài Sê-khốp
* Tìm hiểu về cuộc nói chuyện giữa Bê-li-cốp và Cô-va-len-cô
- Để giúp học sinh tìm hiểu về cuộc nói chuyện giữa Bê-li-cốp và Cô-valen-cô, giáo viên có thể nêu vấn đề: Bu-rơ-kin nhận xét: “Cả ý nghĩ của mình,
Bê-li-cốp cũng cố giấu vào bao”, Nhƣng trong phần sau của truyện, khi đến gặp
Cô-va-len-cô, y lại nói: “Tôi tìm đến anh để giãi bày tâm sự”. Phải chăng cuối
cùng Bê-li-cốp đã thay đổi?
- Để học sinh có thể trả lời câu hỏi này, giáo viên có thể gợi mở để các em
phát biểu ý kiến:
+ Những biểu hiện của việc “giấu ý nghĩ vào bao” ở Bê-li-cốp? (gợi ý: hắn
không nói điều mình nghĩ, thói quen giao tiếp rất kì cục: đến nhà đồng nghiệp
hình ảnh của một vị bác sĩ nào suốt một tháng trời Bê-li-cốp nằm trên giƣờng
chờ chết.).
+ Vậy phải chăng thủ phạm chính là tiếng cƣời “ha-ha-ha” vang lên không
đúng lúc của Va-ren-ca?(gợi ý: Ngƣời kể chuyện đã đƣa ra lời bình “Cái tiếng
cƣời âm vang, lảnh lói “ha-ha-ha”đó đã chấm dứt tất cả: chấm dứt chuyện cƣới
xin, chấm dứt cả cuộc đời Bê-li-cốp”).
- Từ hƣớng dẫn của giáo viên, học sinh có thể tìm ra đƣợc câu trả lời đúng
nhất: Chính là tiếng cười “ha-ha-ha” vang lên không đúng lúc của Va-ren-ca đã
kết thúc cuộc đời của Bê-li-cốp. Bởi tiếng cười của Va-ren-ca đã “tố cáo” với
Bê-li-cốp rằng những người ở chân cầu thang đã biết tất cả. Điều mà Bê-li-cốp
lo ngại đã thực sự xảy ra: có thể có người đã nghe được câu chuyện này. Và một
loạt “phản ứng” dây chuyền tiếp diễn: hắn sợ mình bị biến thành trò cười cho
thiên hạ, cả thành phố sẽ biết, chuyện sẽ đến tai ngài hiệu trưởng, ngài thanh
tra, sẽ có tranh châm biếm khác, sẽ có chuyện người ta ép mình về hưu,…Và có
trời mới biết hắn còn tưởng tượng thấy nhiều điều có thể xảy ra khác khi nằm
trùm chăn kín mít trên giường để gặm nhấm nỗi sợ hãi, hoảng hốt. Như thế cuối
cùng Bê-li-cốp đã chết vì nỗi sợ hãi bủa vây và tiếng cười kia là yếu tố đẩy nỗi
sợ hãi thường trực trong hắn lên đến đỉnh điểm.
- Giáo viên hƣớng dẫn học sinh đánh giá chi tiết nghệ thuật: Chi tiết cái
chết của Bê-li-cốp có ý nghĩa nhƣ thế nào đối với nghệ thuật xây dựng nhân vật
và ý đồ tƣ tƣởng của tác giả ?
- Học sinh suy nghĩ và trả lời:
+ Xét về logíc nghệ thuật:cái chết là một chi tiết quan trọng để đẩy tính
cách nhân vật lên cao bởi khi chết hắn vĩnh viễn được nằm trong cái bao mà
hắn từng khao khát. Vì thế, bị thần Chết mang đi, y lại thấy vui mừng. Đưa tiễn
y, đồng nghiệp lại như trút được gánh nặng, bỗng thấy “nhẹ nhàng, thoải mái”
hơn.
+ Những điều tưởng vô lí ấy hóa ra lại là một dụng ý nghệ thuật để nói tới
thuật
và hƣớng dẫn học sinh tìm ra giá trị tố cáo và sức mạnh phê phán của chi tiết
này.
- Học sinh tìm hiểu, suy ngẫm và trả lời: Chi tiết cái bao được miêu tả 12
lần. Hình ảnh cái bao là một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác
giả, gợi cho người đọc nhiều ý nghĩ:
+Nghĩa đen:Vật dùng để bao, gói, đựng đồ vật, có hình túi hoặc hình hộp,
là vật dụng quen dùng của Bê-li-cốp.
+Nghĩa bóng:Lối sống và tính cách của nhân vật Bê-li-cốp
+Nghĩa biểu tượng:Lối sống thu mình,hèn nhác, ích kỉ cá nhân,hủ lậu... đã
và đang tồn tại làm ảnh hưởng đến một bộ phận không nhỏ ở nước Ngagiá trị
phê phán
+Ý nghĩa phổ quát: Cả xã hội Nga thời điểm đó cũng là cái bao khổng lồ
trói buộc,ngăn chặn sự tự do của con ngườisức mạnh tố cáo
Cái bao là biểu tượng giàu ý nghĩa,là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả
- Giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với cuộc sống ngày nay và rút ra đƣợc
những bài học gì?
- Học sinh suy nghĩ, liên hệ với cuộc sống ngày nay và trả lời: Ngày nay,
chúng ta vẫn thấy xuất hiện người trong bao.Vẫn còn một số người thích sống
thu mình, ngại va chạm, không quan tâm đến xã hội bên ngoài. Chỉ khi nào mỗi
cá nhân ý thức được mục đích và cách sống của mình thống nhất với chuẩn mực
văn hóa và xã hội loài người trong sạch, lành mạnh, tự do thì lối sống người
trong bao mới triệt để chấm dứt.
3. Đánh giá những thành công về nghệ thuật của tác phẩm
- Giáo viên đặt ra câu hỏi: Theo em, truyện ngắn ngƣời trong bao có những
đặc sắc gì về mặt nghệ thuật?(Cách kể chuyện, chon ngôi kể, giọng kể, xây dựng
nhân vật, biểu tƣợng…).
- Học sinh tìm tòi, phát hiện những thành công về nghệ thuật của tác phẩm:
+ Ngôi kể: Truyện trước hết được kể bởi nhân vật người kể chuyện- tác giả
(một nhân vật ước lệ) đang kể với chúng ta về cuộc đi săn về muộn của hai nhân
trắc không lường được có thể xảy ra. Nhưng đây cũng là những hình ảnh, lời
nói có ý nghĩa biểu tượng: Cái bao – biểu tượng cho một kiểu người, một dạng
lối sống thu mình, ích kỉ, bảo thủ trì trệ. “Nhỡ có chuyện gì xảy ra thì sao” –
Biểu tượng của sự hèn nhát, bạc nhược, trốn tránh thực tế, luôn rúm ró trước
bất cứ điều gì.
+ Tác giả kết thúc truyện bằng cách phát biểu trực tiếp chủ đề qua một câu
cảm thán: “Không thể sống mãi như thế được !” gây ấn tượng mạnh mẽ như
một lời giục giã, hối thúc khẩn thiết đối với người đọc: Hãy thay đổi lối sống
trong bao để có cuộc sống lành mạnh, khỏe khoắn, có ý nghĩa !
III. PHẦN TỔNG KẾT BÀI HỌC
- Trƣớc khi vào phần tổng kết bài học, để tiết học thêm sôi nổi và học sinh
có thể khắc sâu kiến thức bài học, giáo viên không chỉ để học sinh chú ý vào
phần ghi nhớ trong sách giáo khoa mà còn để học sinh trao đổi, thảo luận một số
câu hỏi khác liên quan đến bài học nhƣ:
+ Tìm một vài thành ngữ, tục ngữ Việt Nam có nội dung gần gũi với “lối
15
sống trong bao”, với kiểu ngƣời nhƣ Bê-li-cốp.
+ Ngoài nhan đề “Ngƣời trong bao”, em có thể suy nghĩ, tìm tòi đặt một cái
tên khác cho tác phẩm mà không làm mất đi ý nghĩa tƣ tƣởng chủ đề của truyện?
+ Em có thể tƣởng tƣợng và viết ra một cái kết khác cho cho truyện ngắn
Ngƣời trong bao.
- Sau đó giáo viên nêu câu hỏi tổng kết : Em hãy nêu những nét khái quát
nhất về kiểu nhân vật “ngƣời trong bao”. Từ chân dung Bê-li-cốp, tác giả muốn
nhắn gửi điều gì đến ngƣời đọc?
- Sau khi tìm hiểu tác phẩm, học sinh sẽ tìm ra đƣợc câu trả lời: Người
trong bao tập trung phê phán lối sống dung tục, thấp hèn, mất nhân cách của
một bộ phận trong xã hội Nga cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ yếu là một bộ
phận trí thức tiểu tư sản. Sự trì trệ, thụ động, co mình thành một lối sống được
16
với các em để một số học sinh khá tiếp tục tìm tòi đi sâu tìm hiểu tác phẩm
truyện ngắn . Đồng thời tôi cũng khuyến khích các em đọc thêm một số truyện
ngắn hay khác của tác giả Sê- khốp nhƣ Khóm cúc bồn tử, Một chuyện tình
yêu… và của các tác giả nƣớc ngoài khác để có cái nhìn toàn diện hơn về thể
loại . Kết hợp trong những bài giảng về truyện ngắn , chúng tôi cũng nhấn mạnh
đến vai trò , tác dụng của văn học nói chung và của truyện ngắn nói riêng trong
việc hoàn thiện nhân cách và tâm hồn cho học sinh. Đó là mục đích mà ngƣời
thầy giáo dạy văn phải hƣớng tới .
Cụ thể.
Lớp
Học hứng thú
Hiểu bài
11C1
41/45 học sinh
45/45 học sinh = 100%
11C3
40/45 học sinh
45/45 học sinh = 100%
17,4 %
Điểm khá
Số
%
lƣợng
28
62,2%
29
64,4 %
30
65,2 %
Điểm trung bình
Số
%
lƣợng
11
24,5 %
11
24,5 %
8
17,4 %
-
Chất lƣợng môn học ở lớp đƣợc nâng lên, giảm thiểu tối đa thời gian học
sinh chỉ biết lắng nghe và ghi chép. Vì thế học sinh cũng có tâm thế thoải mái và
không còn ngại những giờ học văn. Các em còn đề nghị các tiết sau cô cũng làm
nhƣ vậy để các em dễ học hơn và đƣợc phát biểu những suy nghĩ, những quan
nhƣ sau:
- Kính mong Sở giáo dục đào tạo và nhà trƣờng tổ chức những buổi tọa
đàm hoặc báo cáo chuyên đề về phƣơng pháp giảng dạy các tác phẩm văn học
nƣớc ngoài. Nếu làm đƣợc điều này, giáo viên sẽ có điều kiện trao đổi, học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và cách giảng
dạy các tác phẩm văn học nƣớc ngoài.
- Nên đƣa các tác phẩm văn học nƣớc ngoài vào đề kiểm tra định kì và đề
thi THPT quốc gia. Có nhƣ vậy, các em học sinh mới chịu khó tìm tòi và tích
cực học tập hơn đối với các tác phẩm văn học nƣớc ngoài.
Tôi rất cảm ơn các đồng chí đã dành thời gian để đọc sáng kiến kinh
nghiệm này.Tôi nghĩ những hiểu biết và những kinh nghiệm của mình nhƣ một
giọt nƣớc giữa biển cả bao la, tôi rất mong đƣợc sự đóng góp ý kiến chân thành
và sự giúp đỡ của các đồng chí để đề tài của tôi đƣợc hoàn thiện hơn cũng nhƣ
hoàn thiện hơn về phƣơng pháp giảng dạy của mình.
Một lần nữa xin cảm ơn các đồng chí. Kính chúc các đồng chí sức khỏe và
hạnh phúc.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày19 tháng5năm2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
ngƣời khác.
Phạm Thị Ngọc
18
Tµi liÖu tham kh¶o
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 2 – Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1.
Phan Trọng Luận – Tổng chủ biên
1.2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 3
1.3. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................... 3
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM .............................................. 4
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm ................................................ 4
2.2. Thực trạng vấn đề trƣớc khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm .................. 6
2.3. Sáng kiến kinh nghiệm ............................................................................ 7
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trƣờng........................................................... 16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ......................................................................... 17
3.1.Kết luận......................................................................................................17
3.2. Kiến nghị.................................................................................................. 18
TƢ LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 19
MỤC LỤC ...................................................................................................... 20
20